Shiva Swarodaya

Śivasvarodaya là một bản văn Sanskrit thuộc truyền thống Shiva-tantra, được trình bày dưới hình thức đối thoại giữa Shiva và Parvati. Tác phẩm bàn về swara-yoga, tức khoa học quan sát dòng hơi thở trong mối liên hệ với các nadi, các nguyên tố, thời điểm hành động, điềm báo, sức khỏe và con đường giải thoát. Hiện chưa có cơ sở chắc chắn để xác định tác giả lịch sử hay niên đại chính xác của văn bản, nhưng đây rõ ràng là một tác phẩm Sanskrit tiền hiện đại đã được lưu truyền và in ấn từ thế kỷ 19 trở về trước.

Bản dịch tiếng Việt này được thực hiện chủ yếu từ bản Sanskrit theo văn bản Ambuda, với bản Anh ngữ Ambuda làm đối chiếu chính và bản dịch trên blog Shaktanand dùng như nguồn tham khảo phụ khi hữu ích. Bản dịch được thực hiện với GPT-5.4. Ở một vài chỗ văn bản Ambuda có lỗi OCR hoặc lệch mốc câu, nên bản dịch đã được hiệu chỉnh thận trọng theo ngữ cảnh.

shiva parvati Shiva Swarodaya
Shiva–Gauri. Ấn bản thạch bản được in bằng mực đen rồi tô màu thủ công bằng màu nước, thực hiện tại Calcutta, khoảng 1878–1883. Gauri là một danh xưng khác của nữ thần Parvati. Tác phẩm hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York.

1. Con kính lễ Maheshvara, Sơn Nữ, Gananayaka, bậc Đạo sư và Đấng Tối thượng; con tôn thờ Đấng đưa chúng sinh vượt qua cõi thế tục.

    Ghi chú: Maheshvara là một danh hiệu của Shiva; Sơn Nữ là Parvati, con gái núi; Gananayaka là Ganesha, vị đứng đầu các gana.

2. Nữ thần thưa: Lạy Thần của chư thần, lạy Đại Thần, xin đoái thương con và giảng cho con tri thức ban mọi siddhi.

    Ghi chú: siddhi chỉ các thành tựu hay năng lực linh nghiệm có được nhờ tu tập.

3. Vũ trụ này sinh ra như thế nào? Nó biến đổi ra sao? Nó tan hòa thế nào, thưa Ngài? Xin Ngài nói cho con biết chân nghĩa của vũ trụ.

4. Ishvara phán: Này Nữ thần, vũ trụ sinh ra từ các tattva, biến đổi nhờ các tattva, rồi lại tan vào chính các tattva; bản tính của nó cũng được quyết định bởi các tattva.

    Ghi chú: tattva là các nguyên tố (akasha, lửa, nước, đất, khí) hay căn nguyên căn bản cấu thành vũ trụ và thân thể theo truyền thống Ấn Độ.

5. Nữ thần thưa: Những người thấu hiểu tattva đã xác quyết rằng tattva là cội nguồn tối hậu. Lạy Ngài, xin soi sáng cho con về bản thể của các tattva ấy.

6. Ishvara phán: Chỉ có một Đấng là Maheshvara, vô nhiễm và vô tướng. Từ Ngài phát sinh hư không, và từ hư không phát sinh gió.

7. Từ gió phát sinh lửa, từ lửa phát sinh nước, rồi từ nước phát sinh đất. Đó là năm tattva, và mỗi tattva lại được triển khai theo năm phương diện.

8. Từ các tattva ấy mà vũ trụ sinh thành, nhờ chúng mà vũ trụ vận hành, rồi cũng trở về và an trú trong chính chúng.

9. Này mỹ nữ, trong thân này vốn do năm tattva hợp thành, năm tattva hiện hữu dưới dạng vi tế và được các hành giả tattva nhận biết.

10. Nay ta sẽ giảng về swara, tức sự khởi hiện của swara trong thân. Nhờ hiểu swara vận hành dưới dạng hamsa, người ta đạt được tri thức về ba thời.

    Ghi chú: swara ở đây chỉ dòng hơi thở đang vận hành; hamsa là công thức âm-thở huyền học, thường gắn với thở vào và thở ra.

11. Tri thức swarodaya này còn bí mật hơn mọi điều bí mật, làm hiển lộ tinh yếu của sự lợi ích; nó là viên ngọc trên đỉnh của mọi tri thức.

12. Đây là tri thức vi tế hơn điều vi tế nhất, nhưng vẫn có thể lĩnh hội và làm phát sinh xác tín về chân lý; với người vô tín, nó là điều kỳ lạ, còn với người hữu tín, nó là chỗ nương tựa.

13. Nay nói về phẩm chất của đệ tử: swarodaya chỉ nên truyền cho người an hòa, thanh tịnh, hạnh kiểm tốt, một lòng kính thầy, tâm ý vững vàng và biết ơn.

14. Tri thức về swara không nên truyền cho kẻ xấu ác, thấp hèn, nóng giận, vô tín, phạm vào giường của thầy, bạc nhược hay tà hạnh.

15. Hãy nghe, này Nữ thần, tri thức tối thượng trú ngay trong thân này; chỉ nhờ trực chứng nó mà người ta được dẫn tới chỗ toàn tri.

16. Trong swara có Veda, có shastra, có nghệ thuật Gandharva tối thượng; trong swara cũng có toàn thể tam giới, và swara mang bản tính của chính tự ngã.

    Ghi chú: Veda và shastra là các loại kinh điển; Gandharva ở đây gợi âm nhạc thiên giới chứ không chỉ người phàm.

17. Nhà chiêm tinh không hiểu swara cũng như ngôi nhà không chủ, cái miệng không kinh luận, hay thân thể không đầu.

18. Ai hiểu rõ sự khác biệt giữa các nadi, prana, các tattva và cả những trạng thái pha trộn của Sushumna thì người ấy có phần nơi giải thoát.

19. Dù ở trong hình hay ngoài hình, điều cát lành vẫn thành tựu nhờ sức của hơi thở; vì thế có người nói rằng chính tri thức về swara là điềm lành tối hậu, này người đẹp.

20. Vũ trụ, các phần của vũ trụ và các thân cá thể đều được tạo thành bởi swara; swara chính là tác nhân của sáng tạo và hủy diệt, tức Maheshvara hiển hiện.

21. Không ai từng thấy hay nghe nói có điều huyền mật nào vượt hơn tri thức về swara, có của cải nào vượt hơn tri thức về swara, hay có tri thức nào cao hơn tri thức về swara.

22. Nhờ sức của swara, người ta có thể đánh bại kẻ thù hay gặp gỡ bạn hữu; cũng nhờ sức của swara mà đạt được tài lộc, danh tiếng và an lạc.

23. Nhờ sức của swara mà việc cưới gả, yết kiến vua, thành tựu với chư thần, và thậm chí chế ngự bậc quân vương đều trở nên khả thi.

24. Nhờ swara mà người ta lên đường tới xứ khác, dùng thức ăn, và ngay cả việc tiểu tiện hay đại tiện cũng được thực hiện thuận lợi.

25. Này người mặt đẹp, mọi shastra, Purana, Smriti và Vedanga đều không vượt ngoài tri thức về swara; không có nguyên lý nào cao hơn nó.

    Ghi chú: Purana, Smriti và Vedanga là các loại kinh điển/trước tác truyền thống của Ấn Độ.

26. Bao lâu chân lý về các tattva chưa được biết đến, bấy lâu mọi tên gọi, hình tướng và các vọng tưởng khác vẫn chỉ là hư ảo, khiến kẻ mê lầm mãi hoang mang.

27. Khoa học swarodaya này cao quý hơn mọi shastra khác; nó giống như tim đèn soi sáng chiếc bình của tự ngã.

28. Không nên giảng khoa học swarodaya này cho bất cứ ai chỉ vì họ hỏi; nó phải được chính mình lĩnh hội trong tự thân, bằng trí hiểu của chính mình.

29. Đối với pháp này không có chướng ngại nào từ tithi, nakshatra, thứ trong tuần, hành tinh, thần linh, bhadra, vyatipata hay các điềm bất lợi tương tự.

    Ghi chú: tithi là ngày âm lịch; nakshatra là tú hay chòm sao theo chiêm tinh Ấn Độ; bhadra là tên một thời điểm hay tổ hợp ngày bị xem là bất lợi trong lịch truyền thống, còn vyatipata là một điềm thời lịch báo tai họa lớn.
Câu này nhấn mạnh rằng khoa học swara không bị lệ thuộc vào những thời điểm cát hung thông thường, nên có thể thực hành bất cứ lúc nào.

30. Vì thế, này Nữ thần, đối với pháp này không hề có thời điểm thật sự bất lợi; khi swara thanh tịnh hiện tiền thì mọi kết quả đều tốt lành.

31. Trong thân có vô số nadi với nhiều dạng thức khác nhau trải rộng khắp nơi; người trí cần biết chúng để hiểu rõ chính thân mình.

    Ghi chú: nadi là mạch hay kênh năng lượng vi tế; prana là sinh khí; vayu là các luồng khí chức năng trong thân; Ida, Pingala và Sushumna là ba nadi chính.

32. Từ gốc ở phía trên vùng rốn, chúng mọc ra như những mầm non; bảy mươi hai nghìn nadi được an lập bên trong thân.

33. Trong các nadi ấy có Kundalini Shakti, nằm yên như một con rắn; từ đó mười nadi đi lên trên và mười nadi an trụ phía dưới.

34. Mỗi phía lại có hai nadi đi chéo, cộng thành hai mươi bốn; trong số đó có mười nadi chính, là những kênh mang dòng chảy của mười loại vayu.

35. Các nadi ấy đi chéo, đi lên, đi xuống và đan kết với khí lực trong thân; tất cả được sắp xếp như một bánh xe và đều nương nơi prana.

36. Trong mười nadi ấy, có ba nadi quan trọng nhất: Ida, Pingala và Sushumna.

37. Bảy nadi còn lại là Gandhari, Hastijihva, Pusha, Yashasvini, Alambusha, Kuhu và Shankhini.

38. Ida ở bên trái, Pingala ở bên phải, Sushumna ở vùng giữa, còn Gandhari ở mắt trái.

39. Hastijihva ở bên phải, Pusha ở tai phải, Yashasvini ở tai trái, và Alambusha ở nơi miệng.

40. Kuhu ở vùng sinh dục, Shankhini ở nơi gốc; như thế, mười nadi này an trụ bằng cách chiếm giữ mười cửa của thân.

41. Mười nadi ấy đều nằm ở phần giữa thân, còn Ida, Pingala và Sushumna thì nằm trên con đường của prana.

42. Nay ta sẽ nói tên của các nadi và các luồng vayu: đó là prana, apana, samana, udana và vyana.

43. Ngoài ra còn có Naga, Kurma, Krkala, Devadatta và Dhananjaya. Prana-vayu luôn trú ở tim, còn Apana-vayu ở vùng hậu môn.

44. Samana ở vùng rốn, Udana ở giữa cổ họng, còn Vyana lan khắp thân thể. Đó là mười loại vayu chính.

45. Có năm vayu chính như prana, và năm vayu phụ như Naga. Vị trí của năm loại đầu đã nói xong; nay ta sẽ nói đến vị trí của năm loại sau.

46. Naga hiện ra trong sự ợ và nôn; Kurma trong sự chớp mắt; Krkala trong hắt hơi; còn Devadatta trong sự ngáp.

47. Dhananjaya thấm khắp toàn thân và không rời đi ngay cả khi thân đã chết. Như vậy, các vayu ấy vận hành trong mọi nadi dưới dạng sức sống.

48. Người trí cần nhận ra sự vận hành của prana ở trung tâm thân thể qua ba nadi là Ida, Pingala và Sushumna.

49. Ida được biết là ở bên trái, Pingala ở bên phải; hai nadi này đan chéo nhau theo chiều đối nghịch.

50. Mặt trăng ở trong Ida, mặt trời ở trong Pingala, còn trong Sushumna hiện diện Hamsa, tức chính Shambhu.

    Ghi chú: Hamsa và Shambhu đều là danh xưng gắn với Shiva; đoạn này dùng biểu tượng mặt trời, mặt trăng và hơi thở hơn là giải phẫu vật lý.

51. Âm ‘ha’ ứng với hơi thở ra, còn âm ‘sa’ ứng với hơi thở vào; ‘ha’ là hình thức của Shiva, còn ‘sa’ được gọi là hình thức của Shakti.

52. Mặt trăng ngự trong nadi bên trái dưới dạng Shakti và chi phối dòng chảy của nadi ấy; mặt trời ngự trong nadi bên phải dưới dạng Shambhu và chi phối dòng chảy bên đó.

53. Khi hơi thở đang vận hành theo âm ‘sa’, nếu người trí đem tâm bố thí đúng lúc ấy thì công đức của sự bố thí trong đời này sẽ tăng lên vô số lần.

54. Người yogi, với tâm chuyên nhất và định tĩnh, nên quan sát bằng con đường ấy và nhận biết mọi sự qua hai lộ trình của mặt trăng và mặt trời.

55. Chỉ khi tâm ổn định và vững vàng, người ta mới nên quán chiếu các tattva. Nhờ vậy, điều mong cầu, lợi ích lớn và chiến thắng đều có thể đạt được.

56. Ai thường xuyên giữ được thế quân bình giữa swara mặt trăng và swara mặt trời thì sẽ nắm trong tay tri thức về quá khứ và tương lai.

57. Ida ở bên trái mang bản chất cam lồ và nuôi dưỡng thế giới; Pingala ở bên phải luôn là nguồn phát sinh của thế giới.

58. Nadi ở giữa, tức Sushumna, có tính dữ và bất lợi cho hầu hết công việc; còn nadi bên trái thì luôn thích hợp cho các việc lành.

59. Nadi bên trái thuận lợi khi khởi hành, nadi bên phải thuận lợi khi quay về. Vì vậy, mặt trăng được xem là chẵn và hiền hòa, còn mặt trời thì thuộc tính lẻ.

60. Mặt trăng là tính nữ, mặt trời là tính nam. Mặt trăng có sắc sáng, còn mặt trời có sắc tối. Khi nadi mặt trăng đang chảy, nên tiến hành những việc ôn hòa và tốt lành.

61. Khi nadi mặt trời, tức Pingala hay lỗ mũi phải, đang chảy thì nên làm những việc mạnh bạo và quyết liệt. Khi Sushumna chảy thì thích hợp cho ái dục, giao hợp, hoặc những việc dẫn tới giải thoát.

    Ghi chú: Pingala là nadi bên phải; Sushumna là nadi trung tâm. Các chỉ dẫn ở đây thuộc phép swara-yoga truyền thống.

62. Vào ngày đầu của nửa tháng tối thì swara mặt trời chảy; vào ngày đầu của nửa tháng sáng thì swara mặt trăng chảy. Trong ba ngày đầu của mỗi nửa tháng, các swara ấy đặc biệt mạnh.

63. Bắt đầu bằng swara mặt trăng trong nửa tháng sáng và swara mặt trời trong nửa tháng tối, hai swara này thay phiên nhau suốt ngày đêm theo chu kỳ đã định.

64. Trong mỗi giai đoạn ấy, từng tattva lại lần lượt chi phối trong một khoảng ngắn dưới sự vận hành của swara mặt trời hay swara mặt trăng. Nếu swara đi ngược quy luật của nửa tháng thì phải xem là bất tường và nên tránh.

65. Người yogi cần chuyên tâm nhận biết swara mặt trăng vào ngày đầu của nửa tháng sáng và swara mặt trời vào ngày đầu của nửa tháng tối.

66. Nên tránh swara mặt trăng vào ban đêm và tránh swara mặt trời vào ban ngày. Ai thực hành được như vậy mới thật là yogi, điều ấy không có gì nghi ngờ.

67. Mặt trời chịu sự chi phối của swara mặt trời, mặt trăng chịu sự chi phối của swara mặt trăng; ai hiểu được phép này có thể khiến tam giới quy phục chỉ trong chốc lát.

68. Nếu sự khởi lên diễn ra theo lộ trình của mặt trăng và sự lặn đi theo lộ trình của mặt trời thì nhiều phẩm tính tốt lành phát sinh; trường hợp ngược lại nên tránh.

69. Vào thứ năm, thứ sáu, thứ tư và thứ hai, nadi bên trái là tốt lành cho mọi việc; trong nửa tháng sáng, hiệu lực ấy càng mạnh hơn.

70. Đối với những việc cần di chuyển hay hoạt động linh động, nên dùng nadi bên phải vào chủ nhật, thứ ba và thứ bảy, nhất là trong nửa tháng tối.

71. Thứ tự trội lên của các tattva là: trước hết là vayu, kế đến là agni, rồi đất, nước và sau cùng là hư không.

    Ghi chú: Năm tattva ở đây là đất, nước, lửa, gió và hư không; bản văn gán cho chúng những hướng, thời điểm và hiệu quả khác nhau.

72. Trong chu kỳ vận hành ấy, năm tattva lần lượt khởi lên theo đúng trật tự đã nói; ngay trong dòng chảy của từng nadi, chúng cũng xuất hiện theo cùng trật tự đó.

73. Giữa ngày và đêm có mười hai điểm chuyển tiếp giữa mặt trời và mặt trăng. Ban ngày, sự chuyển của mặt trăng đi qua các cung hoàng đạo theo một trình tự nhất định.

74. Sự chuyển của mặt trời cũng được biết qua một chuỗi cung hoàng đạo khác. Dựa vào sự mọc và lặn của các cung ấy mà có thể phân định điềm lành hay dữ.

75. Mặt trăng ở phương đông và phương bắc, còn mặt trời ở phương nam và phương tây. Khi lỗ mũi phải đang chảy thì nên tránh đi về phương nam và phương tây.

76. Khi lỗ mũi trái đang chảy thì không nên đi về phương đông và phương bắc. Nếu cứ đi theo các hướng ấy thì có thể gặp nguy hiểm từ kẻ thù và thậm chí không trở về được.

77. Vì thế, người khôn ngoan nghĩ đến lợi ích của mình không nên đi theo những hướng bị cấm. Nếu cố chấp đi, họ có thể gặp tử nạn.

78. Nếu vào ngày thứ hai của nửa tháng sáng mà swara mặt trăng lại xuất hiện đúng lúc đáng ra swara mặt trời phải chảy, thì đó vẫn là dấu hiệu tốt. Nếu nhân lúc ấy làm các việc thanh tịnh và đạo đức thì sẽ thu được nhiều lợi ích và niềm vui.

79. Bất cứ ngày hay đêm nào, nếu lúc mặt trời mọc có swara mặt trời và lúc mặt trăng mọc có swara mặt trăng, thì mọi việc làm khi ấy đều thành công.

80. Khi mặt trời hoạt động vào lúc của mặt trăng, hoặc mặt trăng hoạt động vào lúc của mặt trời, thì sẽ sinh lo âu, tranh chấp và hao tổn; mọi việc tốt lành đều nên tránh.

81. Người trí nói rằng dưới dòng chảy của mặt trời có thể biết được những điều chưa thấy chưa nghe; còn dưới dòng chảy của mặt trăng thì kết quả lại ngược lại.

82. Nếu từ sáng sớm mà swara đi lệch, nghĩa là mặt trăng chảy vào chỗ của mặt trời hoặc ngược lại, thì phải hiểu các kết quả phát sinh theo quy luật ấy.

83. Lần thứ nhất sẽ sinh lo lắng trong tâm, lần thứ hai mất của, lần thứ ba phải đi xa ngoài ý muốn, lần thứ tư mất điều mong cầu.

84. Lần thứ năm có thể mất nước mất quyền, lần thứ sáu mất hết lợi lộc, lần thứ bảy sinh bệnh khổ, và lần thứ tám có thể đưa tới cái chết.

85. Nếu vào sáng, trưa và chiều mà sự lệch swara ấy kéo dài suốt tám ngày, thì kết quả luôn bất lợi; nếu trong thời gian đó vẫn có đôi phần điều hòa thì mức độ xấu sẽ giảm bớt.

86. Nếu buổi sáng và buổi trưa là swara mặt trăng, còn buổi chiều là swara mặt trời, thì mỗi ngày đều có thắng lợi và lợi lộc; trường hợp ngược lại nên tránh.

87. Khi bắt đầu một chuyến đi hay ra ngoài làm việc, phải xác định swara nào đang chảy và bước chân cùng phía ấy ra trước. Làm như vậy thì hành trình sẽ thành công.

88. Nếu swara mặt trăng đang chảy thì nên bước số chẵn; nếu swara mặt trời đang chảy thì nên bước số lẻ.

89. Buổi sáng khi rời giường, nên dùng lòng bàn tay cùng phía với swara đang chảy chạm vào miệng. Người làm như vậy sẽ đạt được điều mong muốn.

90. Khi cho, nhận, hay bước ra khỏi nhà, nên dùng bàn tay hoặc bàn chân ở cùng phía với nadi đang chảy.

91. Làm như vậy thì không mất mát, không tranh cãi, không bị gai nhọn làm hại; khi trở về sẽ được an ổn và tránh mọi rối ren.

92. Nếu muốn được thầy, họ hàng, vua hay đại thần giúp mình hoàn thành điều mong muốn, thì nên làm việc ấy trong trạng thái swara thuận lợi; nhờ vậy, ý nguyện sẽ thành tựu.

93. Khi nhóm lửa, làm việc bất chính như trộm cắp, hoặc trấn áp đối thủ, nên làm trong trạng thái thích hợp; như vậy mới mong thắng lợi, an ổn và thành công.

94. Có người nói rằng nên đi xa khi swara mặt trăng đang chảy, còn đi gần thì nên tiến hành dưới swara mặt trời.

95. Những lợi ích đã nói ở trên, nhất là trong chiến trận, chỉ thực sự phát sinh khi swara tương ứng chảy với trọn sức của nó.

96. Nếu dòng chảy của swara rơi vào trạng thái rỗng không thì theo lời Shiva, kết quả sẽ đảo ngược và bất lợi.

97. Sức đầy đủ của swara không thuận cho những việc tàn khốc như đàn áp kẻ ác, lừa gạt kẻ thù, trộm cắp hay đối diện với chủ nhân đang nổi giận.

98. Swara mặt trăng thuận cho những chuyến đi xa và giúp điều mong cầu được thành tựu không chướng ngại; swara mặt trời lại thuận cho lúc quay về.

99. Swara thuận có thể khiến việc khó thành việc được; swara nghịch lại khiến việc đáng lẽ thành thì hóa không. Vì vậy, con người phải tùy swara mà hành động.

100. Khi swara mặt trăng chảy, người ta có thể chịu đựng cả điều nặng nề; khi swara mặt trời chảy, ngay cả kẻ mạnh cũng có thể bị chế ngự; khi Sushumna chảy, người ta có thể đạt giải thoát. Như vậy, chỉ một Thần là swara nhưng hiện ra thành ba dạng.

101. Dù ngày hay đêm, mỗi khi muốn làm việc lành hay dữ, người ta nên khiến nadi chảy phù hợp với công việc mình định làm.

102. Về tác dụng của dòng chảy Ida: khi Ida, tức lỗ mũi trái, hoạt động thì thích hợp cho việc ổn định, tích trữ đồ trang sức và vật dụng trong nhà, đi xa, dựng am thất và những việc bền vững tương tự.

103. Nó cũng thuận cho việc đào ao, giếng, hồ, dựng cột, an lập thần tượng, đi đường, bố thí, kết hôn, và mua hay mặc y phục cùng đồ trang sức.

104. Nó thuận cho các nghi lễ cầu an, cầu thịnh, dùng thuốc linh và rasayana, tức các phương pháp hay dược liệu dưỡng sinh, gặp thầy hay bạn, buôn bán và tích trữ lương thực.

    Ghi chú: rasayana chỉ các phương pháp hay dược liệu dưỡng sinh, trường sinh trong truyền thống Ấn Độ.

105. swara mặt trăng thuận cho việc vào nhà, làm việc công, làm nông, gieo giống, thực hiện việc lành, hòa giải và lên đường.

106. Dòng chảy Ida cũng thuận cho việc bắt đầu học tập, gặp họ hàng, những việc liên quan đến sinh và giải thoát, giữ giới, thọ pháp và hành trì mantra.

    Ghi chú: mantra-sadhana là sự thực hành mantra một cách có kỷ luật để đạt kết quả tâm linh hay nghi lễ; guru là thầy tâm linh.

107. Nó còn thuận cho việc xét thời vận, tiếp nhận súc vật vào nhà, chữa bệnh nặng và yết kiến chủ nhân.

108. Nó thuận cho việc cưỡi voi ngựa, buộc giữ voi ngựa, làm việc thiện và cất giữ của cải.

109. Nó thuận cho ca hát, âm nhạc, múa, nghiên cứu nghệ thuật múa, vào làng xóm hay đô thị, điểm tilaka và mua đất.

110. Ida thuận khi nghĩ tới người đang bệnh, sốt hay hôn mê, và cũng thuận cho việc dự trữ ngũ cốc hay củi đốt.

111. Nadi mặt trăng còn thuận trong lúc buồn đau, trong việc liên quan đến người thân hay chủ nhân, trong việc trang điểm của phụ nữ, lúc mưa tới, khi lễ bái guru, và trong việc giải độc.

    Ghi chú: guru là thầy tâm linh; đoạn này vẫn nói về những việc hợp với dòng hơi bên trái.

112. Tuy Ida được nói là giúp thành tựu trong yoga-sadhana và các việc tương tự, nhưng vẫn nên tránh dùng nó khi vayu, lửa hay hư không đang chiếm ưu thế trong đó.

113. Mọi việc ngày đêm đều thành công dưới dòng chảy của Ida; đặc biệt, swara mặt trăng được ca ngợi là thuận cho mọi việc tốt lành.

114. Về tác dụng của dòng chảy Pingala: nadi mặt trời thuận cho việc học hay dạy những môn cứng rắn, cho việc ái dục, và cho việc lên thuyền lớn.

115. Nó thuận cho việc uống rượu, thờ phụng bằng vira-mantra, khuấy động kẻ thù, và những hành động tấn công đối phương.

    Ghi chú: vira-mantra là mantra thuộc lối thực hành mang tính anh hùng hay mạnh bạo trong tantra.

116. Nó thuận cho những việc liều lĩnh hay u ám, cho việc học shastra, đi đường, săn bắn, mua bán gia súc, và cắt, mài hay đánh bóng gạch, gỗ, đá và ngọc.

117. Nó thuận cho luyện võ hay kỹ thuật, dùng yantra và tantra, cờ bạc, trộm cắp, trèo thành lũy hay núi cao, và điều khiển voi, ngựa, xe cộ cùng các phương tiện tương tự.

    Ghi chú: yantra là đồ hình hay khí cụ thiêng; tantra ở đây chỉ hệ thực hành nghi lễ và kỹ thuật tu luyện.

118. Nó thuận cho việc luyện tập thân thể, làm marana và ucchatana, sáu pháp nghi thức, và hàng phục yaksha, yakshini, vetala, độc tố, tà linh và những lực đối nghịch khác.

    Ghi chú: marana, mohana, stambhana, ucchatana là các tên Sanskrit của những pháp tác động hay nghi thức huyền thuật trong văn liệu tantra. Yaksha, yakshini và vetala là các hữu thể siêu nhiên trong thần thoại và dân gian Ấn Độ.

119. Nó thuận cho việc cưỡi voi ngựa, dùng thuốc, chữa bệnh, và viết lách hay thư tự.

120. Nó thuận trong những việc liên hệ đến lừa, lạc đà, trâu và các loài tương tự, trong việc vượt sông nước, cũng như trong mua bán.

121. Dòng mặt trời thuận cho các pháp marana, mohana, stambhana, gây chia rẽ, ucchatana, hàng phục, thúc đẩy, dẫn dụ, khuấy động, gọi vong và chế ngự kẻ thù.

122. swara mặt trời còn thuận cho việc cầm gươm, chiến đấu, hưởng lạc, yết kiến vua, ăn uống, tắm rửa, giao tiếp nghi lễ và những hành động mạnh mẽ, rực lửa.

123. Người trí nói rằng ăn uống, thúc đẩy tiêu hóa, những pháp hấp dẫn hay chế ngự liên quan đến nữ giới, và cả giấc ngủ đều nên làm dưới dòng chảy mặt trời.

124. Về tác dụng của Sushumna: khi khí lúc thì chảy ở lỗ mũi trái, lúc thì chảy ở lỗ mũi phải, thì phải biết đó là trạng thái Sushumna, và nó làm cho mọi việc trở nên vô hiệu.

    Ghi chú: Sushumna ở đây còn chỉ trạng thái hai dòng hơi giao nhau hoặc đổi chiều; các đoạn này mang tính huyền học, không nên hiểu quá sát theo nghĩa vật lý.

125. Ngọn lửa trú trong nadi mặt trời cháy như Thần Chết; phải biết ngọn lửa ấy như chất độc, có sức hủy diệt mọi sự.

126. Khi cả hai nadi trái và phải cùng chảy trái với trật tự vốn có, đó là điềm bất tường, điều này không có gì nghi ngờ.

127. Khi dòng chảy lúc ở trái lúc ở phải, phải hiểu đó là trạng thái bất thường; hãy biết rằng kết quả của nó sẽ trái ngược và bất lợi, này người mặt đẹp.

128. Dòng chảy hỗn loạn của các nadi được các bậc thông hiểu xem như chất độc. Trong lúc ấy không nên làm việc dữ cũng không nên làm việc lành; nếu làm, tất cả đều sẽ thành hư không.

129. Trong những việc liên quan đến sống chết, hỏi han, được mất, thắng bại, và trong lúc swara đi lệch hay bất thường, người ta phải luôn ghi nhớ Đấng Tối Thượng.

130. Vào lúc ấy, nên chuyên tâm nơi Ishvara và chỉ thực hành yoga; người cầu chiến thắng, lợi lộc hay khoái lạc không nên làm việc gì khác.

131. Khi Sushumna chảy dưới thời của nadi mặt trời, thì lời chúc phúc hay lời nguyền rủa đều mất hiệu lực.

132. Trong lúc nadi chuyển giao, và cả khi các tattva giao hội, không nên làm bất cứ việc lành nào, kể cả các thiện sự như bố thí.

133. Khi swara bất thường khởi lên, người ta không nên khởi niệm làm việc gì; nếu cố làm thì sẽ gặp tai hại, khổ đau, thậm chí cả cái chết.

134. Khi swara bên trái nối với mặt trăng, rồi swara bên phải nối với mặt trời, thì cả hai trạng thái ấy phải được hiểu như những trạng thái trống rỗng.

135. Nếu trước hay sau swara bên trái mà có sứ giả đến đứng về phía trái, hoặc trước hay sau swara bên phải mà sứ giả đến đứng về phía phải, thì cả hai trường hợp ấy đều là điềm lành.

136. Nếu trong lúc Sushumna bất thường chảy mà người hành giả nhịn ăn, nhất tâm và hòa nhập vào Brahman vi tế, thì trạng thái Sushumna ấy được các bậc hiểu biết gọi là Sandhya.

    Ghi chú: Sandhya và Sandhi ở đây là trạng thái giao thời hay chỗ giao vi tế, không chỉ là ‘chạng vạng’ hay ‘điểm gặp’ theo nghĩa thường.

137. Bậc trí không xem sự biết thông thường là Veda; Veda không chỉ là tri thức theo nghĩa thông thường. Điều được gọi là Veda chính là cái giúp người ta nhận biết Tối Linh.

138. Người hiểu đạo không gọi Sandhya chỉ là một điểm giao nhau, cũng không coi Sandhi chỉ là một cuộc gặp gỡ thông thường; khi prana an trú trong chỗ giao bất thường ấy, đó mới thật là Sandhi.

139. Nữ thần thưa: Lạy Thần của chư thần, lạy Mahadeva, Đấng cứu độ toàn thế giới, xin nói cho con biết điều bí mật đang ngự trong tim Ngài, thưa Chúa tể.

140. Ishvara phán: Không có iṣṭadevatā nào cao hơn bí mật của tri thức swara. Người yogi chuyên tâm nơi tri thức swara được xem là yogi tối thượng.

    Ghi chú: iṣṭadevatā là vị thần được người tu chọn làm đối tượng sùng kính riêng.

141. Sáng tạo sinh ra từ năm yếu tố, và cũng tan vào năm yếu tố. Năm yếu tố là nguyên lý tối thượng; vượt lên trên chúng là Thực Tại vô nhiễm.

142. Nhờ thành tựu yoga mà các yogi biết được tên của các yếu tố. Ai biết được sự tinh diệu của swara thì cũng nhận ra các dấu hiệu dữ trong muôn loài.

143. Nguyên tố Đất, nguyên tố Nước, nguyên tố Lửa, nguyên tố Gió và nguyên tố Akasha: ai nhận biết vũ trụ được cấu thành bởi năm nguyên tố này là người xứng đáng được tôn kính.

144. Thân của mọi loài trong các thế giới tuy không khác nhau xét về các yếu tố, nhưng các nadi thì vẫn khác nhau rõ rệt từ Bhuloka cho đến Satyaloka.

145. Trong bên trái và bên phải đều có năm sự khởi hiện. Hãy nghe đây, này người đẹp, ta sẽ giảng về khoa học tám mặt của các yếu tố.

    Ghi chú: Đây là phần giới thiệu tám cách nhận biết tattva qua hơi thở: số lượng, vị trí, màu sắc, vị, hướng đi và các dấu hiệu khác.

146. Thứ nhất là số lượng của các yếu tố, thứ hai là các chỗ giao của hơi thở, thứ ba là dấu hiệu của swara, và thứ tư là vị trí của chúng.

147. Thứ năm là màu sắc, thứ sáu là prana, thứ bảy là các vị đi kèm, và thứ tám là dấu hiệu của sự vận hành.

148. Như vậy, prana hiện thành tám mặt trong mọi loài động và tĩnh. Này nữ thần mắt sen, không có tri thức nào cao hơn swara.

149. Người ta phải luôn quan sát cẩn thận từ lúc rạng đông, vì các yogi hành sự như vậy để vượt qua sự ràng buộc của thời gian.

150. Hãy đặt hai ngón cái lên tai, hai ngón giữa lên hai lỗ mũi, và các ngón còn lại vào chỗ miệng và mắt.

151. Làm như vậy thì tri thức về các yếu tố bắt đầu từ đất sẽ lần lượt hiện ra: những điểm màu vàng, trắng, đỏ, tối và nhiều màu xuất hiện rõ ràng, không lẫn lộn.

152. Nhìn vào gương, người ta nên thở hơi lên đó. Nhờ hình dạng hiện ra trên gương, người trí sẽ biết được sự khác biệt giữa các yếu tố.

153. Nay ta sẽ nói dấu hiệu của từng nguyên tố: nguyên tố Đất có hình vuông, nguyên tố Nước có hình bán nguyệt, nguyên tố Lửa có hình tam giác, nguyên tố Gió có hình tròn chuyển động, còn nguyên tố Akasha khó nắm bắt hơn mọi hình tướng.

154. Nếu hơi thở đi qua phần giữa lỗ mũi thì đó là nguyên tố Đất; nếu qua phần dưới là nguyên tố Nước; nếu qua phần trên cùng là nguyên tố Lửa; nếu đi chéo qua hai bên là nguyên tố Gió; còn nếu xoáy vòng thì là nguyên tố Akasha.

155. Màu của nước là trắng, của đất là vàng, của lửa là đỏ, của không khí là xanh, còn của Akasha giống màu mây.

156. Nguyên tố Lửa trú ở hai vai, nguyên tố Gió ở gốc rốn, nguyên tố Đất ở đùi, nguyên tố Nước ở phần cuối bàn chân, còn nguyên tố Akasha ở trán.

157. Vị của đất là ngọt, của nước là chát, của lửa là cay, của không khí là chua, còn của Akasha là đắng.

158. Độ dài của swara thuộc nguyên tố Gió là tám angula, của nguyên tố Lửa là bốn, của nguyên tố Đất là mười hai, còn của nguyên tố Nước là mười sáu.

    Ghi chú: angula là đơn vị đo truyền thống, gần với bề rộng một ngón tay.

159. Khi swara đi lên trên thì báo hiệu chết; đi xuống dưới thì đem lại yên ổn; đi chéo thì thuận cho ucchatana; còn đi ở giữa thì thuận cho stambhana. Tác dụng của nguyên tố Akasha thì trung tính hơn trong mọi công việc.

    Ghi chú: ucchatana và stambhana là các thuật ngữ nghi thức; ở đây chúng được dùng như loại kết quả hay công dụng của từng dòng hơi.

160. Khi nguyên tố Đất trội lên thì nên làm việc ổn định; khi nguyên tố Nước trội lên thì việc di chuyển dễ thành; khi nguyên tố Lửa trội lên thì các việc dữ mạnh có kết quả; còn khi nguyên tố Gió trội lên thì các việc như ucchatana và marana sẽ thành.

161. Khi nguyên tố Akasha trội lên thì không nên làm việc gì cả, vì mọi việc đều thành trống rỗng; chỉ việc hành yoga là thích hợp trong trạng thái ấy.

162. Nguyên tố Đất và nguyên tố Nước đem lại siddhi; nguyên tố Lửa đem đến cái chết; nguyên tố Gió gây hủy hoại hay mất mát; còn nguyên tố Akasha khiến mọi việc thành vô hiệu. Người hiểu tattva cần biết rõ như vậy.

    Ghi chú: siddhi chỉ thành tựu hay năng lực đạt được nhờ tu tập và ứng dụng đúng quy luật swara.

163. Nguyên tố Đất đem lại thành công đáng kể; nguyên tố Nước cho lợi ích tức thời; nguyên tố Gió và nguyên tố Lửa gây hao tổn; còn nguyên tố Akasha làm cho mọi việc không thành.

164. Khi swara có sắc vàng, chuyển động đều, âm nặng vang đến cằm, lại hơi ấm, thì phải biết đó là nguyên tố Đất; nó giúp thành công trong mọi việc ổn định.

    Ghi chú: Các mô tả về màu sắc, hình dạng và độ dài của hơi thở là biểu tượng chẩn đoán trong swara-yoga, không phải mô tả sinh lý hiện đại.

165. Dòng chảy đi xuống, âm nặng, nhanh, hơi mát và dài mười sáu angula phải được biết là nguyên tố Nước, thích hợp cho các việc tốt lành.

166. Dòng chảy xoáy vòng, hơi nóng, đi lên trên và thích hợp cho các việc dữ mạnh thì phải biết là nguyên tố Lửa.

167. Dòng chảy ôn hòa, màu sẫm, đi chéo và dài tám ngón tay thì phải biết là nguyên tố Gió; dưới nó, những việc cần di chuyển sẽ dễ thành.

168. Dòng chảy quân bình, dung chứa tính chất của mọi yếu tố phải được biết là nguyên tố Akasha; đối với yogi, nó đem lại thành tựu trong yoga.

169. Khi một dòng chảy đồng thời mang nhiều đặc tính của các yếu tố, người học phải nhận ra rõ sự pha trộn ấy để khỏi lầm lẫn khi hành động.

170. Swara có màu trắng, hình bán nguyệt, vị ngọt pha chát, ẩm ướt và dài mười sáu ngón tay là nguyên tố Nước; nó đem lại mọi điều lợi ích.

171. Swara có màu đỏ, hình tam giác, vị cay, đi lên trên và dài bốn ngón tay phải được biết là nguyên tố Lửa.

172. Swara có màu xanh, vị chua, đi chéo, luôn động và dài tám ngón tay thì phải biết là nguyên tố Gió.

173. Swara có màu sắc, vị, hướng đi và động thái pha trộn lẫn lộn với tất cả các loại khác thì phải biết là nguyên tố Akasha; nó khiến mọi việc trở nên vô hiệu.

174. Nguyên tố Đất và nguyên tố Nước là tốt lành; nguyên tố Lửa cho kết quả trung bình; còn nguyên tố Akasha và nguyên tố Gió đem lại điều bất lợi, mất mát và cái chết.

175. Nguyên tố Đất trải từ đông sang tây; nguyên tố Gió ở phương bắc; còn ở giữa là nguyên tố Akasha.

176. Khi nguyên tố Đất hay nguyên tố Nước trội lên dưới swara mặt trăng, hoặc nguyên tố Lửa trội lên dưới swara mặt trời, thì dù là việc tốt hay việc dữ, tất cả đều có thể thành công.

177. Nguyên tố Đất thuận vào ban ngày, nguyên tố Nước thuận vào ban đêm. Nguyên tố Lửa báo tử, nguyên tố Gió báo hủy hoại, còn nguyên tố Akasha thường gây tổn thất do lửa.

178. nguyên tố Đất được xem là thuận cho việc giữ mạng sống, chiến thắng, lợi lộc, nông nghiệp, kiếm tiền, mantra-sadhana, chiến trận, hỏi han, đi ra hay trở về.

179. Nếu nguyên tố Nước trội lên thì có thể chờ kẻ thù đến; nếu nguyên tố Đất trội lên thì đó là điềm lành; nếu nguyên tố Gió trội lên thì kẻ thù có thể bỏ đi nơi khác; còn nếu nguyên tố Lửa hay nguyên tố Akasha trội lên thì có thể dẫn tới mất mát hay cái chết của kẻ thù.

180. Nếu có người đặt câu hỏi khi nguyên tố Đất đang trội lên, thì mối lo sẽ liên quan đến cây cối hay thảo mộc; nếu nguyên tố Nước hay nguyên tố Gió trội lên thì mối lo liên quan đến sinh mạng; nếu nguyên tố Lửa trội lên thì mối lo liên quan đến kim loại; còn nếu nguyên tố Akasha trội lên thì có thể hoàn toàn không có điều gì đáng lo.

181. Khi nguyên tố Đất trội lên thì người ấy sẽ đi cùng nhiều người; khi nguyên tố Nước hay nguyên tố Gió trội lên thì sẽ đi một mình; khi nguyên tố Lửa trội lên thì đi với một người khác; còn khi nguyên tố Akasha trội lên thì sẽ không đi đâu cả.

    Ghi chú: Các tên hành tinh như mặt trời, mặt trăng, sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc, sao Kim, sao Thổ và Rahu được dùng theo hệ chiêm tinh Ấn Độ.

182. Khi swara bên phải đang chảy, thì trong nguyên tố Lửa sao Hỏa trội lên, trong nguyên tố Đất là mặt trời, trong nguyên tố Nước là sao Thổ, còn trong nguyên tố Gió là Rahu.

183. Khi swara bên trái đang chảy, thì trong nguyên tố Nước là mặt trăng, trong nguyên tố Đất là sao Thủy, trong nguyên tố Gió là sao Mộc, còn trong nguyên tố Lửa là sao Kim. Các hành tinh ấy luôn chi phối công việc dưới những swara và yếu tố tương ứng.

184. Sao Thủy trú trong nguyên tố Đất, mặt trăng trong nguyên tố Nước, mặt trời và sao Hỏa trong nguyên tố Lửa, Rahu và sao Thổ trong nguyên tố Gió, còn sao Mộc trong hư không.

185. Nếu Rahu ngự trong swara mặt trời mà có người hỏi tin tức về một người đã đi xa, thì phải đáp rằng người ấy đã rời khỏi nơi mình từng đến và đi nơi khác nữa.

186. Nếu nguyên tố Nước trội lên lúc có câu hỏi, thì phải đáp rằng người đi xa sắp trở về. Nếu nguyên tố Đất trội lên thì người ấy vẫn đang ở nguyên chỗ cũ.

187. Khi nguyên tố Đất trội lên thì câu hỏi liên quan đến cây cối hay thảo mộc; khi nguyên tố Nước trội lên thì liên quan đến sinh mạng; khi nguyên tố Lửa trội lên thì liên quan đến kim loại; còn khi nguyên tố Akasha trội lên thì mối lo tan biến.

188. Nếu lúc hỏi có nguyên tố Đất hay nguyên tố Nước thì người đi xa đang sống trong an vui; nếu nguyên tố Lửa hay nguyên tố Gió trội lên thì người ấy gặp khó khăn hay bất an.

189. Nếu nguyên tố Akasha hiện diện thì người được hỏi đến có thể đã chết. Đó là mười hai kiểu luận đoán được nêu ra theo sự trội lên của các yếu tố.

190. Nguyên tố Đất, nguyên tố Nước, nguyên tố Lửa và nguyên tố Gió lần lượt mạnh ở phương đông, tây, nam và bắc.

191. Này người mặt đẹp, thân thể này phải được biết là do năm yếu tố cấu thành: nguyên tố Đất, nguyên tố Nước, nguyên tố Lửa, nguyên tố Gió và nguyên tố Akasha.

192. Xương, thịt, da, các nadi và lông tóc là năm thuộc tính của nguyên tố Đất trong thân, theo lời các bậc Brahmajnani.

    Ghi chú: Các câu này phân các phần thân thể và trạng thái tâm lý theo năm yếu tố, đúng theo lối giải thích truyền thống.

193. Tinh dịch, máu, tủy, nước tiểu và nước bọt là năm thuộc tính của nguyên tố Nước trong thân, như các bậc Brahmajnani đã nói.

194. Đói, khát, giấc ngủ, sự lười mỏi và ánh sáng rực rỡ là năm thuộc tính của nguyên tố Lửa.

195. Chạy, đi, co thắt, mở ra và vận động là năm thuộc tính của nguyên tố Gió, theo các bậc Vedantin.

196. Tình yêu, thù ghét, e thẹn, sợ hãi và dính mắc là năm thuộc tính của nguyên tố Akasha, như các bậc hiểu Vedanta đã dạy.

197. Trong thân này, nguyên tố Đất chiếm năm mươi pala, nguyên tố Nước chiếm bốn mươi, nguyên tố Lửa chiếm ba mươi, nguyên tố Gió chiếm hai mươi, còn nguyên tố Akasha chiếm mười.

    Ghi chú: pala là đơn vị đo trọng lượng truyền thống của Ấn Độ.

198. Khi nguyên tố Đất chi phối thì lợi ích đến chậm; khi nguyên tố Nước chi phối thì lợi ích đến ngay; còn nguyên tố Gió và nguyên tố Lửa gây tổn thất; nguyên tố Akasha làm sự việc không thành.

199. Nguyên tố Đất có năm thuộc tính, nguyên tố Nước có bốn, nguyên tố Lửa có ba, nguyên tố Gió có hai, và nguyên tố Akasha có một. Đó là tri thức về các tattva.

200. Khi nguyên tố Đất xuất hiện dưới dạng rít, bùng, vỡ hay đổ gục, thì nó sẽ cho kết quả tương ứng với chính trạng thái ấy trong mọi công việc.

201. Dhanishtha, Rohini, Jyeshtha, Anuradha, Shravana, Abhijit và Uttarashada là bảy nakshatra thuộc nguyên tố Đất.

    Ghi chú: nakshatra là các tú/chòm sao trong chiêm tinh Ấn Độ; ở đây chúng được chia thành nhóm theo từng yếu tố.

202. Purvashadha, Ashlesha, Mula, Ardra, Revati, Uttarabhadrapada và Shatabhisha là bảy nakshatra thuộc nguyên tố Nước.

203. Bharani, Krittika, Pushya, Magha, Purvaphalguni, Purvabhadrapada và Svati là bảy nakshatra thuộc nguyên tố Lửa.

204. Vishakha, Uttaraphalguni, Hasta, Chitra, Punarvasu, Ashvini và Mrigashirsha là bảy nakshatra thuộc nguyên tố Gió.

205. Nếu người hỏi ngồi đúng về phía đang có swara chảy và hỏi chuyện lành hay dữ, thì các sự việc ấy sẽ được luận theo hướng và phía mà swara đang hiển lộ.

206. Dù swara mặt trời hay swara mặt trăng đang chảy với toàn lực thì chưa chắc đã cho kết quả; chỉ khi đi cùng với yếu tố thích hợp, thành bại mới được xác định rõ.

207. Shri Ramachandra và Arjuna đều giành thắng lợi khi những yếu tố thuận lợi trội lên; vì vậy, thành bại phụ thuộc rất lớn vào sự phối hợp giữa swara và tattva.

208. Có những người thanh tịnh nhờ nghiệp đời trước hoặc nhờ ân sủng của guru mà đạt được tri thức về các tattva.

209. Bija của nguyên tố Đất là Lam. Nó nên được quán như hình vuông, màu vàng, sáng như vàng ròng và thơm dịu; ai quán như vậy sẽ có thân nhẹ và sáng đẹp.

    Ghi chú: bija là ‘âm hạt giống’ của mantra; Lam, Vam, Ram, Yam, Ham là các âm tượng trưng cho những yếu tố khác nhau.

210. Bija của nguyên tố Nước là Vam. Nó nên được quán như hình bán nguyệt với ánh sáng dịu như trăng; ai quán như vậy sẽ chịu được đói khát và không khó chịu ngay cả khi chìm trong nước.

211. Ram là bija của nguyên tố Lửa, có hình tam giác và màu đỏ. Ai quán như vậy sẽ chịu được sức nóng lớn của mặt trời và lửa, đồng thời có thể tiêu hóa lượng thức ăn rất lớn.

    Ghi chú: Các hình vuông, bán nguyệt, tam giác hay vòng tròn là các biểu tượng quán tưởng truyền thống gắn với từng yếu tố.

212. Yam là bija của nguyên tố Gió. Nó có hình tròn và màu sẫm; ai quán như vậy có thể đi trong không trung như chim.

213. Ham là bija của nguyên tố Akasha, vô hình tướng và rực sáng nhiều vẻ. Ai quán như vậy sẽ đạt tri thức về ba thời và những quyền năng như anima.

214. Không có của cải nào lớn hơn sự hiện diện của người hiểu swara. Người đi đứng với tri thức về swara thì ở đâu cũng thành tựu công việc.

215. Parvati thưa: Lạy Thần của chư thần, lạy Mahadeva, làm sao khoa học swarodaya lớn lao này lại có thể cho biết quá khứ, hiện tại và tương lai?

216. Ishvara phán: Này người đẹp, tri thức về điều lành dữ, tài lộc, thời vận, chiến thắng và sự dò hỏi trong cả ba thời đều đến từ swarodaya; không có khoa học nào khác như vậy.

217. Việc lành dữ tùy nơi các tattva, thắng bại cũng tùy các tattva, phong nhiêu hay mất mùa cũng tùy các tattva. Vì vậy, các tattva được nói là chi phối cả ba thời.

218. Parvati thưa: Lạy Mahadeva, đâu là người bạn tối thượng của con người trong biển đời này, và điều gì có thể giúp họ thành tựu mọi mục đích?

219. Ishvara đáp: Này người mặt đẹp, prana chính là người bạn tối thượng, là bạn đồng hành tối thượng; không có thân hữu nào sánh bằng prana.

220. Parvati lại hỏi: Gió trú trong prana như thế nào? Thân có phải mang bản chất prana không? Và làm sao các yogi biết được prana đang vận hành trong các tattva?

221. Shiva đáp: Giữa thành phố thân thể này, prana như người giữ cửa. Khi đi vào, nó dài mười ngón tay; khi đi ra, nó dài mười hai ngón.

222. Khi đi bộ, nó dài hai mươi bốn angula; khi chạy, dài hơn nữa; khi giao hợp thì dài đến sáu mươi lăm; còn trong giấc ngủ thì dài một trăm.

223. Này Nữ thần, trạng thái tự nhiên của prana là dài mười hai angula; khi ăn hay nôn mửa, độ dài của nó thành mười tám angula.

224. Nếu yogi làm giảm được độ dài của prana chỉ một ngón tay thì sẽ bớt ham muốn; giảm được hai ngón thì được an lạc; giảm được ba ngón thì đạt sức mạnh đặc biệt.

    Ghi chú: anima là một trong các siddhi cổ điển; hamsa và ‘cam lồ Ganga’ ở đây mang sắc thái yoga-biểu tượng.

225. Nếu giảm được bốn ngón thì lời nói trở nên có hiệu lực; giảm được năm ngón thì có năng lực thấy xa; giảm thêm nữa thì các siddhi lần lượt xuất hiện.

226. Nếu giảm được đến tám ngón thì có thể đạt các siddhi như anima; nếu đến chín ngón thì đạt được chín loại bảo vật.

227. Nếu giảm độ dài của prana đến mười hai ngón thì người ấy đạt trạng thái hamsa và như uống được thứ cam lồ Ganga ở đỉnh đầu.

228. Đó là phương pháp đạt thành tựu nhờ điều khiển prana. Tri thức này chỉ đến qua kinh nghiệm trực tiếp và sự hành trì.

229. Nếu ngẫu nhiên buổi sáng không có swara mặt trăng và buổi chiều không có swara mặt trời, thì đến nửa đêm chúng nhất định sẽ xuất hiện.

230. Khi phải đi chiến đấu ở nơi xa, swara mặt trăng đem lại chiến thắng; nếu người ấy bước chân cùng phía với swara đang chảy ra trước, chiến thắng càng được củng cố.

231. Lúc bắt đầu hành trình, trong hôn lễ, hay khi vào nhà hoặc vào thành, swara mặt trăng luôn là điềm lành.

232. Nếu vào thời điểm phân hay chí, vào tithi hay thứ trong tuần, swara và tattva của một người cùng đi với vị chủ quản tương ứng, thì người ấy được xem là đặc biệt may mắn.

    Ghi chú: Các mốc như phân, chí, tithi và thứ trong tuần được dùng như những thời điểm để luận đoán hay hành nghi.

233. Trong chiến trận, nếu mặc giáp và niệm các âm tiết bảo vệ sinh mệnh, người ta sẽ sống sót và còn giành được chiến thắng đối với cả thế gian.

234. Trong các nghi lễ cầu an thì nên khởi hành khi nguyên tố Đất hay nguyên tố Nước đang chi phối; còn với những nghi lễ dữ hay mạo hiểm thì nên đi khi nguyên tố Lửa hay nguyên tố Gió đang trội lên.

235. Vũ khí nên được cầm ở bàn tay cùng phía với swara đang chảy. Cũng vậy, khi ra đi hay chiến đấu, thân thể phải được điều động theo phía của swara ấy.

236. Ai biết thu nhiếp Prana-vayu khi lên ngựa hay các phương tiện khác thì thường thành công trong việc mình làm.

237. Nếu khí lực swara của đối phương yếu còn phía mình mạnh, thì người ấy sẽ giành chiến thắng.

238. Nếu nadi đang chảy, thần chủ quản và phương hướng của chính nadi ấy cùng trội lên, thì điều đó đem lại thành công trong mọi loại công việc.

239. Trước hết nên thực hiện mudra rồi mới bước vào chiến trận. Ai dùng Sarpa-mudra sẽ đạt điều mong cầu và thắng lợi.

240. Khi swara mặt trăng hay swara mặt trời đang chảy mà nguyên tố Gió cũng trội lên, thì các bậc biết khoa học swara hiểu rằng điều ấy đặc biệt thuận cho chiến trận và hành động quyết liệt.

241. Quân đội nên được đưa đi chiến đấu theo hướng mà nguyên tố Gió đang hiện hành. Làm như vậy thì sẽ giành được chiến thắng, dù đối phương có mạnh đến đâu.

242. Nếu ở nadi nơi nguyên tố Gió đang hiện hành mà người ta kéo prana cùng phía ấy lên tận tai, thì người ấy có thể chiến thắng cả Purandara, tức Indra.

    Ghi chú: Purandara là một tên khác của Indra, vua của chư thiên.

243. Ngay cả kẻ địch rất mạnh cũng không thể phá vỡ sức lực của chiến binh biết bảo vệ toàn thân mình.

244. Ai tạo ra âm thanh từ khớp ngón cái, ngón trỏ và cả ngón chân cái thì có thể giành thắng lợi trước vô số chiến binh.

245. Nếu một người xuất phát khi nguyên tố Gió đang chảy trong swara mặt trăng hay swara mặt trời, người ấy có thể che chở bốn phương và đi tới đâu cũng chiếm ưu thế.

246. Nếu sứ giả nói lời mong cầu đúng vào lúc hít vào, thì điều người ấy nói sẽ thành hiện thực khi lên đường.

247. Những việc đã nói hay đã mong cầu đều thành tựu trong lúc hít vào và tiêu tan trong lúc thở ra.

248. Ở nam giới, nadi bên phải là cát tường; ở nữ giới, nadi bên trái là cát tường. Trong chiến trận, nadi của kumbhaka là mạnh hơn cả. Vì vậy, chỉ có ba nadi là thực sự tối quan trọng.

    Ghi chú: kumbhaka là sự nín giữ hay đình chỉ hơi thở trong thực hành yoga.

249. Làm sao có thể hiểu khoa học swara nếu không biết phân biệt các âm ha và sa? Nhờ hiểu đúng mối liên hệ giữa âm thở, hamsa hay so’ham và sinh lực, người ta mới nắm được bí quyết bảo toàn sinh lực.

    Ghi chú: ha và sa là hai âm tiết gắn với hơi thở; nhiều truyền thống giải chúng qua công thức hamsa hoặc so’ham.

250. Người ta đạt thành công khi biết gìn giữ sinh lực bằng cách làm đầy swara đang rỗng; bởi khi sinh lực bị đứt đoạn thì thân mạng dễ bị hủy hoại.

251. Nếu người hỏi hỏi từ phía trái hay phía phải, thì khi swara đầy phải đoán rằng không có thương tổn; còn khi swara rỗng thì phải đoán có thương tổn.

252. Nếu lúc có câu hỏi mà nguyên tố Đất ở vùng bụng, nguyên tố Nước ở bàn chân, nguyên tố Lửa ở đùi, và nguyên tố Gió ở tay, thì thương tổn sẽ xuất hiện ở những chỗ tương ứng ấy.

253. Nếu nguyên tố Akasha đang chảy thì có thể có thương tích ở đầu. Như vậy, có năm loại thương tổn được nói đến trong chiến trận.

254. Nếu swara mặt trăng chảy vào lúc chiến tranh thì phía bị xâm lược sẽ thắng; nếu swara mặt trời chảy thì bên tấn công sẽ thắng.

255. Nếu còn nghi ngờ về chiến thắng trong chiến trận, hãy xem ở giữa nadi: nếu Prana-vayu chảy qua đó thì có nguy cơ lớn từ phía đối phương.

256. Trong chiến tranh, phải đứng theo hướng của nadi đang chảy. Nếu nadi mặt trăng đang chảy thì nên đứng hoặc tiến hành theo hướng tương ứng của nó.

257. Nếu vào lúc chiến tranh mà nadi bên trái đang chảy, thì kẻ địch sẽ thắng và thậm chí có thể bắt được người xâm nhập.

258. Nếu vào lúc chiến tranh mà solar nadi chảy liên tục, thì bên chủ động tiến công sẽ giành chiến thắng, dù đối đầu với chư thần, asura hay loài người.

259. Ai bước vào chiến trận dưới dòng chảy của nadi bên trái thì dễ bị kẻ địch bắt giữ. Ai bước vào chiến trận dưới dòng chảy của Sushumna thì không gặp cản trở; còn nếu đi theo swara mặt trời thì sẽ thắng.

260. Nếu hai người cùng hỏi về chiến tranh mà full swara đang chảy, thì người hỏi trước sẽ thắng, còn người hỏi sau thì không.

261. Nếu một người tiến ra chiến trận dưới dòng chảy đầy đủ của nadi, thì kẻ thù sẽ phải rút lui về phía sau khi thấy khí thế của người ấy.

262. Nếu người hỏi ngồi bên trái và các âm tiết của câu hỏi hay của đối tượng được hỏi mang tính tương ứng, thì người hỏi ấy sẽ được phần thắng.

263. Nếu lúc hỏi mà swara mặt trăng đang chảy thì các phe giao chiến sẽ hòa giải; nếu swara mặt trời đang chảy thì chiến sự sẽ tiếp tục dữ dội.

264. Nếu chiến tranh bắt đầu dưới nguyên tố Đất thì kết quả giữa hai bên sẽ cân bằng; nếu bắt đầu dưới nguyên tố Nước thì sự việc sẽ nghiêng về phía thỏa hiệp hay nhượng bộ.

265. Nếu lúc có câu hỏi mà vì một lý do nào đó người ta không thể biết rõ swara, thì người thông minh phải dùng một cách khác để quyết định.

266. Người ấy nên với tâm trong sáng thả một bông hoa xuống đất. Nếu hoa rơi úp theo mặt thuận thì báo hiệu thành công; nếu không thì báo hiệu thất bại.

267. Nếu một người, dù đang đứng hay ngồi, mà điều hòa được Prana-vayu với tâm trong sáng, thì mọi việc của người ấy sẽ thành công.

268. Thời gian, vũ khí ghê gớm, rắn độc, kẻ thù, bệnh tật, trộm cướp và những thứ tương tự không thể làm hại người có prana an trú nơi khoảng trống.

269. Dù đang đứng hay ngồi, không để tâm tán loạn, người ta phải làm cho gió đứng yên trong jiva rồi lại khởi động nó từ jiva; làm được vậy thì nhất định thắng.

270. Mọi loại sức mạnh khác đều vô hiệu trước sức mạnh của người tinh thông khoa học swara, vì người biết swara luôn mạnh mẽ cả ở đời này lẫn đời sau.

271. Có người mạnh bằng mười, bằng trăm, bằng vạn hay bằng cả một vương quốc; nhưng chư thần như Indra lại mạnh hơn họ vô số lần, và người biết swara cũng có sức mạnh lớn lao như vậy.

272. Nữ thần thưa: Ngài đã dạy cách giành chiến thắng trong chiến tranh giữa loài người. Nhưng nếu xung đột với chính Yama thì con người phải thắng bằng cách nào?

273. Ishvara phán: Ai với tâm an định quán tưởng thần linh và dâng chính sinh lực mình trong kumbhaka, tức lúc giữ hơi, thì sẽ được toại nguyện, hưởng lợi lớn và chiến thắng.

    Ghi chú: Đây là phần về hấp dẫn, quyến phục và thụ thai theo swara; nó phản ánh bối cảnh tantra-yoga truyền thống, không phải y học hiện đại. Kumbhaka là giữ hơi thở; ở đây được xem như hành vi dâng sinh lực trong nghi quỹ nội tâm.

274. Toàn bộ thế giới có hình tướng này phát sinh từ Đấng Vô Tướng; khi thế giới có hình được biết đúng thật, nó lập tức trở về tính vô tướng.

275. Nữ thần thưa: Lạy Maheshvara, Ngài đã nói cách chiến thắng trong cuộc chiến với Yama; nay xin hãy nói cho con biết cách dùng Vasikarana đối với chư thần.

    Ghi chú: Vasikarana là phép làm cho người hay thần linh bị hấp dẫn hoặc quy phục.

276. Ishvara phán: Nếu một người dùng swara mặt trời của mình kéo swara mặt trăng của người nữ vào Jiva-mandala của mình, thì người nữ ấy sẽ bị hấp dẫn mãi mãi. Nhưng pháp này chỉ nên áp dụng với chính người vợ của mình.

277. Một jiva được nắm giữ bởi một jiva khác, và một jiva được trao cho một jiva khác; khi jiva đi vào chỗ của jiva kia, nó trở thành nguyên nhân của sự gắn bó suốt đời.

    Ghi chú: jiva chỉ sinh mệnh cá thể hay linh hồn cá nhân; ở đây dùng theo nghĩa khí lực-sinh mệnh.

278. Nếu vào nửa đêm, khi người nữ đang ngủ, người nam hấp thụ Sushumna-swara của nàng, thì nàng sẽ rơi vào sức quyến dẫn của người ấy.

279. Sau khi thời điểm ấy vừa qua, nếu người nam tụng Aṣṭākṣara-mantra rồi trao swara mặt trăng của mình cho người nữ, thì nàng lập tức sinh lòng yêu mến.

    Ghi chú: Aṣṭākṣara-mantra là mantra tám âm tiết, thường được xem là một mantra có uy lực đặc biệt.

280. Khi nằm cùng, khi giao hợp, hay chỉ cần chạm vào người nữ, nếu người nam dùng swara mặt trời của mình hút lấy swara mặt trăng của nàng, thì sức hấp dẫn của người ấy sẽ trở nên quyến rũ như thần Kama.

281. Nếu trong lúc giao hợp mà Shiva-svara, tức swara mặt trời, kết hợp với Shakti-svara, tức swara mặt trăng, hoặc nếu người nam trao swara mặt trăng của mình cho người nữ, thì người ấy có thể chinh phục hàng trăm phụ nữ.

282. Sau khi trao swara mặt trời của mình vào swara mặt trăng của người nữ, nếu sự gặp gỡ diễn ra vào các lần 9, 7, 3 hay 5, hoặc nếu đưa swara Surya của mình vào swara mặt trăng của nàng vào các lần 2, 4 hay 6, thì người nữ ấy sẽ bị hấp dẫn.

283. Kéo hai dòng swara Surya và swara Chandra của chính mình theo nhịp như rắn trườn, người ta nên đặt môi mình lên môi người nữ và làm cho hai dòng swara ấy gặp nhau như đã chỉ dạy.

284. Chừng nào người nữ còn ngủ, người nam nên uống lấy mật ngọt từ đôi môi nàng; khi nàng thức dậy, người ấy nên hôn cổ và đôi mắt nàng.

285. Bằng cách ấy, người nam có thể làm người nữ bị quyến phục. Nhưng theo mệnh lệnh của ta, phương pháp này không được truyền cho kẻ dâm loạn hay người có hạnh kiểm buông thả.

286. Về sự thụ thai: vào ngày thứ năm sau khi người nữ sạch kinh, nếu swara mặt trời của người nam và swara mặt trăng của người nữ đang chảy, thì giao hợp trong hoàn cảnh ấy sẽ sinh con trai.

287. Khi nguyên tố Nước và nguyên tố Đất đang chảy, người nữ nên uống sữa bò pha Shankhavalli rồi xin chồng mình giao hợp ba lần.

    Ghi chú: Shankhavalli là tên một dược thảo hay phương thuốc trong ngữ cảnh truyền thống.

288. Sau khi người nữ dùng thứ thuốc ấy sau kỳ kinh, người nam nên giao hợp với nàng. Việc ấy sẽ sinh ra một bé trai đẹp đẽ và dũng mãnh như sư tử.

289. Nếu người nam giao hợp dưới dòng chảy của swara mặt trời khi Sushumna đang xen vào, thì sẽ sinh ra đứa trẻ tật nguyền và xấu xí.

290. Sau kỳ kinh, vào những ngày lẻ, khi swara mặt trời của người nam chảy ngày đêm và swara mặt trăng của người nữ cũng vận hành, nếu việc thụ thai diễn ra dưới các nguyên tố Đất, Nước hay Lửa thì ngay cả người nữ hiếm muộn cũng có thể sinh con.

291. Nếu ngay từ đầu thời kỳ thụ thai mà swara mặt trời của người nam và swara mặt trăng của người nữ cùng chảy và hai người giao hợp, thì ngay cả người nữ hiếm muộn cũng có thể thụ thai.

292. Nếu lúc bắt đầu giao hợp người nam có swara mặt trời, nhưng sau khi xuất tinh thì swara mặt trăng bắt đầu chảy, người nữ sẽ không thụ thai.

293. Nếu vào lúc một phụ nữ mang thai hỏi mà nadi mặt trăng đang chảy, nàng mang thai con gái; nếu swara mặt trời chảy thì là con trai; nếu cả hai swara cùng chảy thì có thể dẫn tới sảy thai.

294. Nếu lúc có câu hỏi mà nguyên tố Đất hiện diện thì chỉ con gái; nếu nguyên tố Nước thì con trai; nếu nguyên tố Gió thì lại là con gái; nếu nguyên tố Lửa thì sảy thai; còn nếu nguyên tố Akasha thì sinh ra đứa trẻ bất lực.

295. Nếu lúc hỏi về tính chất của thai nghén mà swara mặt trăng hiện diện thì là con gái; nếu swara mặt trời thì là con trai; nếu Sushumna thì là đứa trẻ bất lực; còn nếu thân và tay chân của người hỏi không có dị dạng thì có thể đoán là con trai.

296. Này người đẹp, nếu người hỏi đến từ phía swara trống rỗng thì sẽ không có sinh nở; nếu cả hai swara cùng chảy thì là song thai; còn nếu swara thay phiên nhau, tức Sushumna chảy, thì sẽ sảy thai.

297. Nếu thụ thai dưới nguyên tố Gió thì đứa trẻ sinh ra sẽ đem lại đau khổ; dưới nguyên tố Nước thì sẽ nổi tiếng và đem lại an vui; dưới nguyên tố Lửa thì hoặc sảy thai hoặc đoản mệnh; dưới nguyên tố Đất thì đứa trẻ sẽ đẹp, giàu và thịnh vượng.

298. Nếu thụ thai dưới nguyên tố Nước thì đứa con sinh ra sẽ sống trong sung túc và khoái lạc, của cải không rời khỏi nó. Nếu thụ thai dưới nguyên tố Akasha thì sẽ dẫn đến sảy thai.

299. Nếu thụ thai dưới nguyên tố Đất thì sinh con trai, dưới nguyên tố Nước thì sinh con gái; còn dưới những yếu tố còn lại thì hoặc sảy thai, hoặc đứa trẻ sẽ chết yểu sau khi sinh.

300. Người ta nên sớm nhận từ guru tri thức để biết khi nào swara mặt trăng hiện hữu giữa swara mặt trời, và khi nào swara mặt trời hiện hữu giữa swara mặt trăng. Điều này không thể biết được chỉ bằng việc học Veda hay vô số shastra.

301. Về dự đoán cho cả năm: vào ngày đầu của nửa tháng sáng tháng Caitra, tức tháng mở đầu năm truyền thống, yogi trí tuệ phải quan sát sự phân biệt của swara để đoán kết quả cho cả năm.

    Ghi chú: Caitra là tháng mở đầu năm trong nhiều truyền thống lịch Ấn Độ.

302. Nếu vào lúc swara mặt trăng khởi lên mà nguyên tố Đất, nguyên tố Nước hay nguyên tố Gió hiện diện, thì năm ấy sẽ được mùa.

303. Nếu dưới swara mặt trăng mà nguyên tố Lửa hay nguyên tố Akasha hiện diện, thì sẽ có nạn đói lớn và nhiều khó khăn. Cũng theo cách ấy mà biết kết quả cho năm, tháng và ngày.

304. Sushumna-nadi được xem là dữ và bất lợi cho mọi loại công việc; nó gây tan hoang đất nước, dịch bệnh, đau khổ và nhiều tai ương khác.

305. Nếu quán sát sự khác biệt của swara vào lúc mặt trời chuyển sang cung Bạch Dương, thì người hiểu các yếu tố có thể đoán kết quả cho cả năm.

306. Nếu vào thời điểm ấy mà nguyên tố Đất và các yếu tố thuận khác hiện diện thì dự báo cho năm, tháng và ngày sẽ tốt; còn nếu nguyên tố Akasha, nguyên tố Gió hay nguyên tố Lửa hiện diện thì kết quả sẽ bất lợi.

307. Nếu vào thời điểm ấy nguyên tố Đất đang trội lên thì sẽ có thịnh vượng, mùa màng phong phú, mưa thuận và đời sống an ổn.

308. Nếu khi ấy nguyên tố Nước hiện diện thì sẽ có mưa dồi dào, phong nhiêu, ít bệnh tật, hạnh phúc và mùa màng sung túc.

309. Nếu nguyên tố Lửa hiện diện thì sẽ có nạn đói, quốc gia chia rẽ, sản xuất suy sụp và mưa vô cùng khan hiếm.

310. Nếu nguyên tố Gió hiện diện vào thời điểm ấy thì sẽ có tai biến, rối loạn, sợ hãi, ít mưa và nhiều côn trùng tai hại.

311. Nếu nguyên tố Akasha hiện diện vào thời điểm ấy thì phải biết rằng mùa màng và sự an vui đều sẽ thiếu thốn.

312. Nếu swara đi vào trạng thái tròn đầy thì các yếu tố thuận sẽ đem lại mùa màng đầy đủ. Nếu lúc các yếu tố khởi lên mà swara mặt trời và swara mặt trăng đảo ngược nhau, thì điều đó vẫn có thể đem lại lương thực và thịnh vượng.

313. Nếu nguyên tố Lửa hay nguyên tố Akasha hiện diện trong swara bên phải mà người ta bắt đầu tích trữ, thì trong vòng hai tháng có thể sẽ xảy ra khan hiếm khắp nơi.

314. Nếu ban đêm nadi mặt trời chảy, sáng ra nadi mặt trăng lại bắt đầu chảy, mà đồng thời có sự hội tụ của nguyên tố Akasha, nguyên tố Gió và nguyên tố Lửa, thì trên mặt đất sẽ xảy ra nhiều tai ương.

315. Về dự đoán bệnh tật: nếu lúc hỏi mà nguyên tố Đất hiện diện thì bệnh phát sinh do nghiệp riêng; nếu nguyên tố Nước hiện diện thì bệnh do ẩm trệ hay dịch thể; nếu nguyên tố Lửa hiện diện thì bệnh do nhiệt, đờm loạn hay đau đớn gây nên.

316. Nếu người hỏi ban đầu đứng về phía swara rỗng rồi chuyển sang phía swara đang chảy, thì người bệnh, dù đang hôn mê, vẫn chắc chắn sống sót.

317. Nếu người hỏi về tình trạng bệnh mà ngồi ngay phía swara đang chảy, thì người bệnh sẽ vượt qua cơn bệnh ấy.

318. Nếu nadi bên phải đang chảy mà người hỏi buông lời rất xấu, thì bệnh nhân vẫn sống. Nếu nadi mặt trăng chảy thì kết quả sẽ giữ nguyên như cũ.

319. Người đoán phải xem chính swara của mình. Nếu người hỏi đứng ở phía swara đang chảy và hỏi về sinh mạng của bệnh nhân, thì kết quả sẽ nghiêng về phía bệnh nhân còn sống.

320. Nếu câu hỏi được đưa ra đúng lúc hít vào của nadi trái hay phải, thì điều người hỏi mong cầu sẽ được thành tựu, điều này không có gì nghi ngờ.

321. Nếu lúc được hỏi mà người hỏi đứng ở chỗ thấp hơn, thì bệnh nhân chắc chắn sẽ sống; còn nếu đứng ở chỗ cao hơn, bệnh nhân sẽ chết.

322. Nếu Sushumna khởi lên mà người hỏi lại hỏi từ phía nadi rỗng, hơn nữa số âm tiết trong câu hỏi lại là số lẻ, thì kết quả sẽ bất lợi cho người ấy.

323. Nếu swara của chính người đoán đang ở phía mặt trăng mà người hỏi lại đứng về phía mặt trời, thì bệnh nhân, dù được trăm thầy thuốc chữa, vẫn sẽ chết.

324. Nếu swara của chính người đoán đang chảy qua Pingala mà người hỏi ngồi về phía trái rồi đặt câu hỏi, thì bệnh nhân vẫn sẽ chết, cho dù được chính Maheshvara che chở.

325. Chỉ cần một yếu tố đi ngược là bệnh đã trở nặng; nếu hai yếu tố đi ngược thì có hiểm họa từ bạn bè và thân quyến; nếu tình trạng ấy kéo dài suốt một tháng thì cái chết là chắc chắn.

326. Về dự đoán tuổi thọ và cái chết: người có năng lực phải xem thời điểm chết qua sự vận hành của vayu theo các đơn vị tháng, nửa tháng và năm.

327. Sinh mạng của người biết dùng tình thương của Shiva làm dầu nuôi thân năm yếu tố và biết giữ gìn nó bằng luồng gió như mặt trời sẽ được ổn định.

    Ghi chú: Những hình ảnh như ‘lấy tình thương của Shiva làm dầu’ hay ‘đóa sen là thân thể’ là ẩn dụ yoga, không nên hiểu theo nghĩa đen.

328. Người biết điều hòa hơi thở mà suốt ban ngày tránh để swara mặt trời hoạt động thì có thể kéo dài tuổi thọ nhờ thực hành ấy.

329. Vì mặt trăng đi trên trời nên ánh sáng của nó rơi xuống tưới mát đóa sen là thân thể này. Nếu một karma-yogi nương theo mặt trăng mà tu tập, người ấy sẽ trở nên bất tử.

330. Ai luôn tránh swara mặt trăng vào ban đêm và tránh swara mặt trời vào ban ngày thì mới thật là yogi, điều đó không có gì nghi ngờ.

331. Nếu hơi thở của một người cứ chảy mãi qua một lỗ mũi, thì người ấy sẽ chết trong vòng ba năm.

332. Nếu hơi thở cứ chảy mãi qua Pingala trong hai đêm liên tiếp, thì các bậc hiểu tattva nói rằng người ấy chỉ còn hai năm sống.

333. Nếu hơi thở chỉ chảy qua một lỗ mũi suốt ba đêm liền, thì người hiểu đạo nói rằng người ấy chỉ còn sống được một năm.

334. Nếu ban đêm swara mặt trăng chảy liên tục, còn ban ngày swara mặt trời cũng chảy liên tục, thì người ấy sẽ chết trong vòng sáu tháng.

335. Nếu nhìn bóng mặt trời trong nước mà thấy đĩa mặt trời bị khuyết ở phương nam, tây, bắc hay đông, thì tuổi thọ còn lại lần lượt là sáu, ba, hai hay một tháng. Nếu giữa bóng có lỗ thì chỉ còn mười ngày; nếu toàn bộ bóng rối loạn thì sẽ chết ngay trong ngày ấy.

336. Nếu có người mang những dấu hiệu như y phục đen, răng tổn thương, đầu cạo trọc, cầm dây, thân bôi dầu, nghèo khổ, rơi nước mắt lúc hỏi, cầm tro, than cháy, sọ người hay chày cối, đến sau lúc mặt trời lặn và chân tay tê liệt mà hỏi về bệnh nhân, thì bệnh nhân ấy sẽ chết.

337. Những xáo trộn đột ngột trong tâm, sự rối loạn đột ngột nơi giác quan, hay sự xuất hiện bất ngờ của những phẩm chất bất thường đều là dấu hiệu mê loạn.

338. Nay hãy nghe những quan sát của ta về người có thân lạnh đi, tâm trí rối loạn, và trên thân xuất hiện những dấu hiệu xấu, nhất là dấu hiệu cái chết đang đến gần.

339. Ai nói ra những lời báo điềm dữ, nói sai rồi sau đó hối hận, thì người ấy sẽ sớm chết, điều này không có gì nghi ngờ.

340. Người có tiếng humkara lạnh mà hơi rít lại nóng như lửa thì chắc chắn sẽ chết, dù có đại y chữa trị.

341. Bệnh nhân không thể thấy rõ lưỡi mình, bầu trời, sao Bắc Cực, dấu chân Vishnu, các Matrka, Arundhati, mặt trăng, sao Kim hay Agasti thì chắc chắn sẽ chết trong vòng một năm.

    Ghi chú: Arundhati và Agasti là các sao; Matrka là các ‘mẫu tự mẹ’ hoặc nhóm thần lực, còn dấu chân Vishnu là hình ảnh biểu tượng.

342. Ai không còn thấy được mặt trời, mặt trăng, lửa và cả ánh sáng của chúng thì chỉ còn sống mười một tháng.

343. Ai trong lúc tỉnh hay trong mơ mà thấy một ao đầy phân, nước tiểu, vàng hay bạc thì sẽ không sống quá mười tháng.

344. Người không còn thấy đèn hay vàng đúng như thật, hoặc thấy mọi loài đều biến dạng, thì sẽ không sống quá chín tháng.

345. Nếu bản tính của một người đột ngột thay đổi: từ mập thành gầy, từ gầy thành mập, từ đen thành ánh vàng, từ dũng cảm thành nhút nhát, từ sùng tín thành bất tín, hoặc từ điềm tĩnh thành bất ổn, thì người ấy chỉ còn sống được tám tháng.

346. Người thấy đau ở lòng bàn tay hay ở gốc lưỡi, máu trở nên đen sẫm, mà bị châm chích vẫn không thấy đau, thì sẽ chết trong vòng bảy tháng.

347. Người có ba ngón giữa không thể co lại, cổ họng khô dù không bệnh, và dù bị hỏi đi hỏi lại vẫn không trả lời nhất quán, thì sẽ chết trong vòng sáu tháng.

348. Người có da ở ngực trở nên mất cảm giác thì chắc chắn sẽ sớm được khiêng trên vai người khác, nghĩa là sẽ chết trong vòng năm tháng.

349. Người bị mờ mắt nhưng hai mắt vẫn đau thì sẽ chết trong vòng bốn tháng.

350. Người bị ấn vào răng hay tinh hoàn mà không còn cảm thấy đau thì sẽ chết trong vòng ba tháng.

351. Nay ta sẽ nói vắn tắt về khoa học Shiva nhờ đó có thể thấy trước Kala, tức cái chết, dù nó còn ở khá xa.

    Ghi chú: Phần này nói về phép quán bóng và mantra để nhận biết cái chết hoặc đạt tri kiến.

352. Hãy đến một nơi vắng vẻ, quay lưng về phía mặt trời, rồi chuyên tâm quan sát vùng cổ của bóng mình.

353. Sau đó nhìn lên trời và tụng ‘Hrim Parabrahmane Namah’ một trăm lẻ tám lần; như vậy sẽ thấy Shankara.

    Ghi chú: Hrim Parabrahmane Namah là một mantra; Parabrahman chỉ Thực Tại tối thượng, còn Shankara là một danh xưng của Shiva.

354. Ngài hiện ra như pha lê trong suốt và có thể mang nhiều hình dạng. Thực hành sáu tháng thì đạt uy lực lớn; nếu tiếp tục hai năm thì có thể thành người sáng tạo và hủy diệt trong cõi giới của mình.

355. Ai tiếp tục thực hành như vậy lâu dài sẽ đạt tri thức về cả ba thời, hưởng đại lạc, và không còn gì quá xa vời đối với mình.

356. Yogi nào thấy sắc Shiva trong cách quán ấy hiện thành màu đen thì sẽ chết trong vòng sáu tháng, điều đó không có gì nghi ngờ.

357. Nếu thấy sắc Shiva màu vàng thì sẽ gặp sợ hãi; nếu màu xanh thì gặp mất mát; nếu thấy nhiều màu cùng hiện thì yogi ấy sẽ đạt siddhi.

358. Nếu trong bóng phản chiếu mà không thấy bàn chân, cổ chân, bụng hay tay, thì yogi ấy chắc chắn sẽ chết.

    Ghi chú: Các dấu hiệu ở bóng, thị giác và cảm giác thân thể được xếp vào loại omen, tức điềm báo, trong truyền thống này.

359. Nếu không thấy tay trái thì vợ sẽ chết; nếu không thấy tay phải thì thân quyến sẽ mất, và trong vòng một tháng người ấy cũng sẽ chết.

360. Nếu bóng không có đầu thì sẽ chết trong vòng một tháng; nếu không có đùi thì trong tám ngày; và nếu chính cái bóng cũng biến mất thì cái chết đến ngay lập tức.

361. Buổi sáng, nếu quay lưng về phía mặt trời mà trong bóng không còn thấy các ngón tay hay môi, thì người ấy sẽ chết chỉ trong khoảnh khắc; nếu toàn bộ bóng, tai, vai, tay, miệng, hai bên thân hay tim đều không hiện, thì cái chết còn đến nhanh hơn nữa. Nếu đầu của bóng biến mất và người ấy cũng mất luôn khả năng định phương hướng, thì chỉ còn sống được sáu tháng.

362. Nếu swara mặt trời chảy liên tục trong mười sáu ngày, người ấy sẽ chết trong mười lăm ngày còn lại của tháng.

363. Nếu chỉ có swara mặt trời chảy mãi mà swara mặt trăng hoàn toàn không xuất hiện, thì cái chết sẽ đến trong vòng nửa tháng.

364. Nếu phân, nước tiểu và hơi cùng thoát ra một lúc, thì phải biết sinh lực đã rời rã và người ấy sẽ chết trong vòng mười ngày.

365. Nếu swara mặt trăng cứ chảy liên tục mà swara mặt trời không xuất hiện lấy một lần, thì người ấy sẽ chết trong vòng một tháng, theo lời những người hiểu về cái chết.

366. Nếu không thể thấy Arundhati, sao Bắc Cực, ba dấu chân của Vishnu và các Matrka, thì phải biết rằng tuổi thọ đã cạn.

367. Ở đây, Arundhati được hiểu là lưỡi, sao Bắc Cực là đầu mũi, dấu chân Vishnu là hàng chân mày, còn các ngôi sao là Matrka; ai không thấy được những dấu hiệu ấy thì tuổi thọ không còn bao nhiêu.

368. Ai không thấy chân mày thì sẽ chết trong chín ngày; ai không nghe được âm thanh thì chết trong bảy ngày; ai không thấy sao thì chết trong ba ngày; còn ai không thấy lưỡi mình thì chỉ còn một ngày.

369. Hãy nhẹ nhàng ấn vào khóe mắt; nếu làm vậy mà không còn thấy điểm sáng nào hiện ra, thì phải biết người ấy sẽ chết trong vòng mười ngày.

370. Cái chết có thể bị trì hoãn nhờ tắm nơi thánh địa, bố thí, khổ hạnh, việc thiện, trì chú, chuyên chú và hành yoga.

371. Các chất bẩn, các dịch và sự mất cân bằng phá hủy thân thể; còn vayu ở trạng thái quân bình thì làm tăng sức mạnh và ánh sáng sinh lực.

372. Vì vậy, thân thể phải được gìn giữ, bởi nó là phương tiện cho dharma và những mục đích cao quý khác. Sự thực hành yoga đem lại thành tựu; yoga làm được cả điều tưởng như không thể.

373. Những ai trong tim lóe sáng bí mật vô thủy và vô song của Shiva Swarodaya, thứ xua tan bóng tối và sáng dịu như trăng, thì ngay cả trong mộng cũng không sợ cái chết.

374. Ida là sông Ganga, Pingala là Yamuna, còn Sushumna ở giữa là Saraswati. Sự gặp gỡ của ba dòng ấy chính là Prayaga.

375. Trước hết là sadhana. Vì vậy, người hành giả nên ngồi Padmasana rồi thực hành Uddiyana, tức nâng Apana-vayu đi lên đến vùng rốn.

376. Để thanh lọc thân thể toàn diện, yogi phải biết Pranayama dưới ba mặt: Puraka, Kumbhaka và Recaka.

377. Puraka, tức hít vào, nuôi dưỡng thân thể và đưa các dịch thể về thế cân bằng; còn Kumbhaka, tức giữ hơi, bảo vệ cơ thể bằng cách giữ chúng ở đúng vị trí của mình.

378. Recaka, tức thở ra, tiêu trừ nghiệp xấu. Vì vậy, ai thực hành Pranayama thì đạt chỗ đứng của yoga. Yogi nào làm cho hơi thở ổn định thì có thể trì hoãn cái chết.

379. Tùy theo khả năng của mình, người ta phải giữ hơi một cách tự nhiên qua Kumbhaka; rồi nên thực hành Recaka bằng swara mặt trăng và Puraka bằng swara mặt trời.

380. Ai thỉnh thoảng để swara mặt trời hút swara mặt trăng và ngược lại, sẽ sống lâu như mặt trăng và các vì sao.

381. Yogi biết chặn nadi đang chảy và đồng thời không để luồng khí ấy thoát ra bằng miệng, thì dù tuổi già vẫn có thể trở lại vẻ trẻ trung.

382. Hãy dùng các ngón tay khép miệng, mũi, mắt và tai; pháp ấy được biết là sự khởi hiện của các yếu tố và là thực hành sáu cửa giác quan.

    Ghi chú: Yoni-mudra và Ṣaṇmukhīkaraṇa là tên các ấn pháp hay kỹ thuật phong bế các cửa giác quan trong yoga.

383. Nhờ pháp ấy, tức Yoni-mudra hay Ṣaṇmukhīkaraṇa, yogi có thể biết hình tướng, vận động, vị, khu vực và dấu hiệu của các yếu tố, cũng như con đường riêng của chúng trong sự tương tác lẫn nhau.

384. Yogi vô cầu và thanh tịnh không cần lo nghĩ điều gì; nhờ buông bỏ ham muốn, người ấy sẽ vượt thắng cái chết một cách nhẹ nhàng.

385. Toàn thế giới được tri nhận qua năng lực của đôi mắt. Nếu yogi giữ tâm cố định ở đó suốt một yama, thì sự tập trung ấy mang năng lực rất lớn.

386. Tuổi thọ của người ấy sẽ tăng thêm ba ghatika mỗi ngày; chính Shiva đã dạy điều này trong các tantra vì lợi ích của những người đã thành tựu.

387. Yogi ngồi Padmasana, chặn Apana-vayu ở vùng hậu môn rồi nâng nó lên, hợp nhất với Prana-vayu. Khi cả hai nhập một và đi vào Sushumna, người ấy phải dẫn chúng tới Brahmarandhra rồi giải phóng chúng vào con đường của hư không. Những yogi tận hiến nơi chân Shiva mà ra đi như vậy sẽ hưởng đại lạc vĩnh hằng.

    Ghi chú: Padmasana là thế hoa sen; Apana-vayu là khí đi xuống; Brahmarandhra là ‘đỉnh cửa Brahman’ ở đỉnh đầu theo giải phẫu vi tế.

388. Yogi nào hiểu pháp ấy và luôn học hành, thực hành nó, sẽ thoát khỏi mọi đau khổ và đạt được điều mình mong muốn.

389. Người có tri thức về swara thì Lakshmi luôn ở dưới chân mình, và ở đâu cũng hưởng mọi niềm vui cùng sự dễ chịu.

390. Cũng như trong mọi Veda, Pranava, tức âm Om, là tối thượng, hay trong hàng Brahmana mặt trời là bậc đáng tôn thờ, thì trong thế gian này người biết swara cũng đáng được tôn kính như vậy.

    Ghi chú: Pranava thường chỉ âm Om; Brahmana ở đây chỉ tầng lớp tư tế học Veda theo nghĩa truyền thống.

391. Hàng triệu phương dược trường sinh cũng không thể sánh với người hiểu ba nadi và đồng thời có tri thức về các yếu tố.

392. Trên mặt đất này không có gì đủ để trả món nợ dù chỉ một lời dạy của người hiểu được Nadi-bheda, tức tri thức phân biệt đúng các nadi.

    Ghi chú: Nadi-bheda là tri thức phân biệt hay nhận biết đúng các nadi.

393. Kết quả của chiến tranh, sự quyến phục nữ giới, thai nghén và bệnh tật đều có thể được dự đoán chính xác đến nửa kala nhờ tri thức về swara và các yếu tố của chúng.

    Ghi chú: kala là đơn vị thời gian nhỏ; siddha-yogi là hành giả đã thành tựu.

394. Như vậy, khoa học Svarodaya đã đến với thế gian và được các siddha-yogi truyền bá. Ai tụng đọc nó trong nguyệt thực hay nhật thực sẽ đạt được mọi siddhi.

395. Ai an trú nơi chỗ mình, ăn uống ít, chuyên tu tập trung tâm ý và biết Đấng Tối Thượng, người ấy sẽ đạt được tri thức về swara.


Gửi phản hồi