✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
“Khi vitakka và vicāra đã lắng xuống, tỷ-kheo chứng và trú trong jhāna thứ hai, một trạng thái đi kèm với sự an tĩnh bên trong và tâm trí hợp nhất, không còn vitakka cùng vicāra, tràn đầy pīti cùng sukha sinh ra từ trạng thái định tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho thân mình sung mãn và tràn đầy với pīti cùng sukha sinh ra do định tâm này, không một chỗ nào trên toàn thân không được thấm nhuần bởi pīti và sukha ấy.” (Kinh Trường Bộ 2.77)
Từ khóa Pali:
– samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung
– vitakka: suy nghĩ, suy tưởng
– vicāra: dò xét
– pīti: vui sướng, phấn khích
– sukha: hạnh phúc/niềm vui
Trong những lời kinh mô tả về các jhāna, ranh giới giữa jhāna thứ nhất và thứ hai được xác định khi vitakka và vicāra – tức suy nghĩ – hoàn toàn lắng xuống. Nếu chú ý thì bạn có thể thấy điều này mâu thuẫn với những gì tôi đã viết trước đó trong chương về jhāna thứ hai: dường như tôi chỉ ra rằng điểm phân định giữa jhāna thứ nhất và thứ hai xảy ra khi pīti và sukha đổi chỗ trước sau với nhau. Thế là thế nào? Câu trả lời là những gì tôi viết trong chương về jhāna thứ hai chỉ nhằm mục đích giảng dạy.
Nếu đọc kĩ những gì kinh mô tả về jhāna thứ hai, ta sẽ thấy cần có ba điều:
– vitakka và vicāra lắng xuống,
– [đạt được] trạng thái an tĩnh nội tâm,
– [đạt được] sự hợp nhất của tâm trí.
Quả thực thì ba điều này có thể xảy ra cùng một lúc, nhưng khi bạn đang cố học cách chủ động chuyển từ jhāna thứ nhất sang jhāna thứ hai thì đây thực sự là một thử thách. Thế nên khi làm theo hướng dẫn là hít vào một hơi sâu để chuyển đổi vị trí trước sau giữa pīti và sukha, bạn sẽ bắt đầu tạo ra trạng thái an tĩnh nội tâm ở một mức độ nhất định. Hiển nhiên, một khi vitakka và vicāra đã lắng xuống hoàn toàn, trạng thái an tĩnh nội tâm này sẽ rõ rệt hơn nhiều. Tuy nhiên việc chuyển đổi trước sau giữa pīti và sukha phục vụ hai mục đích: (1) pīti, đôi khi có thể mạnh đến mức khó chịu, giờ đây được đưa về một mức độ dễ chịu hơn nhiều; và (2) bắt đầu tạo ra trạng thái an tĩnh nội tâm.
Sau đó, để hoàn tất quá trình nhập vào jhāna thứ hai, bạn chỉ cần duy trì sự tập trung mạnh mẽ vào sukha (lạc), giờ đây đã nổi lên trước, cho đến khi vitakka và vicāra lắng xuống và tâm trí hợp nhất xung quanh trải nghiệm sukha-pīti (hỷ-lạc). Không thực sự phải “làm” gì nữa. Chỉ cần kiên nhẫn tập trung vào cảm giác hỷ-lạc. Nếu định lực trong cận định đủ mạnh, thì sau khi thực hiện bước chuyển trước-sau, vitakka và vicāra sẽ tự lắng xuống và trạng thái hợp nhất của tâm trí tự động sinh ra. Jhāna thứ hai đã đến.
Vậy tại sao tôi không dạy theo cách mà tôi đã mô tả ở trên? Từ góc độ lịch sử, lý do là khi học về jhāna, tôi đã được dạy chuyển từ jhāna thứ nhất sang thứ hai bằng cách chuyển đổi trước-sau như vậy. Chỉ mãi sau này tôi mới thực sự hiểu ý nghĩa của các bài kinh. Lúc đó, tôi nhận ra rằng mình đã thực sự trải nghiệm jhāna thứ hai giống như trong kinh mô tả, nhưng điều đó chỉ thực sự đến một thời gian sau khi thực hiện bước chuyển đổi trước-sau. Nghĩa là khi tôi cảm thấy mình đang dần đi sâu hơn vào jhāna thứ hai thì thực ra tôi mới chỉ vừa nhập vào đó thôi. Nhận thức này xuất hiện trong một khóa thiền dài ngày, nơi tôi có rất nhiều cơ hội để quan sát cẩn thận những gì đang diễn ra và có thể nhận dạng chính xác diễn biến thực tế. Nhưng tôi nhận thấy rằng không thực sự có một “cột mốc” để đánh dấu bước chuyển từ jhāna thứ nhất sang jhāna thứ hai. Bước chuyển trước-sau trong jhāna thứ nhất chậm rãi dọn đường cho một trạng thái định sâu hơn, với sự suy nghĩ dần lắng xuống trong khoảng thời gian đó. Khi định lực thực sự mạnh thì suy nghĩ sẽ hoàn toàn biến mất; nhưng khi định lực không đủ mạnh thì suy nghĩ sẽ không mất hẳn mà trở nên gián đoạn, yếu ớt và ở rất xa đằng sau đến mức không thể gây ra bất kỳ sự xao lãng nào. Tôi đã cân nhắc thay đổi cách dạy jhāna thứ hai nhưng nhận ra rằng, nếu không có một cột mốc rõ ràng để phân định điểm kết thúc của jhāna thứ nhất và điểm bắt đầu của jhāna thứ hai, tôi có khả năng gây ra sự hiểu nhầm nhiều hơn là cung cấp các hướng dẫn hữu ích hơn so với những gì tôi đã dạy trước đây. Vì bước chuyển trước-sau này có ích trong mọi trường hợp, thiền sinh chỉ cần thực hành theo lời hướng dẫn đã được trình bày trong chương trước về jhāna thứ hai:
Nếu tập trung hoàn toàn vào sukha và thực sự hòa mình vào trải nghiệm của niềm hạnh phúc/niềm vui này, suy nghĩ sẽ thực sự lắng xuống. Bạn càng ở lâu trong đó mà không bị phân tâm thì suy nghĩ sẽ càng mờ nhạt dần…
Nên duy trì sukha mạnh vừa phải và một tâm trí hợp nhất mạnh mẽ quanh trải nghiệm về sukha này. Nói cách khác là ta cần có niềm hạnh phúc/niềm vui vừa phải và sự tập trung nhất điểm mạnh mẽ.
Khi ấy, ta sẽ thực sự vào được jhāna thứ hai như trong kinh mô tả.
Các thiền sinh kể rằng đôi khi họ không chắc là mình đang ở trong jhāna nào; họ biết rằng mình đang rất định tâm nhưng không thể xác định rõ ràng các đặc tính của trạng thái tâm trí lúc đó. Thế nên việc có các cột mốc dễ nhận ra để đánh dấu điểm chuyển tiếp xem chừng rất có ích. Khi làm theo lời hướng dẫn trong chương về jhāna thứ hai, thiền sinh vừa có một điểm mốc rõ ràng, vừa thực sự tiến vào được jhāna thứ hai như mô tả trong kinh.
Vâng, tôi thừa nhận rằng mình thiên về tính thực tiễn hơn là chính xác. Nhưng vì các hướng dẫn thực tiễn giúp cho thiền sinh đạt được kết quả chính xác, nên tôi không có lý do gì để lo lắng về điều đó.
Kinh nói rằng vitakka và vicāra là cây gai cho jhāna thứ hai [1]. Một khi tâm trí đã bắt đầu hợp nhất và suy nghĩ đã lắng xuống, không có gì đảm bảo rằng sự suy nghĩ đó sẽ không quay lại. Nếu nó quay lại, thì theo định nghĩa bạn đang quay lại jhāna thứ nhất. Bạn chỉ cần tăng gấp đôi nỗ lực để tập trung vào sukha mà không xao lãng; khi suy nghĩ lại lắng xuống – và nó có thể lắng xuống khá nhanh chóng – bạn sẽ vào lại jhāna thứ hai. Đối tượng của jhāna thứ hai là sukha với pīti làm nền đằng sau [2], đối tượng này vi tế hơn nhiều so với pīti không-vi-tế-chút-nào trong jhāna thứ nhất. Thế nên bạn cần có định lực tốt để duy trì trong jhāna thứ hai.
[1] Tăng Chi Bộ 10.72: Kaṇṭaka Sutta, “Cây gai”.
[2] Trong Trường Bộ 9 (Poṭṭhapāda Sutta), chúng ta thấy rằng sau khi chuyển từ jhāna thứ nhất sang thứ hai, nhận thức tinh tế chân thật trước đây về pīti và sukha sinh ra từ sự xa lìa bây giờ biến mất. Khi ấy khởi lên một nhận thức tinh tế chân thật về pīti và sukha do sự định tâm sinh ra, và vị ấy có ý thức về pīti và sukha này.
Trong chương trước, ta đã thấy rằng toàn bộ ý tưởng về “các chi của jhāna thứ nhất” không phải là khái niệm hữu ích. Với jhāna thứ hai cũng vậy, nói về những đặc tính của jhāna thứ hai thì sẽ chính xác hơn nhiều thay vì nói về các chi phần của nó. Nhưng điều này không ngăn được Vi Diệu Pháp và các bài luận liệt kê các chi của jhāna thứ hai, gồm có:
– pīti
– sukha,
– ekaggata.
Tất nhiên, danh sách này bỏ qua hai đặc tính vô cùng quan trọng là trạng thái an tĩnh nội tâm (ajjhattaṃ sampasādana) và tâm trí hợp nhất (ekodi-bhavam). Tại sao không đưa chúng vào? Có lẽ sự hợp nhất của tâm trí được ngầm hiểu là đồng nghĩa với ekaggatā, mặc dù trong tiếng Pali, đây là hai từ khác nhau. Còn về sự tĩnh lặng nội tâm thì sao? Tôi chỉ có thể suy đoán rằng việc thêm các yếu tố bổ sung có thể đi ngược lại xu hướng trong các hướng dẫn về jhāna trong Vi Diệu Pháp và các chú giải. Những hướng dẫn này chủ yếu tuần tự loại bỏ từng chi cho đến khi chỉ còn lại hai chi : chi thứ hai luôn là ekaggatā, còn chi thứ nhất thay đổi qua từng jhāna khi đi từ jhāna thứ ba đến jhāna thứ tám.
Nếu liệt kê đúng các đặc tính của jhāna thứ hai thì sẽ gồm:
– ajjhattaṃ sampasādana,
– ekodi-bhavam,
– pīti,
– sukha.
Nhưng hãy nhớ rằng: tốt nhất nên xem đây là những đặc tính, không phải là các yếu tố (hay chi phần).
Tóm lại, kinh mô tả về jhāna thứ hai như sau: Hãy duy trì trong jhāna thứ nhất cho đến khi tâm trí tĩnh lại. Hãy để cho suy nghĩ lắng xuống trong lúc tâm trí hợp nhất quanh một trải nghiệm pīti và sukha êm ả hơn. Đây là lúc để nhập vào và an trú trong jhāna thứ hai, với trạng thái an tĩnh nội tâm và tâm trí hợp nhất. Không có bất kỳ suy nghĩ nào nữa. Lúc này, tâm trí tràn ngập pīti cùng sukha, sinh ra từ trạng thái định tâm.
