Lời mở đầu
Thầy Samael Aun Weor đã dạy rằng rất nhiều các trường học tâm linh và người thầy tâm linh hiện đại đang không dạy một con đường để thức tỉnh tâm thức một cách vĩnh viễn và hoàn toàn. Điều này gây sốc và xúc phạm các môn đồ của những trường phái đó, vì họ tin rằng người thầy của họ đã hoàn toàn thức tỉnh, hoặc ít nhất là họ đang đi trên con đường dẫn đến sự thức tỉnh hoàn toàn.
Nhiều lần thầy đã giải thích rằng Mặt Trăng tâm lý có hai mặt: một mặt chúng ta có thể nhìn thấy còn mặt kia thì không. Giống như Mặt Trăng cũng có hai mặt, một mặt có thể nhìn thấy và một mặt bị khuất ở phía bên kia. Do đó, thầy phải nói với các bạn rằng, Mặt Trăng tâm lý ở bên trong chúng ta cũng có hai mặt: một mặt có thể nhìn thấy, có nghĩa là các khuyết điểm có thể nhìn thấy bằng mắt thường, và một mặt ẩn, không thể nhìn thấy được.
Nhiều vị thánh đã tiến rất nhanh nhưng lại bị sa lầy vào niềm tin rằng mình đã loại bỏ được toàn bộ cái Tôi. Đúng là họ đã tiêu diệt được nhiều yếu tố phi nhân tính từ phần có thể nhìn thấy được của Mặt Trăng tâm lý, nhưng họ lại chưa làm tan rã các yếu tố phi nhân tính từ phần ẩn của Mặt Trăng tâm lý kia. Họ đắm mình trong Niết bàn hoặc Đại Niết bàn (Mahāparinirvāṇa), và cứ đinh ninh rằng những yếu tố không mong muốn trong tâm đã bị tan rã, đã bị nghiền nát. Chỉ mãi về sau họ mới nhận ra rằng mình vẫn chưa đến đích, rằng mình còn nhiều yếu tố không mong muốn ở trong phần ẩn của Mặt Trăng tâm lý.
Sau đó họ sẽ phải quay lại với công việc tu tập.
(Samael Aun Weor – Dòng Âm Thanh)
Pháp Śrāvaka (Thanh-văn Thừa)
Trong danh sách những phẩm tính có ở một số học trò đi theo con đường dẫn đến thức tỉnh tạm thời, đạo sư Phật giáo thời cổ đã liệt kê có “thái độ kiêu ngạo”. Khi nói chuyện với nhiều học trò của Phật giáo Nguyên thuỷ chúng ta thấy họ tin rằng họ vượt trội hơn so với Phật tử của những trường phái khác. Họ nghĩ rằng giáo lý của họ là một phiên bản thuần túy hơn của giáo lý Phật giáo có từ sớm nhất. Chúng tôi không mấy hi vọng rằng những học trò có thái độ kiêu ngạo kiểu này sẽ tin những gì chúng tôi viết ở đây.
Kinh Pháp Hoa nói rằng khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu giảng dạy giáo pháp Đại thừa, 5000 tín đồ Thanh-văn ngạo mạn đã rời bỏ tăng đoàn:
Sau đó Đức Thế Tôn lại nói với Xá-lợi-phất. “Này Xá-lợi-phất, nếu ta dạy ý nghĩa của điều này, nó sẽ làm kinh sợ chư thiên của thế giới này và những tỳ-kheo kiêu hãnh sẽ lao xuống vực sâu.”
Sau đó, Đức Thế Tôn đã nói câu này:
“Ta đã dạy pháp này đủ rồi.
(Kinh Pháp Hoa, chương 2, đoạn 41 & 42)
Trí tuệ này tinh tế và không thể phân tích được.
Ở đây có nhiều người ngu ngốc và ngạo mạn.
Họ sẽ không hiểu và sẽ bác bỏ lời dạy của ta.”
Tiếp theo, Xá-lợi-phất đã nài Đức Thế Tôn giảng pháp thêm hai lần nữa và sau lần thứ ba thì ngài đã đồng ý:
Ngay sau khi Đức Thế Tôn đồng ý, hơn năm ngàn tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ kiêu ngạo trong hội chúng đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu trước chân Đức Thế Tôn, và rời khỏi hội chúng. Vì họ kiêu ngạo nên họ tin rằng họ đã có được cội nguồn của công đức trong khi họ chưa có, và tin rằng họ đã chứng ngộ khi chưa có chứng ngộ. Họ đã nhận thức được lỗi của mình và rời khỏi hội chúng đó, Đức Thế Tôn cho phép họ làm như vậy bằng cách giữ im lặng.
(Kinh Pháp Hoa, chương 2, đoạn 48, bản dịch tiếng Anh của Peter Alan Roberts)

Gampopa là đệ tử chính của Milarepa, người sáng lập trường phái Kagyu của Phật giáo Tây Tạng. Milarepa được coi là Yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng. Gampopa nói những lời sau đây về những người theo Thanh-văn thừa:
Những người có tố chất Thanh-văn sợ hãi luân hồi, tin vào niết bàn, và có lòng từ bi hạn chế. Trong kinh chép:
“Nhìn thấy những đau khổ của luân hồi, họ sợ hãi; họ khao khát niết bàn một cách rõ ràng; họ không quan tâm đến làm việc vì lợi ích của chúng sinh: người nào mang ba đặc điểm này có duyên với Thanh-văn thừa.”
(Ornament of Precious Liberation by Gampopa, chương 1, bản dịch tiếng Anh của Ken Holmes)
Nói các Thanh-văn có lòng từ bi hạn chế thường khiến mọi người bối rối, vì rõ ràng là họ có lòng từ bi. Chúng tôi đã gặp nhiều học trò tâm linh có lòng từ bi ở một mức độ nào đó, nhưng họ tin rằng để thức tỉnh thì họ cần sống trong một nơi rất yên bình, cách xa mọi người. Họ cũng tin rằng họ không nên kết hôn hoặc lập gia đình. Rõ ràng là những niềm tin này giới hạn khả năng bày tỏ lòng từ bi của họ. Trong một số trường hợp, thái độ này có thể dẫn đến một trạng thái khô khan, vô cảm.
Kinh Pháp Hoa giải thích rõ ràng rằng con đường Thanh-văn là một giai đoạn trên con đường dẫn đến thức tỉnh hoàn toàn, nhưng nếu chúng ta chỉ theo đường Thanh-văn và không đi xa hơn, nó chỉ dẫn đến sự thức tỉnh tạm thời:
“[…] tất cả các Thanh-văn
(Saddharmapuṇḍarīka (Kinh Pháp Hoa), Chương 5, đoạn 103, bản dịch tiếng Anh của Peter Alan Roberts)
Tin rằng họ đã đạt được niết bàn.
Đấng chiến thắng dạy cho họ,
“Đây không phải là niết bàn, mà là một sự nghỉ ngơi.”
Pratyekabuddha Dharma (Duyên-giác thừa)
Ngày nay, có rất nhiều người tự thức tỉnh tâm thức của họ mà không cần theo thầy. Trong một số trường hợp, họ thức tỉnh mà không cần đọc bất kỳ cuốn sách tâm linh nào. Những người này được gọi là Bích-chi Phật (pratyekabuddhas).
Từ “Bích-chi Phật” được định nghĩa khác nhau trong các trường phái Phật giáo khác nhau. Định nghĩa chúng ta sử dụng trong Gnosis giống như định nghĩa được sử dụng bởi Gampopa, và bởi Phật tử Kim Cương thừa Tây Tạng nói chung.
Theo định nghĩa của Kim Cương thừa, Bích-chi Phật được thức tỉnh nhưng không phải là vĩnh viễn thức tỉnh. Họ không biết rằng sự thức tỉnh của họ chỉ là tạm thời và họ thường không biết con đường dẫn đến sự tỉnh thức hoàn toàn. Đôi khi môn đồ của một Bích-chi Phật tin rằng vị thầy của họ đã hoàn toàn thức tỉnh và khi ai đó nói khác đi thì họ cảm thấy bị xúc phạm.
Con đường Duyên giác thừa hay là Bích Chi Phật thừa không có gì sai. Đó là con đường tu hành đúng đắn. Tuy nhiên, chính vì họ thức tỉnh mà không theo một vị thầy nào, nên Bích-chi Phật lầm tưởng rằng thức tỉnh tạm thời là thức tỉnh vĩnh viễn. Nếu họ đi theo một bậc chân sư, thì vị thầy đó sẽ thử thách họ để kiểm tra mức độ thức tỉnh và thuyết phục họ rằng họ cần thực hành và học hỏi thêm để đạt đến khai ngộ hoàn toàn. Nhưng thay vì tìm kiếm một người thầy thực sự, các Bích-chi Phật hiện đại đi thuyết giảng và viết sách. Bằng cách này, họ làm rối trí các học trò tâm linh học và truyền bá những ý tưởng sai lầm về sự giác ngộ.
Về môn đồ theo Duyên-giác thừa, Gampopa nói như sau,
Ngoài ba đặc điểm trên, những người có tiềm năng theo Duyên-giác thừa còn có sự tự tin rất lớn, họ giữ im lặng về thầy của họ, và là những người cô độc. Người ta nói:
“Khốn khổ vì kiếp luân hồi, thiết tha với niết bàn, yếu lòng từ bi, quá tự tin, giữ bí mật về thầy mình, và yêu thích sự cô độc: người nào khôn ngoan nên nhận ra đây là những người có duyên với Duyên-giác thừa.”
(Ornament of Precious Liberation by Gampopa, chương 1, bản dịch tiếng Anh của Ken Holmes)
Một đặc điểm chính ta thấy ở môn đồ của các Duyên-giác thừa hiện đại, đó là hiểu biết nông cạn về thuyết nhất nguyên làm giới hạn lòng từ bi của họ. Ta thường nghe họ nói rằng họ không cần phải nỗ lực làm dịu đau khổ của chúng sinh vì các sinh linh không có bản ngã thực sự, và vì thế không có ai [bản ngã] nào ở đó chịu đau khổ. Người khác nói rằng vì bản chất thực sự của thực tại là phi hình thể, nên toàn bộ vũ trụ chỉ là ảo ảnh và không cần phải nỗ lực gì cả. Đây là lý lẽ mà môn đồ của Duyên-giác thừa dùng để bào chữa cho sự lười biếng và ích kỷ của họ.
Là những học trò Gnosis, chúng tôi đồng ý với những người theo Duyên-giác thừa rằng cái Tôi là một ảo ảnh và bản chất tối thượng của vũ trụ là phi hình thể. Tuy nhiên, chúng tôi bất đồng quan điểm với họ ở chỗ, chúng tôi không tin rằng sự ích kỷ và lười biếng dẫn đến sự thức tỉnh tối cao của tâm thức. Nếu một người thực sự tin rằng họ không có bản ngã, thì hãy để họ sống một cách không vị kỷ. Và nếu họ thực sự tin rằng đau khổ là ảo tưởng thì tại sao họ lại thích sự lười biếng hơn là nỗ lực hết mình?
Gampopa tiếp tục mô tả những người đang đi trên con đường thức tỉnh tạm thời như sau:
Mặc dù hai nhóm trên – những người có tiềm năng Thanh-văn và những người có tiềm năng Duyên-giác – có thể nhập vào hai thừa này và đạt được những kết quả tương ứng, nhưng những gì họ đạt được không phải là niết bàn thực sự.
Tại thời điểm đạt được thành tựu, do sự vô minh tiềm tàng, họ sẽ đạt được và tồn tại trong một cơ thể tinh thần vi tế nhờ vào nghiệp vô nhiễm trước đây của họ. Họ sẽ tin rằng trạng thái nhập định thâm sâu thanh tịnh mà họ đang tận hưởng là niết bàn, và tưởng rằng họ đã đạt được niết bàn.
Người ta có thể phản đối, “Nếu đây không phải là niết bàn thực sự, thì việc Đức Phật dạy hai con đường này thật không thích đáng.” Trên thực tế, việc Đức Phật dạy họ như Ngài đã làm là hoàn toàn thích hợp. Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau:Một số thương gia từ Jambudvīpa đã lên đường đến các đại dương xa xôi để lấy ngọc quý. Đến một lúc trong cuộc hành trình của họ, trong khi băng qua một vùng đất hoang vu rộng lớn, họ cảm thấy quá mệt mỏi và chán nản đến mức họ bắt đầu nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ có được những viên ngọc quý, và họ đã dự tính quay trở lại. Tuy nhiên, thông qua sức mạnh phép thuật của mình, người thủ lĩnh của họ đã tạo ra một tòa thành ảo ảnh vĩ đại để họ có thể nghỉ ngơi lại sức ở đó.
Giống như những thương nhân trong câu chuyện này, những người có quyết tâm yếu sẽ cảm thấy choáng ngợp khi họ biết được trí tuệ vĩ đại của chư Phật, và họ có thể cảm thấy rằng nhiệm vụ chứng ngộ quá khó khăn và vượt xa khả năng của những người như họ. Vì choáng ngợp mà họ cảm thấy rằng họ sẽ không bao giờ hoàn thành nhiệm vụ chứng ngộ đó, hoặc họ sẽ dễ dàng từ bỏ.
Bằng cách giảng dạy hai con đường của Thanh-văn thừa và Duyên-giác thừa, Đức Phật đã giúp họ đạt được trạng thái sảng khoái, chữa lành của một Thanh-văn hay Duyên-giác.
Khi họ đã nghỉ ngơi và cảm thấy tươi tỉnh trong trạng thái Thanh-văn hay Duyên-giác, Đức Phật biết rằng đã đến lúc khuyến khích họ đạt giác ngộ hoàn toàn.
Điều này được thực hiện như thế nào? Đức Phật truyền cảm hứng cho họ qua một thân thể hoàn hảo, lời nói thanh tịnh, và trí tuệ sáng suốt. Những tia sáng tỏa ra từ tâm trí Ngài. Khi những chùm sáng này chỉ vừa chạm vào thể tinh thần của họ, các Thanh văn và các Bích-chi Phật được thức tỉnh từ trạng thái thiền tập trung không tỳ vết của họ. Sau đó, Đức Phật thị hiện trong thân thể hoàn hảo của chính Ngài và dùng lời nói thanh tịnh của ngài để tuyên bố những điều sau:
“Hỡi các Tỳ kheo! Nếu chỉ làm những gì các vị đã làm, nhiệm vụ chưa hoàn thành và công việc vẫn chưa hoàn thành. Niết bàn của các vị không phải là niết bàn. Này các Tỳ kheo! Bây giờ hãy đến gần Như Lai và chú ý đến những gì Ngài nói; hãy hiểu sự chỉ dẫn của Ngài.”
Điều đó thúc đẩy họ. Điều này được dạy trong các bài kệ của Kinh Pháp Hoa:
“Hỡi các Tỳ kheo! Như vậy, ngày hôm nay ta nói với các vị rằng chỉ có thế này thì các vị sẽ không đạt được niết bàn, và để đạt được nhận thức thuần khiết về những bậc toàn trí thì các vị phải phát khởi nỗ lực cao cả và to lớn. Làm như vậy, các vị sẽ đạt được nhận thức thuần khiết biết tất cả mọi sự.”
Sau khi được khuyến khích theo cách này, các Thanh-văn và các Bích-chi Phật sẽ nuôi dưỡng Bồ đề tâm vĩ đại.
Khi đã hành xử như Bồ tát trong vô lượng kiếp, họ sẽ trở thành Phật. Điều này cũng được nêu đến trong Kinh Đi đến Laṅka. Trong Kinh Pháp Hoa có nói rằng: Tất cả những Thanh-văn nào chưa đạt được niết bàn, nhờ việc thực hành lối sống của Bồ tát, tất cả họ sẽ trở thành Phật.
(Ornament of Precious Liberation by Gampopa, chương 1, bản dịch tiếng Anh của Ken Holmes)
Lời giải của Samael Aun Weor
Ở Phương Đông, người ta nói rõ về hai loại người đi theo con đường này: loại thứ nhất được gọi là Thanh văn [śrāvaka], và loại thứ hai được gọi là Bích chi Phật [pratyeka-budhha]. Hiển nhiên, họ là những người tu khổ hạnh và biết rằng cảm nhận sai lầm của cái tôi dẫn chúng ta đến thất bại. Họ đã nỗ rèn luyện bản thân, họ đã thọ giới, và một vài trong số họ thậm chí đã tan rã được cái tôi, nhưng họ không nỗ lực cho người khác, không làm gì cho đồng loại của mình cả.
Rõ ràng, các vị Thanh văn và Bích chi Phật được hưởng một sự khai sáng và niềm hạnh phúc nhất định, nhưng họ chưa trở thành những vị Bồ tát đích thực, theo nghĩa chính xác nhất của từ này.
“Bồ đề tâm” nghĩa là gì?
Nói đơn giản thì một vị Bồ tát hiện diện ở các cõi trong suốt nhiều đời kiếp và từ bỏ hạnh phúc của bản thân để làm việc vì nhân loại. Họ có các cơ thể hiện sinh bằng vàng ròng bởi vì đó chính là Bồ đề tâm. Bồ đề tâm là các cơ thể hiện sinh cao cấp của Bản thể với trí tuệ và trải nghiệm có được từ vô vàn thời đại nối tiếp nhau. Bồ đề tâm của một vị Phật chính là một vị Bồ tát đã được chuẩn bị một cách đúng đắn để có thể thực thi hiệu quả mọi công việc mà đức Phật nội tâm đã giao cho ngài.
Các bạn có nghĩ rằng một vị Bồ tát mà đã thực sự phát triển bản thân trên nền tảng sống của Bồ đề tâm có thể thất bại trong những công việc mà vị đó phải làm hay không? Rõ ràng là không, vì vị đó đã được chuẩn bị kĩ càng. Khi nói về “Bồ đề tâm” chúng ta đang nói về tất cả những kinh nghiệm, tất cả kiến thức có được qua nhiều thời đại, những cơ thể bằng vàng ròng, và trí tuệ vĩ đại của vũ trụ.
Rõ ràng, vị Bồ tát nào có Bồ đề tâm như vậy thì hiện diện qua nhiều đại kiếp [Maha-Manvantara] và cuối cùng trở thành một đấng toàn tri. Các vị Bồ tát phải nỗ lực để đạt đến sự toàn tri bởi vì không ai cho không sự toàn tri cả. Sự toàn trí là sản phẩm của nhiều đời kiếp sống trong vũ trụ và của việc không ngừng từ bỏ [hạnh phúc để hy sinh cho chúng sinh]. Vị Bồ tát có Bồ đề tâm trong mình, nghĩa là có tổng hợp những trải nghiệm, kiến thức, các cơ thể vàng ròng, v.v., thì sẽ không bao giờ để cho mình bị dẫn dắt bởi cảm xúc sai lầm của cái tôi.
(Samael Aun Weor – Cảm xúc Nhầm lẫn của Cái Tôi)
