✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Do hân hoan nên hỷ sanh.(Kinh Trường Bộ 2.76)
Từ khóa Pali:
- samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung
- pāmojja: hân hoan, niềm vui trần thế
- pīti: sung sướng, say mê, hưng phấn, ngây ngất, vui thích [1]
- sukha: hạnh phúc, niềm vui. [2]
[1] Kinh tiếng Việt hay dịch là “hỷ”.
[2] Kinh tiếng Việt hay dịch là “lạc”.
Trong thực hành ānāpānasati – niệm hơi thở – có một số dấu hiệu bổ sung để nhận ra cận định. Hơi thở trở nên rất vi tế; thay vì như hơi thở bình thường, hơi thể có thể trở nên rất nông. Bạn thậm chí có thể thấy như mình đã ngừng thở hoàn toàn. Đó là những dấu hiệu cho thấy có thể bạn đã vào cận định. Nếu hơi thở trở nên rất nông, và đặc biệt nếu có cảm giác như ngừng thở, một cách tự nhiên chúng ta sẽ muốn hít một hơi thật sâu dễ chịu và tiếp tục. Sai! Việc này sẽ có xu hướng làm suy yếu sự định lực. Khi hít vào một hơi thật sâu như vậy, định lực sẽ giảm đi. Cứ duy trì với hơi thở nông. Không sao cả. Bạn không cần quá nhiều oxy vì đang ở trạng thái rất yên tĩnh cả về thể chất lẫn tinh thần.
Nếu hơi thở trở nên rất, rất vi tế, hoặc có thể biến mất hoàn toàn, thay vì hít vào một hơi sâu thì hãy chuyển sự chú tâm từ hơi thở sang một cảm giác dễ chịu. Đây là mấu chốt. Hãy chú ý đến hơi thở cho đến khi đạt được và duy trì được cận định. Sau đó, hãy chuyển sự chú tâm từ hơi thở sang một cảm giác dễ chịu, tốt nhất là một cảm giác trên thân thể. Khi hơi thở đã trở nên cực kỳ vi tế hoặc đã biến mất hoàn toàn thì không còn ích gì trong việc cố gắng chú ý đến nó nữa – không còn gì để chú ý nữa.
Nếu đạt được cận định (là trạng thái hoàn toàn hiện diện với đối tượng thiền và không bị xao lãng ngay cả khi có những ý nghĩ mờ nhạt đằng sau) và có thể duy trì trạng thái này từ năm, mười đến mười lăm phút, bạn cũng có thể chuyển sự chú tâm từ hơi thở sang một cảm giác dễ chịu, ngay cả khi hơi thở vẫn còn rõ ràng. Cho dù chuyển sang quan sát cảm giác dễ chịu vì hơi thở đã trở nên quá vi tế hay vì đã ở cận định “đủ lâu”, bạn vẫn sẽ cần một định lực tốt để tiếp tục tập trung vào cảm giác dễ chịu đó. Một cảm giác dễ chịu êm ái vật chất ở đâu đó trên thân thể thì không hứng thú bằng hơi thở đi vào và đi ra. Bạn chỉ đang trải nghiệm một cảm giác dễ chịu nhẹ nhàng ở đó; bạn sẽ cần phải rất tập trung để theo dõi nó.
Khi tôi nói “Chuyển sự chú tâm sang một cảm giác dễ chịu”, câu hỏi đầu tiên nảy ra có thể là “Cảm giác dễ chịu nào?” Thực tế là khi đã đạt đến cận định thì khả năng cao là sẽ có một cảm giác dễ chịu xuất hiện trên thân thể. Hãy để ý rằng hầu hết các bức tượng Phật đều có một nụ cười thoáng qua trên gương mặt. Nụ cười đó không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn mang theo một lời chỉ dạy. Hãy mỉm cười nhẹ khi thiền, bởi vì khi đã đạt đến cận định thì chỉ cần dịch chuyển sự chú ý một chút là có thể tìm thấy một cảm giác dễ chịu.
Bây giờ, khi nói rằng “Hãy mỉm cười khi thiền”, phản ứng của bạn có thể là “Tôi không cảm thấy muốn cười khi thiền”. Tôi biết cảm giác này vì trước đây khi được hướng dẫn mỉm cười, phản ứng của tôi cũng là “Tôi không muốn cười”. Được rồi, vậy là bạn cảm thấy không muốn cười. Tuy vậy, hãy thử mỉm một nụ cười khi bắt đầu thiền và cứ khi nào hết thì hãy mỉm cười lại. Cứ như vậy cho đến khi cận định, nụ cười đó sẽ có cảm giác thật hơn.
Việc mỉm cười khi thiền có tác dụng rất tốt để tạo ra cảm giác dễ chịu, có thể dùng làm đối tượng tập trung sau khi đã vào cận định; nhưng thực tế thì phương pháp mỉm cười dường như chỉ có tác dụng với khoảng một phần tư số thiền sinh mà tôi đã hướng dẫn. Nền văn hóa này có quá nhiều người luôn được bảo rằng “Hãy mỉm cười dù bạn có muốn hay không”. Và thế là giờ đây khi tôi nói rằng “Hãy mỉm cười dù bạn có muốn hay không”, có thể phản ứng của bạn sẽ là “Không, tôi sẽ không làm vậy”. Được rồi, vậy thì không cần cười khi thiền. Bạn sẽ phải tìm một cảm giác dễ chịu khác.
Cảm giác dễ chịu xuất hiện ở rất nhiều vị trí. Sau khi đã vào cận định, hầu hết mọi người cảm thấy dễ chịu ở hai bàn tay. Khi thiền, hãy đặt tay ở một vị trí thoải mái sao cho bạn có thể để yên ở đó. Tư thế tay truyền thống là tay này nắm tay kia, với hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau. Đây là một tư thế khá tuyệt vời vì nó có tác dụng phụ là đẩy vai ra sau và chỉnh cho cột sống được thẳng. Khi đặt tay ở vị trí như vậy, nhiều người nhận thấy rằng rốt cuộc có một cảm giác dễ chịu, hơi râm ran thoải mái xuất hiện ở hai bàn tay. Nhưng bạn cũng có thể đặt tay ở các tư thế khác tuỳ theo cảm nhận của mình. Sau khi đã ở cận định “đủ lâu”, nếu nhận thấy có một cảm giác dễ chịu thoải mái ở bàn tay, hãy chuyển sự chú tâm từ hơi thở sang tập trung hoàn toàn vào cảm giác dễ chịu ở tay đó.
Một chỗ phổ biến khác mà mọi người hay có cảm giác dễ chịu là ở giữa trái tim, đặc biệt là khi họ đang thực hành thiền mettā – thiền tâm từ, để nhập cận định. Chỉ cần chuyển sự chú tâm sang sự dễ chịu của cảm giác đó. Những chỗ khác mà mọi người hay thấy dễ chịu nữa bao gồm ở con mắt thứ ba, ở đỉnh đầu, ở vai – thực ra, cứ nói đến một bộ phận nào trên cơ thể là tôi đều đã có vài thiền sinh tìm thấy cảm giác dễ chịu ở đó, nơi họ có thể tập trung đủ lâu để nhập vào jhāna đầu tiên.
Cảm giác dễ chịu xuất hiện ở đâu không quan trọng; quan trọng là có một cảm giác dễ chịu và bạn có thể tập trung vào đó, và – đây mới là phần thực sự khó – không làm gì khác nữa.
Ban đầu, thường thì tâm trí sẽ lang thang ra khỏi cảm giác dễ chịu tinh tế đó, hoặc là chính cảm giác dễ chịu đó biến mất. Ngay khi nhận ra tâm trí đang đi lạc, hãy đưa nó quay lại với cảm giác dễ chịu. Nhưng nếu tâm trí cứ liên tục đi lang thang thì đó là dấu hiệu của sự thiếu định lực; khi ấy hãy trở lại với niệm hơi thở hoặc phương pháp nhập cận định mà bạn đang thực hành; phục hồi lại cận định, và ở đó lâu hơn trước khi một lần nữa chuyển sự chú ý sang cảm giác dễ chịu.
Nếu cảm giác dễ chịu biến mất thì bạn thực sự không có lựa chọn nào khác ngoài việc quay lại với phương pháp nhập cận định trước đó. Cảm giác dễ chịu biến mất chắc chắn là dấu hiệu cho thấy định lực chưa đủ. Cũng vậy, hãy phục hồi lại cận định và duy trì ở đó lâu hơn trước khi lại chuyển sự chú tâm sang cảm giác dễ chịu.
Một điều rất quan trọng nữa là hãy buông hoàn toàn hơi thở khi chuyển sang tập trung vào cảm giác dễ chịu. Hơi thở (hoặc đối tượng thiền khác) là chìa khóa để đưa bạn vào. Từ “vào” ở đây đồng nghĩa với việc thiết lập cận định đủ mạnh. Khi đi làm về, bạn lấy chìa khóa ra, mở cửa và đi vào nhà. Sau đó bạn đâu có đi loanh quanh với chiếc chìa khóa trong tay – bạn cất nó vào túi hoặc trong ví, hoặc đặt lên bàn. Bạn đâu có nấu cơm hay xem TV với chiếc chìa khóa trong tay! Chiếc chìa khóa đã hoàn thành công việc của mình, và bạn cất nó đi. Với hơi thở hay đối tượng thiền khác cũng chính xác như vậy. Cất nó đi và tập trung tuyệt đối vào cảm giác dễ chịu. Đương nhiên, điều này nói thì dễ hơn làm. Sau một thời gian vật lộn để dính chặt vào hơi thở, và giờ đây khi rốt cuộc bạn cũng làm được việc đó thì điều đầu tiên người ta bảo bạn là buông bỏ hơi thở. Nhưng thực sự là như vậy – nếu muốn trải nghiệm các jhāna, bạn cần phải tập trung hoàn toàn vào việc tận hưởng sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu đó.
Vậy là bạn đã tìm thấy cảm giác dễ chịu và đã hoàn toàn chuyển sự chú tâm sang cảm giác dễ chịu đó. Bây giờ, hãy quan sát sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu và không làm gì khác cả. Nếu làm được như vậy, cảm giác dễ chịu sẽ bắt đầu tăng lên; nó sẽ trở nên mạnh hơn. Việc này sẽ không đi theo một đường thẳng. Ban đầu không có gì xảy ra cả. Sau đó cảm giác đó sẽ tăng lên một chút, rồi tăng thêm một chút nữa, và rồi tỏa ra và tăng thêm một chút nữa… Rồi cuối cùng, nó sẽ đột ngột cất cánh và đưa bạn vào một trạng thái tâm thức khác thường rõ ràng.
Trong trạng thái tâm thức khác thường này, bạn sẽ ngập chìm trong niềm vui thích… say mê… hưng phấn… ngây ngất. Đây là những từ ngữ được dùng để dịch cho pīti trong tiếng Pali. Có lẽ chữ hay nhất để dịch pīti là “sung sướng”. Pīti chủ yếu là một cảm giác vật lý, có khả năng cuốn bạn vào trạng thái ý thức khác thường một cách mạnh mẽ. Nhưng pīti không hoàn toàn là vật lý; như các kinh đã nói, “Vì có hỷ nên tâm phấn khích…” [3] Bên cạnh năng lượng vật lý và sự phấn khích của tâm, pīti sẽ đi kèm với một cảm xúc vui sướng và hạnh phúc. Từ Pali cho niềm vui sướng/hạnh phúc này là sukha, ngược lại với dukkha (khổ, đau). Và nếu có thể chú tâm vào trải nghiệm pīti và sukha này mà không bị xao lãng thì đó là jhāna đầu tiên.
[3] Kinh Trường Bộ 1.3.23
Vậy tóm tắt lại phương pháp để nhập jhāna đầu tiên: ngồi trong một tư thế thẳng lưng thoải mái, vào cận định bằng cách đặt sự chú tâm vào một đối tượng thiền duy nhất và duy trì sự chú tâm đó. Khi cận định đã được thiết lập vững chắc, chuyển sự chú tâm từ hơi thở (hoặc đối tượng thiền của bạn) sang một cảm giác dễ chịu, tốt nhất là một cảm giác dễ chịu trong thân thể. Hãy đặt sự chú tâm vào cảm giác đó, rồi duy trì sự chú tâm đó và không làm gì khác.
Khó là ở chỗ “không làm gì khác”. Khi chú tâm vào cảm giác dễ chịu, và không có gì xảy ra, bạn có thể tự nghĩ, “Sách nói rằng phải có điều gì đó xảy ra”. Không, tôi không bảo phải nhận xét về việc trải nghiệm cảm giác dễ chịu. Hoặc bạn có thể chú ý đến cảm giác dễ chịu đó, rồi nó bắt đầu tăng lên, thế là bạn nghĩ “Ồ! Ồ! Có gì đó đang xảy ra này!” Không, đừng làm thế – làm thế chỉ khiến nó biến mất mà thôi. Hoặc cảm giác đó hiện lên chỉ một chút, rồi dừng lại, và bạn kiểu như cố gắng cứu vớt nó. Không, những việc này không có tác dụng gì hết. Chỉ cần quan sát cảm giác dễ chịu thôi.
Hãy chìm trong sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu. Và ý tôi chính xác là như vậy: sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu – cái tính chất của cảm giác khiến bạn xác định được rằng đó là cảm giác dễ chịu, thay vì là khó chịu hoặc không ra cái gì cả. Sự tập trung không phải ở vị trí của cảm giác dễ chịu, cũng không phải cường độ hay trường độ của cảm giác đó. Không phải là việc cảm giác dễ chịu đó đang tăng lên, giảm đi hay giữ nguyên. Hãy chỉ tập trung hoàn toàn vào khía cạnh dễ chịu của cảm giác dễ chịu, và jhāna sẽ tự xuất hiện. Đến đây thì tôi phải thừa nhận rằng cảm giác đó sẽ tập trung ở một khu vực cụ thể và sự chú tâm của bạn sẽ nhắm vào khu vực đó. Vậy cũng được, chỉ cần đừng để bị cuốn vào vị trí đó; hãy duy trì với việc thuần túy tận hưởng sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu.
Điều duy nhất có thể làm là tạo điều kiện cho jhāna xuất hiện, bằng cách nuôi dưỡng một tâm trí yên và tĩnh, tập trung vào cảm giác dễ chịu. Và rồi chỉ cần buông bỏ – hợp nhất mình với tâm trí yên tĩnh đang tập trung vào sự dễ chịu và tận hưởng sự dễ chịu – và jhāna sẽ xuất hiện. Bất kỳ nỗ lực nào làm thêm bất kỳ điều gì khác đều không có tác dụng. Hãy “là” một con người, thay vì “làm” một con người. Hãy trở thành một con người chỉ đơn thuần tập trung vào cảm giác dễ chịu đang hiện diện một cách thuần túy, và rồi jhāna sẽ tự xuất hiện.
Ở đây chúng ta đang cố gắng thiết lập một vòng phản hồi tích cực. Một ví dụ về vòng phản hồi tích cực là tiếng chói tai từ loa phát ra khi đưa micrô lại quá gần. Nguyên nhân là âm thanh xung quanh phòng đi vào micrô, được bộ khuếch đại phóng to lên và phát ra qua loa to hơn. Rồi tiếng đó lại đi vào micrô, được khuếch đại hơn nữa, phát ra to hơn nữa, rồi lại đi vào micrô lần nữa và cứ thế lặp lại. Bạn đang cố gắng làm chính xác như vậy, chỉ khác là thay vì một vòng phản hồi của tiếng ồn thì bạn đang cố tạo ra một vòng phản hồi tích cực của sự dễ chịu. Duy trì sự chú tâm vào một cảm giác dễ chịu. Cảm giác đó thật tuyệt, nó làm cho trải nghiệm của bạn thêm thoải mái. Và chính điều này lại giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn nữa, và cứ thế cho đến khi – thay vì một tiếng ồn chói tai là sự phun trào của niềm vui sướng hân hoan được gọi là pīti và sukha.
Hãy tưởng tượng tâm trí như một cái ao tĩnh lặng – tĩnh lặng nhờ cận định. Bây giờ hãy thả vào một viên sỏi của niềm vui thích. Các gợn sóng sẽ tỏa ra đến tận “bờ” của hộp sọ bạn rồi dội lại và hợp lại với nhau. Khi gặp nhau thì chúng sẽ củng cố lẫn nhau, tạo ra những làn sóng cao hơn. Tuy nhiên vì đây không thực sự một hệ thống vật lý, nên nếu không có gì xáo trộn thì các gợn sóng sẽ tiếp tục lên cao hơn và không mất đi; chúng tiếp tục dội từ bờ vào lại và củng cố thêm lẫn nhau. Đây là điều chúng ta tìm kiếm. Tuy nhiên việc này đòi hỏi bạn không được khuấy động nước trong ao; làm như thế chỉ phá hỏng hiệu ứng dội lại và củng cố, và cả hệ thống sẽ không tiếp tục tạo ra sóng cao hơn [4].
[4] Điều này tất nhiên không liên quan gì đến những gì thực sự xảy ra từ góc độ khoa học thần kinh – đây chỉ là một cách hình tượng để diễn đạt kết quả của việc yên lặng tập trung vào sự dễ chịu của cảm giác dễ chịu.
Đây là hướng dẫn để nhập vào jhāna đầu tiên. Đừng kỳ vọng rằng sự định tâm cần thiết sẽ sớm xuất hiện. Thực ra, đừng kỳ vọng bất cứ điều gì! Kỳ vọng là thứ tệ nhất trong một khóa thiền, và cũng có hại không kém khi thực hành ngoài khóa thiền. Hãy cứ thực hành theo đúng phương pháp thiền. Và khi cận định xuất hiện, hãy nhận biết nó, duy trì nó “đủ lâu”, rồi chuyển sự chú tâm sang một cảm giác dễ chịu. Đừng cố gắng nhập vào jhāna bởi bạn không thể. Điều duy nhất bạn có thể làm là tạo ra các điều kiện để jhāna có thể khởi lên từ đó. Khi các điều kiện đã được thiết lập thì hãy biết điều đó, rồi kiên nhẫn chờ jhāna đến.
Một số vấn đề có thể gặp khi thực hành nhập jhāna
Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. (Kinh Trường Bộ 2.41)
Con đường trải nghiệm jhāna không phải là con đường dễ dàng. Có nhiều ngã rẽ khiến mọi việc đi sai hướng, nhiều cách khiến bạn nỗ lực rất nhiều nhưng vẫn không trải nghiệm được jhāna nào. Phần này xem xét một số khó khăn có thể gặp phải trong quá trình học jhāna.
Vấn đề thường gặp nhất, khá hiển nhiên, là không đủ định lực. Việc này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân khác nhau. Phổ biến nhất là việc “nhảy quá sớm”. Một số người cố gắng theo dõi được một vài hơi thở liên tục rồi lập tức chuyển sang cảm giác dễ chịu. Định lực sinh ra từ “một vài hơi thở liên tục” là quá ít để duy trì sự chú tâm vào cảm giác dễ chịu. Do đó mà thiền sinh trở nên xao lãng hoặc cảm giác dễ chịu biến mất.
Tương tự, một số khác chuyển sang tập trung vào một cảm giác dễ chịu ngay khi cảm giác đó xuất hiện. Do chưa thiết lập được cận định nên họ sớm bị phân tâm và không thể duy trì tập trung vào cảm giác dễ chịu, hoặc là cảm giác dễ chịu đó biến mất.
Tương tự, lại có người đã thiết lập được cận định nhưng chuyển sang cảm giác dễ chịu gần như ngay lập tức, có thể là ngay khi nhận ra mình đã vào cận định. Tuy nhiên, vì cận định chưa đủ mạnh, thiền sinh trở nên xao lãng hoặc cảm giác dễ chịu biến mất.
Vấn đề ngược lại xuất hiện ít hơn, nhưng vẫn xảy ra. Một số người phát khởi cận định khá tốt nhưng cứ nghĩ rằng như vậy chưa đủ và không chịu bỏ phương pháp vào cận định để chuyển sang cảm giác dễ chịu.
Phổ biến hơn là trường hợp vào cận định khá tốt, sau đó chuyển sang cảm giác dễ chịu nhưng rồi trở nên mất kiên nhẫn. Sự mất kiên nhẫn có thể khiến nảy sinh phán xét rằng việc này đang không hiệu quả, và chính điều này dẫn đến phân tâm. Mất kiên nhẫn có thể dẫn đến nỗ lực ép pīti bằng cách “làm” gì đó thay vì chỉ tập trung vào cảm giác dễ chịu.
Tất cả các vấn đề nói trên đều là thứ yếu, theo nghĩa rằng chúng có thể được giải quyết khá dễ dàng bằng cách điều chỉnh sự kiên nhẫn của thiền sinh – không quá ít, không quá nhiều, ở chính giữa. Học thiền jhāna chắc chắn là một quá trình thử và sai – với rất nhiều sai sót trên con đường. Đây là lý do chúng ta nên tham gia một khóa thiền nội trú dài ngày để học thực hành jhāna. Một vị thiền sư dạy jhāna giỏi thì – hi vọng là – có thể dễ dàng nhận ra bất kỳ vấn đề nào và đưa ra gợi ý để khắc phục. Theo đó, thiền sinh có nhiều cơ hội để thử đi thử lại.
Một vấn đề khác đâu đó cũng thường gặp khi thực hành phương pháp niệm hơi thở, đó là sau khi định lực đã tốt, hơi thở trở nên khá vi tế, và rồi bạn có cảm giác như mình bắt buộc phải hít một hơi sâu hơn. Trừ phi đang cố kiềm chế hơi thở của mình, bạn không cần phải hít vào một hơi. Suy cho cùng, phần lớn cuộc đời, chúng ta không cần phải kiểm soát hơi thở của mình. Cơ thể biết bạn cần bao nhiêu oxy và cần làm gì để lấy lượng oxy đó. Tốt nhất là bạn nên lờ cảm giác đó đi và tin rằng cơ thể có thể tự lo cho nó. Nhưng với những người có cảm giác cần phải hít vào một hơi, lời khuyên này ít khi có tác dụng. Một lời khuyên hiệu quả hơn là hãy hít vào hơi sâu hơn một chút thôi. Làm vậy sẽ đẩy lùi quá trình nhập cận định, nhưng nó vẫn tốt hơn việc hít một hơi thật sâu. Thế nên, hãy hít vào một hơi sâu hơn chút thôi, và trở lại để cho hơi thở tự vận hành. Hãy kiên nhẫn – bạn có thể phải làm vài lần như vậy trong quá trình vào cận định đủ sâu để trải nghiệm jhāna.
Một vấn đề tương tự là bất ngờ thở gấp và sâu như kiểu hớp khí. Cái này khó giải quyết hơn một chút. Cách tốt nhất là chú ý nhận diện những dấu hiệu báo trước của hơi thở gấp tự động đó, và khi thấy rằng sắp có khả năng thở gấp, hãy chủ ý hít sâu hơn một chút thôi để ngăn chặn hơi thở gấp đó.
Một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều là sau khi đã vào cận định, bạn không tìm thấy một cảm giác thoải mái nào trên cơ thể để chuyển sự tập trung của mình. Đây là một vấn đề khó khắc phục hơn nhiều. Đương nhiên, một cảm giác dễ chịu trong tâm trí có thể được dùng làm đối tượng thiền để tạo ra pīti. Tuy nhiên, có hai nhược điểm lớn: cảm giác dễ chịu trong tâm, vốn rất có thể là một cảm xúc, thì thường liên quan đến một câu chuyện và chính câu chuyện này sau đó dẫn đến xao lãng; hoặc là cảm giác dễ chịu trong tâm đó không ổn định và nhanh chóng biến mất.
Nếu bạn đang phải đối mặt với vấn đề này thì cảm giác dễ chịu trong tâm tốt nhất là cảm giác từ ái (mettā). Nếu không thể tìm thấy cảm giác dễ chịu trong thân sau khi đã chắc chắn thiết lập cận định, hãy đổi sang thực hành mettā trong vài phút. Phương pháp này có sinh ra một cảm giác xúc động dễ chịu ở khu vực quanh trái tim không? Nếu có, hãy tập trung vào đó. Nếu thực hành mettā tạo ra bất kỳ cảm giác dễ chịu nào trong thân thể, hãy sử dụng cảm giác đó. Nếu có thể tập trung vào cảm xúc của mettā mà không cần dùng từ ngữ hay hình ảnh nào gây xao lãng, hãy dùng chính cảm xúc của mettā làm cảm giác dễ chịu. Nếu mettā không có hiệu quả với bạn, hãy thử thực hành lòng biết ơn và xem liệu phương pháp này có tạo ra một cảm giác dễ chịu có thể dùng làm đối tượng thiền được không. Nếu lòng biết ơn không hiệu quả, hãy thử dùng một ký ức dễ chịu – một ký ức có thể đem lại nụ cười trên gương mặt bạn. Tốt nhất đừng lên kế hoạch là sẽ sử dụng ký ức nào; chỉ cần gợi lên một ký ức vui vẻ bất kỳ sau khi đã thiết lập cận định đủ sâu và xem liệu bạn có thể duy trì cảm xúc hạnh phúc đó mà không bị cuốn vào một câu chuyện hay không.
Nếu tình trạng thiếu cảm giác dễ chịu ổn định này vẫn tiếp diễn, vấn đề này có thể đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn so với những gì có thể làm trong một khóa thiền; nó có thể đòi hỏi nhiều thời gian hơn, hoặc một phương pháp tiếp cận thiên về tâm lý hơn, hoặc cả hai. Đôi khi một người bị rơi vào trạng thái trầm cảm kéo dài. [5] Đặc điểm tâm lý điển hình của trạng thái này là: thiếu động lực, thiếu tự tin và thiếu khả năng tận hưởng niềm vui trong cuộc sống hàng ngày. Đây có thể là trạng thái tâm lý bạn đang gặp phải, cũng có thể là không. Tuy nhiên, việc cải thiện “khả năng tận hưởng niềm vui trong cuộc sống hàng ngày” đúng là có vẻ hữu ích để giúp bạn có thể tìm thấy một cảm giác dễ chịu trên thân thể sau khi đã vào cận định. Một trong những phương pháp tốt nhất là thực hành mettā nhiều hơn, trau dồi lòng trắc ẩn, và thực hành muditā (hỉ, niềm vui thưởng thức) nhiều hơn. Bên cạnh đó, về mặt thần kinh, khi pīti và sukha xuất hiện thì hoạt động của các hạt nhân cạp [6] trong não – chính là trung tâm tưởng thưởng, cũng tăng lên. Nếu cuộc sống của bạn đang không được thỏa mãn, thì rõ ràng việc thay đổi cuộc sống để cảm thấy được tưởng thưởng nhiều hơn sẽ khiến trung tâm này hoạt động, và điều này có thể có tác dụng. Hãy lựa chọn một cách khôn khéo và lành mạnh các hoạt động mà bạn hy vọng giúp tác động lên trung tâm tưởng thưởng.
[5] Chứng rối loạn trầm cảm kéo dài (tên tiếng Anh là Persistent depressive disorder – dysthymia) là tình trạng trầm cảm mãn tính. Triệu chứng bao gồm việc mất hứng thú trong các hoạt động bình thường hằng ngày, cảm thấy tuyệt vọng, thiếu năng động, tự ti và cảm thấy thiếu thốn.
[6] Nhân cạp: nucleus accumbens, là một cấu trúc dưới vỏ não nằm trong vùng bụng não. Đây thường được coi là trung tâm khoái cảm của não vì có vai trò chính trong việc tạo ra ảnh hưởng tích cực và cảm giác được khen thưởng. Tuy nhiên, đây là một mô tả không đầy đủ.
Một vấn đề khác có thể cản trở trải nghiệm jhāna là việc không thể rời được sự chú tâm khỏi hơi thở. Việc này có thể đòi hỏi bạn phải rèn luyện trong nhiều buổi thiền. Tuy nhiên, nếu bạn đang cố gắng tập trung vào cả cảm giác dễ chịu lẫn cảm giác của hơi thở cùng một lúc, rõ ràng là bạn đang không tập trung vào một đối tượng duy nhất – vốn là điều kiện cần để tạo ra cận định. Tất nhiên, giải pháp đơn giản là hãy bỏ qua hơi thở. Nhưng có lẽ nói thì dễ hơn làm. Hãy cố gắng lên.
Một giải pháp khả thi khác cho vấn đề nói trên – không thể buông bỏ hơi thở – là hãy tìm sự dễ chịu trong chính hơi thở. Để làm vậy, hãy nhẹ nhàng chuyển từ cảm giác trong thân thể của hơi thở sang sự dễ chịu của hơi thở. Với một số người thì phương pháp này có tác dụng rất tốt. Với một số người khác, rốt cuộc họ vẫn chỉ tiếp tục theo dõi hơi thở mà không trải nghiệm đủ sự dễ chịu để sinh ra pīti và sukha.
Một vấn đề khác nữa mà một vài thiền sinh gặp phải là sợ mất kiểm soát. Đơnn giản là bạn không thể nào nhập vào jhāna thứ nhất mà vẫn kiểm soát được toàn bộ trải nghiệm. Bạn phải buông bỏ và để cho pīti tiếp quản. Một tình trạng đôi khi xảy ra là sau khi cận định đã đủ sâu và sự chú tâm đã chuyển sang cảm giác dễ chịu thì cảm giác đó bắt đầu biến đổi thành pīti. Và trải nghiệm này có thể đi kèm với một cảm giác rằng có gì đó ngoài ý muốn đang xảy ra ở bên trong – nói cách khác, mọi thứ đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Nỗi sợ hãi khởi lên khi đối mặt với trải nghiệm này khiến chúng ta – dù cố ý hay vô ý – lùi và chặn pīti lại, do đó ngăn cản sự xuất hiện của jhāna.
Nếu gặp phản ứng như trên, đầu tiên hãy nhận ra rằng bạn chưa bao giờ thực sự kiểm soát được bất cứ cái gì. Điều duy nhất bạn đang mất đi chỉ là ảo tưởng rằng mình đang kiểm soát. Thực hành jhāna là an toàn – nếu không thì tất cả những người đang thực hành jhāna đều đặn thường xuyên có lẽ giờ này đã chết rồi. Hơn nữa, Đức Phật rất khuyến khích thực hành jhāna – và Ngài vô cùng chú trọng đến việc không làm hại ai. Sau khi đã nói hết tất cả những điều này, thực hành jhāna thứ nhất có thể bị chống chỉ định với người dễ bị động kinh. Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về tình trạng này, và theo như tôi biết thì không có bằng chứng thực nghiệm nào; tôi chỉ đề cập đến điều này vì hết sức thận trọng. Tuy nhiên, trừ khi bạn dễ bị co giật, còn thì hoàn toàn không có gì phải sợ hãi.
Bây giờ, kể cả việc đảm bảo với bạn rằng không có gì phải sợ có lẽ vẫn chưa đủ để làm nỗi sợ biến mất. Tuy nhiên, nó dường như làm các thiền sinh cảm thấy yên tâm hơn một chút để có thể thả cho mình đi vào cảm giác mất kiểm soát sâu hơn một chút trước khi cố ý hoặc vô ý rút lui. Nó giống việc thăm dò độ sâu của nước để xem có an toàn không. Và dần dần họ sẽ đến gần ngưỡng bùng nổ của pīti đến mức pīti thực sự bùng nổ, và họ sẽ nhập vào jhāna đầu tiên – mà vẫn an toàn. Thế là vấn đề được giải quyết.
Một vấn đề phổ biến hơn những vấn đề nói trên là khi luyện định lực – cho dù là jhāna, cận định, hay thậm chí là một hình thái định tâm thấp hơn – nó có thể khiến cho các vấn đề tâm lý chưa được giải quyết trỗi dậy. Tất cả những năng lượng vốn được dùng để ngăn chặn các vấn đề đó giờ đã trở nên tĩnh lặng; tất cả những tiếng ồn ào của cuộc sống bận rộn đã biến mất, và không còn tiếng ồn nào để át đi những vấn đề đó nữa. Sự trỗi dậy của các vấn đề tâm lý đó không phải là xấu; thực ra nó lại là một điều vô cùng hữu ích. Nhưng đó không phải một việc dễ chịu! Tuy nhiên, để cho các vấn đề này nổi lên nơi chúng có thể được giải quyết thì tốt hơn nhiều so với việc để chúng ẩn nấp sâu bên dưới tiềm thức và vô thức và làm những thứ gì thì có trời mới biết. Tuy nhiên, sự trỗi dậy của các vấn đề tâm lý này chắc chắn dễ làm phân tâm. Chúng thường tạo ra sự phản kháng hay gây cản trở. Đây có thể là một vấn đề đủ quan trọng đến mức không thể gạt sang một bên, và phải giải quyết một cách khéo léo và tức thì. Việc giải quyết các vấn đề này có thể chiếm hết thời gian, năng lượng và tâm trí sẽ không đủ yên tĩnh và tập trung để nhập jhāna. Nhưng thực ra đây là một cơ hội quý giá, khi các vấn đề này đang được mở ra, vì chúng có thể được xử lý ngay lập tức. Không phải là hiếm khi có người sau một khoá thiền có được trải nghiệm vô cùng hữu ích bởi vì họ đã xử lý những gì nổi lên một cách khéo léo; thực ra [khi xử lý các vấn đề nổi lên] họ thường có trải nghiệm hữu ích hơn so với việc chỉ chăm chăm vào các jhāna. Đôi khi các vấn đề được giải quyết trong khóa thiền; đôi khi chúng được giải quyết “đủ” để quay lại với thực hành jhāna; thường thì việc giải quyết các vấn đề này là một công việc lâu dài.
Một vấn đề đôi khi xuất hiện là thấy đau đầu. Nếu bạn gặp phải điều này, đầu tiên kiểm tra xem bạn có đang bị nhíu mắt không. Đôi khi chúng ta có thể vô thức hiểu “quan sát hơi thở” theo nghĩa đen.
Thường đau đầu là do bị “kẹt pīti”. Chứng đau đầu này thường xuất hiện ở phía trong, giữa đầu chứ không phải ở một bên, và thường là ở giữa trán hoặc gần đỉnh đầu. Nó dường như xuất hiện khi pīti bắt đầu xuất hiện nhưng chưa bùng nổ. Về mặt thần kinh, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để xác định điều gì đang xảy ra trong tình huống này. Tuy nhiên, giả thuyết là có các chất dẫn truyền thần kinh, khi ở nồng độ đủ cao thì dẫn đến sự xuất hiện của pīti. Nhưng trong trường hợp này các chất dẫn truyền đang được sinh ra nhưng chưa đủ để pīti xuất hiện. Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất khi bị đau đầu như vậy là dùng ý thức quét từ xương cụt lên dọc cột sống, đi lên và thoát ra khỏi đầu ở điểm mà cơn đau có vẻ là mạnh nhất. Mỗi lần quét kéo dài khoảng nửa giây, và tốc độ quét thường tăng lên về đoạn cuối so với lúc bắt đầu. Làm như vậy 10 đến 12 lần, rồi quay lại thiền. Đôi khi việc này sẽ làm hết đau đầu; đôi khi nó kích thích pīti khởi phát và do đó làm hết đau đầu; đôi khi nó không có tác dụng gì cả. Nguyên nhân, cơ chế và hiệu quả của phương pháp này chưa được làm rõ.
May mắn thay, hầu hết các vấn đề mô tả ở trên đều hiếm gặp. Vấn đề phổ biến nhất là không để cho cận định phát triển đủ mạnh trước khi chuyển sang một cảm giác dễ chịu – và kiên nhẫn là giải pháp dễ dàng cho vấn đề này. Tình trạng phổ biến thứ hai là một số vấn đề tâm lý trỗi dậy. Và mặc dù các vấn đề này có thể cản trở việc nhập jhāna, đó vẫn là một cơ hội quý giá để phát triển bản thân. Có vẻ như việc dọn dẹp các vấn đề tâm lý cá nhân là rất có ích để chuẩn bị tâm trí với những hiểu biết sâu sắc hơn, mang tính chuyển hóa về bản chất vô ngã của thực tại.
