Chương 4 – Jhāna thứ nhất

✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định

“Hoàn toàn xa lìa các lạc thú từ giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, tỷ-kheo chứng và trú trong jhāna thứ nhất, một trạng thái đi kèm suy nghĩ dò xét, và tràn đầy niềm vui sướng cùng hạnh phúc sinh ra nhờ sự xa lìa. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho thân mình sung mãn và tràn đầy với vui sướng hạnh phúc sinh ra do xa lìa này, không một chỗ nào trên toàn thân không được thấm nhuần bởi cảm giác vui sướng và hạnh phúc này.” (Kinh Trường Bộ 2.75)

Từ khóa Pali:

– samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung
– pāmojja: hân hoan, niềm vui trần thế
– vitakka: suy tưởng, suy nghĩ
– vicāra: dò xét
– pīti: vui sướng, phấn khích
– sukha: hạnh phúc, niềm vui


Jhāna được nhắc đến trong rất nhiều bài kinh [1], không chỉ trong những kinh chỉ dẫn cách rèn luyện tuần tự. Mô tả về jhāna trong các kinh gần như là giống hệt nhau. Đôi lúc, lời mô tả được thay đổi một chút, đôi khi có thêm thông tin bổ sung, nhưng hầu như chỉ có một lời mô tả được lặp đi lặp lại. Điều này hợp lý vì các bài kinh được lưu giữ bằng truyền thống học truyền miệng, và người đọc kinh học theo các mẫu cụ thể. [2] Khi đọc đến một đoạn trong bài kinh nói về chủ đề A thì họ sẽ thuật lại mẫu A, và khi đến phần nói về B thì họ thuật lại mẫu B. Vì vậy, rất nhiều chi tiết và sự đa dạng tự nhiên rất có thể đã bị mất.

[1] Các jhāna được nhắc đến trong khoảng một nửa các bài kinh trong Kinh Trường Bộ, và trong hơn một phần ba bài trong Kinh Trung Bộ. Có hẳn cả một samyutta (Tương ưng, là một tập hợp các bài kinh dài ngắn không đều được sắp xếp và kết nhóm theo từng loại chủ đề – ND) trong Tương Ưng Bộ nói về các jhāna, và chúng còn được nhắc đến trong nhiều kinh Tương Ưng bổ sung khác cũng như trong nhiều bài kinh trong Tăng Chi Bộ
[2] Đoạn văn mẫu: Trong thuật hùng biện, một đoạn văn mẫu (tiếng Anh: pericope) là một đoạn văn “dự trữ” bao gồm một đơn vị hoặc một ý tưởng mạch lạc, phù hợp để đọc từ một văn bản cho khán giả nghe. Hiện nay từ này chủ yếu chỉ kinh thánh. Để biết thêm thông tin về pericope, hãy xem Analayo, Comparative Study, 16-17.

Hơn nữa, những lời hướng dẫn chi tiết về jhāna – có thể rất khác nhau tùy theo người dạy và người học – thực sự không phù hợp để truyền miệng. Thế nên những gì được lưu truyền lại giống như một bản đề cương hơn. Nếu thông tin trong đề cương không đủ cho một đệ tử nhà Phật, người đệ tử đó sẽ theo một vị thầy để học chi tiết. Chương này và các chương tiếp theo là diễn giải của tôi về các chi tiết đó. [3] Trong Phần Hai, các chi tiết này cùng với mối quan hệ của chúng với các đoạn kinh sẽ được xem xét một cách học thuật hơn.

[3] Có nhiều diễn giải khác nhau về mô tả jhāna trong kinh. Xem ví dụ tại http://leighb.com/jhānantp.htm.

Mô tả về jhāna thứ nhất bắt đầu như sau: “Hoàn toàn xa lìa các lạc thú từ giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, tỷ-kheo chứng và trú trong jhāna thứ nhất”. Như tôi đã đề cập, sự xa lìa khỏi các khoái lạc từ giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, ám chỉ việc từ bỏ năm chướng ngại, năm trạng thái tâm trí cản trở sự tiến bộ trên con đường tâm linh. Phương pháp để gạt chúng sang một bên là đạt tới trạng thái cận định. Cận định đưa đến một trạng thái mà ở đó nếu suy nghĩ có phát sinh thì cũng mờ nhạt và không nổi bật, và nó không gây phân tâm. Ở mức độ định tâm đó, các chướng ngại này sẽ không xuất hiện.

Trong quá trình rèn luyện tuần tự, ngay trước khi mô tả về các jhāna, kinh thường nói, “Khi năm chướng ngại đã được loại bỏ ở bên trong, niềm hân hoan khởi lên” [4] Nói cách khác, khi cận định đã phát khởi, niềm hân hoan được nói đến ở đây (tiếng Pali là pāmojja) là trạng thái tinh thần sinh ra bởi cảm giác dễ chịu. Chúng ta chú tâm vào cảm giác này để cận định được ổn định và sâu hơn. Khi năm chướng ngại đã được loại bỏ, đây là một trạng thái khá dễ chịu. “Do hân hoan nên hỷ sanh”: hỷ (pīti, niềm vui sướng) là thành phần chính của jhāna thứ nhất. Sự chú ý kiên định vào niềm hân hoan (tận hưởng cảm giác dễ chịu) tạo ra pīti, pīti này vừa là cửa ngõ vừa là thành phần chính của jhāna thứ nhất.

[4] Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh.

Sau đó, kinh mô tả các đặc tính của jhāna thứ nhất, “một trạng thái đi kèm suy nghĩ dò xét, và tràn đầy niềm vui sướng cùng hạnh phúc sinh ra nhờ sự xa lìa”. Bốn đặc trưng này thường được xác định là các yếu tố của jhāna thứ nhất. Những luận giải sau này khẳng định rằng chỉ có năm yếu tố, nhưng kinh chỉ đề cập đến bốn đặc trưng là suy nghĩ, dò xét, vui sướng, hạnh phúc. Suy nghĩ và dò xét [5] là những từ dùng để dịch cho vitakka và vicāra trong tiếng Pali. Các luận giải nói rằng những từ này có nghĩa là sự chú tâm ban đầu và liên tục vào đối tượng thiền. Đúng là để thực hành thiền định tâm, bạn cần có sự tập trung ban đầu và kéo dài, hướng vào đối tượng thiền. Tuy nhiên, có vẻ như đây không phải điều Đức Phật đang nói đến ở đây: trong các bài kinh, vitakka và vicāra luôn luôn và chỉ duy nhất đề cập đến việc suy nghĩ. [6] Khi đạt tới và duy trì trạng thái cận định, có thể vẫn còn một chút suy nghĩ ở đằng sau – nhưng về cơ bản có thể bỏ qua. Vitakka và vicāra chỉ những suy nghĩ như vậy trong jhāna thứ nhất.

[5] Dịch giả: Suy nghĩ và dò xét hay còn gọi là tầm và tứ.
[6] Xem chương 11, “Vitakka và Vicāra”, để biết thêm thông tin.

Như đã đề cập trong chương trước, bước chuyển từ cận định sang jhāna thứ nhất chính là chuyển sự chú tâm sang một cảm giác dễ chịu và lấy cảm giác này làm đối tượng thiền, lờ đi mọi suy nghĩ ở bên dưới. Nếu có thể duy trì sự chú tâm không xao lãng hướng vào cảm giác dễ chịu, thì pīti sẽ khởi sinh. Pīti, vốn là thứ năng lượng phấn khích dễ chịu được giải phóng trong thân thể, có thể ở bất kỳ mức độ nào từ nhẹ đến khá mạnh. Nó có thể mạnh như cảm giác khi cho ngón tay vào ổ cắm điện; thậm chí có thể mạnh đến mức không dễ chịu. Trong trường hợp tốt nhất, pīti sẽ đi kèm với sukha, một trạng thái cảm xúc vui vẻ, hạnh phúc. Trải nghiệm của jhāna thứ nhất phải bao gồm cả pīti lẫn sukha. Và rất có thể rằng trải nghiệm này sẽ mang lại một nụ cười rạng rỡ trên gương mặt bạn. Jhāna thứ nhất là một trạng thái tâm thức khác biệt đến nỗi nếu bạn đang băn khoăn không biết mình có đang trải nghiệm jhāna thứ nhất không thì khả năng là không phải. Có một cảm giác đặc trưng không thể nhầm lẫn khi pīti và sukha phát khởi khiến bạn biết chắc rằng có cái gì đó hoàn toàn khác đang xảy ra.

Để ở trong jhāna thứ nhất, hãy tập trung vào cảm giác của pīti và sukha. Kinh Poṭṭhapāda (Kinh Trường Bộ 9.10) có viết như sau: “Tỷ-kheo tiến vào và trú trong jhāna thứ nhất… Khi ấy có một nhận thức vi diệu chân thật về pīti và sukha sinh ra từ sự xa lìa, và vị ấy trở thành người có ý thức về pīti và sukha đó”. Câu “vị ấy có ý thức về pīti và sukha này” cho thấy rằng đối tượng thiền lúc này là trải nghiệm về pīti và sukha.

Ban đầu, thực sự không dễ để phân biệt pīti với sukha. Trải nghiệm này, năng lượng này, trạng thái này, nó xâm chiếm và thu hút toàn bộ sự chú tâm của bạn. Không dễ để nhận ra rằng ngoài khía cạnh vật lý thì cũng có một khía cạnh cảm xúc. Hơn nữa việc phân biệt hai khía cạnh này là chưa cần thiết. Trải nghiệm này có lẽ mang tính pīti-sukha lan tỏa khắp nơi, hơn là kiểu bao gồm hai thành phần pīti và sukha riêng biệt trộn lẫn vào nhau. Như đã nói ở trên, bạn có thể vẫn thấy những suy nghĩ xuất hiện. Không sao cả – đó là vitakka và vicāra, sự suy nghĩ và dò xét, chúng vẫn ẩn nấp đằng sau jhāna thứ nhất. Đừng để những suy nghĩ sau màn đó làm bạn phân tâm; hãy tập trung vào trải nghiệm pīti và sukha. Việc duy trì trải nghiệm pīti-sukha này và sự tập trung vào trải nghiệm đó chính là jhāna đầu tiên.

Trong lời mô tả về jhāna, pīti và sukha được nói là “sinh ra nhờ xa lìa khỏi khoái lạc từ các giác quan”. [7] Nói cách khác, chúng khởi sinh nhờ việc tách rời khỏi các chướng ngại trong trạng thái cận định. Cận định, hay sự xa lìa, tạo ra cảm giác dễ chịu, và sự chú tâm kiên định vào cảm giác dễ chịu sinh ra pīti và sukha. Nhiều người hiểu nhầm ý của câu này thành bạn phải vào rừng sống tách biệt. Thực ra, bạn chỉ cần tách tâm trí ra khỏi các chướng ngại, và hành động này sẽ khởi sinh pīti và sukha.

[7] Bản dịch truyền thống: “do ly dục sanh”.

Trong trạng thái pīti và sukha, kinh viết rằng: “Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho thân mình sung mãn và tràn đầy với niềm vui sướng và hạnh phúc sinh ra do sự xa lìa này, không một chỗ nào trên toàn thân không được thấm nhuần bởi vui sướng cùng hạnh phúc ấy”. Khi mới bắt đầu vào jhāna thứ nhất, năng lượng pīti dường như chạy dọc lên cột sống và nằm ở những nơi như phía sau người, thân trên, và ở đầu, rõ hơn so với bất kỳ nơi nào khác. Hoặc có thể chỉ ở thân trên và đầu. Chỗ nào cũng được. Thực ra, khi mới thực hành, bạn chỉ cần duy trì pīti-sukha liên tục; không quan trọng là nó ở đâu hay nó chưa lan khắp cơ thể. Việc lan tỏa ra khắp cơ thể là một thực hành nâng cao hơn. Cảm giác pīti-sukha sẽ có thể tập trung nhiều vào vùng mặt hơn. Đôi khi nó lại ở đầu, đôi khi ở cột sống, nhưng nhìn chung nó chủ yếu tập trung ở vùng thân trên bao quanh khuôn mặt. Sau này khi đã đủ thành thạo để ổn định jhāna thứ nhất, bạn sẽ có thể di chuyển năng lượng này đến hai tay và hai chân để cho nó tràn ngập khắp cơ thể. Phương pháp ở đây là chuyển sự chú ý từ vị trí có cảm giác pīti mạnh nhất đến nơi chưa có pīti, ví dụ như dọc theo cánh tay. Không phải là di chuyển năng lượng này mà là di chuyển sự chú ý. Đưa sự chú ý về vị trí có pīti mạnh, rồi xem xem năng lượng này có truyền đến vị trí chưa có không. Tiếp tục làm như vậy một cách nhẹ nhàng và thong thả, cho đến khi pīti và sukha tràn ngập khắp cơ thể. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đây là một phương pháp thực hành nâng cao; đừng lo đến việc cố gắng lan tỏa pīti và sukha ngay lập tức. Chỉ cần cảm nhận được pīti và sukha, và xem liệu bạn có thể giữ được năng lượng này và chú tâm vào nó không.

Với mỗi jhāna trong bốn jhāna đầu tiên, chúng ta có một thí dụ hay câu chuyện minh hoạ. Với jhāna thứ nhất, ta có:

Này Đại vương, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không rơi một giọt nào. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. (Kinh Trường Bộ 2.76)

Đây là một bức tranh về cuộc sống vào thời của Đức Phật. Người ta không ra cửa hàng mua xà phòng mà người hầu tắm hay đệ tử của người hầu ấy sẽ lấy một cái thau kim loại và đổ bột xà phòng vào trong đó. Sau đó đổ nước và nhồi bột với nước cho đến khi có một bánh xà phòng.

Hình ảnh này khá hợp với năng lượng hỗn loạn của jhāna thứ nhất. Jhāna thứ nhất này không phải một trạng thái êm ả, yên bình. Năng lượng của nó khá mãnh liệt, và ví dụ này cho ta một ý tưởng khá rõ về sự thiếu êm ả cùng thứ năng lượng hỗn loạn của jhāna thứ nhất. Ngoài ra, ví dụ này cũng cho thấy tính chất sôi sục của jhāna thứ nhất. Cụ thể là bột xà phòng giống như cơ thể, còn nước giống như pīti và sukha thấm vào khắp cơ thể. Như tôi đã nói, trạng thái này sẽ đến khi bạn trở nên thuần thục hơn. Mục tiêu đầu tiên nên là làm sao cho pīti và sukha xuất hiện, và rồi duy trì chúng. Một khi đã thuần thục việc này, hãy ở trong jhāna thứ nhất và bắt đầu điều khiển nó theo mô tả dưới đây, rồi cuối cùng mới tìm cách đưa nó đến các vị trí khác nhau trong cơ thể.

Trong jhāna thứ nhất, bạn cũng có thể điều chỉnh cường độ của pīti. Một khi đã đạt đến trình độ có thể ổn định pīti, hãy xem liệu bạn có thể giảm cường độ của pīti rồi tăng nó lên lại hay không. Có thể nói là bạn đang tìm một dạng nút chỉnh “âm lượng” tinh thần cho pīti. Việc hạ pīti xuống rồi tăng nó lên sẽ dễ hơn so với việc cố gắng bơm nó lên cao hơn nữa. Bên cạnh đó, pīti có thể đã khá mãnh liệt và việc bơm nó lên cao hơn nữa có lẽ không phải một điều bạn muốn làm. Phương pháp để giảm “âm lượng” cho pīti là cung cấp cho nó ít năng lượng hơn, ít sự chú ý hơn một chút. Khi không chú ý nhiều đến nó thì nó sẽ bắt đầu giảm đi. Một khi nó hạ xuống, lại đặt trọn vẹn sự chú ý vào và đưa nó tăng lên. Một khi đã thuần thục trong việc điều chỉnh cường độ của pīti, bạn có thể thử tắt nó hoàn toàn một cách đột ngột, sau đó đưa nó trở lại ngay lập tức. Những kỹ năng này sẽ bắt đầu giúp bạn làm chủ pīti, điều này sẽ có ích cho việc học jhāna thứ hai và thứ ba.

Thời gian trú lại trong jhāna thứ nhất sẽ tỉ lệ nghịch với cường độ của pīti. Nói cách khác, nếu pīti quá mạnh, có lẽ không nên ở đó quá lâu. Khoảng nửa phút có thể đã đủ, thậm chí có thể ngắn hơn nếu pīti thực sự mãnh liệt. Nếu pīti không mạnh như vậy, hãy ở đó từ năm đến mười phút. Thời gian tuỳ thuộc vào cường độ của pīti.

Pīti xuất hiện ở nhiều “cấp độ”. Nó có thể xuất hiện kiểu pīti nhất thời, như một cơn rùng mình và rồi biến mất. Nó có thể là pīti nhẹ, một cảm giác hơi râm ran kéo dài nhưng không quá mạnh, và thiên về kiểu cảm giác nền đằng sau nhiều hơn. Pīti nhẹ cũng có thể xuất hiện dưới dạng chuyển động đu đưa nhẹ và vô thức khi thiền. Bạn cũng có thể trải nghiệm pīti kiểu mưa rào, khi đón nhận một đợt pīti bùng ra và biến mất, rồi một đợt khác bùng ra và nó cũng biến mất – pīti khởi lên nhưng không kéo dài. Nó cũng có thể là pīti kiểu bay bổng khiến chân tóc bạn dựng lên. Bạn có thể cảm thấy như mình đang bay lên nếu pīti này thực sự mạnh. Tôi có một số thiền sinh kể rằng họ đã mở mắt ra để xem họ có thực sự đang bay lên không. Tôi chưa có thiền sinh nào thực sự bay lên khỏi mặt đất. Tuy nhiên, pīti bay bổng này có thể giúp bạn ngồi rất thẳng. Loại pīti thứ năm là cái tôi thường gọi là pīti toàn diện. Dịch đúng ra phải là “pīti tỏa khắp”. Đây là pīti có ở khắp nơi. Pīti này hiện diện, kéo dài, và được cảm nhận trong toàn bộ cơ thể. Đó là pīti cần thiết cho jhāna thứ nhất; bốn loại còn lại là pīti tiền-jhāna, và chúng có thể xuất hiện hoặc không trong quá trình nhập cận định và tiến đến sự khởi phát của jhāna thứ nhất. [8]

[8] Thanh Tịnh Đạo 4.94–99, tr. 137–39.

Pīti có thể biểu hiện dưới dạng chuyển động đu đưa hoặc lắc lư, hoặc nó có thể mãnh liệt đến mức khiến cơ thể bạn thực sự rung và người ngoài có thể thấy được. Nó cũng có thể biểu hiện dưới dạng nhiệt và có thể trở nên rất, rất ấm – hy vọng có phần nào dễ chịu. Phổ biến nhất là nó biểu hiện như một luồng năng lượng thốc lên, thường tập trung ở cột sống. Tôi đã nói chuyện với những người thực hành Kundalini yoga, và có vẻ như pīti là cùng một dạng năng lượng. [9] Tôi cũng đã nói chuyện với những người thực hành tummo, [10] là một phương pháp thực hành sinh nhiệt của Tây Tạng, và được cho biết rằng phương pháp này cũng sinh ra cùng một loại năng lượng như vậy. Đó là một hiện tượng phổ biến rộng rãi trong nhiều phương pháp. Ở đây nó được sử dụng để thu hút sự chú ý và đưa bạn vào một trạng thái định tâm. Do nó rất mạnh nên bạn sẽ dễ dàng chú tâm vào đó và hòa mình vào trong trải nghiệm. Pīti còn có một tác dụng phụ hay ho nữa (với hầu hết mọi người) là sinh ra sukha, và như chúng ta sẽ thấy, sukha là thành phần chính của jhāna thứ hai và thứ ba, cũng là một phần cần thiết của jhāna thứ nhất.

[9] Dịch giả: Bất kỳ phương pháp luyện khí như hatha yoga, pranayama, khí công, v.v., có thể kích hoạt pīti. Tuy nhiên, khi Kundalini được thức tỉnh thực sự thì năng lượng sẽ đi vào trong Sushumna nadi và chạy dọc cột sống. Sushuma nadi là đường dẫn khí ở trung tâm của ống tủy sống. Nếu không đi vào trong đó thì chúng ta sẽ không gọi năng lượng này là Kundalini.
[10] Tiếng Tây Tạng: gtum-mo; tiếng Phạn: caṇḍālī. Là môn yoga nội nhiệt (hay nội hỏa) huyền bí.

Như vậy, bạn trú lại trong jhāna thứ nhất một lúc, tùy vào việc pīti mạnh đến đâu: nếu nó rất mạnh thì ở khoảng nửa phút; nếu yếu hơn, có thể ở năm đến mười phút. Cũng nên biết rằng khi pīti mới xuất hiện thì bạn có thể không kiểm soát được cường độ của nó. Nó có thể trở nên mạnh một cách lố bịch, hoặc nó có thể trở nên yếu ớt. Khi nói chuyện với ai đó về trải nghiệm của họ trong cận định và trong lúc rèn luyện với cảm giác dễ chịu, tôi không bao giờ biết trước được hiện tượng gì sẽ xảy ra khi pīti xuất hiện. Vì vậy, hãy cứ chấp nhận bất cứ hiện tượng nào xuất hiện. Lý do khiến pīti có thể phát ra rất mạnh trong lần đầu tiên cũng giống như một lon nước có ga. Nếu bạn cứ lắc nó lên trong bốn năm ngày rồi bật nắp, nó sẽ bắn ra tung tóe. Tuy nhiên, lần tiếp theo pīti xuất hiện thì sẽ không có quá nhiều áp lực dồn lại như thế, và có thể sẽ không mạnh đến vậy. Nếu lần đầu trải nghiệm pīti là vào buổi tối trước khi đi ngủ, có thể bạn sẽ bị khó ngủ. Nó sẽ kích thích bạn. Việc đó không sao cả. Bạn đang học và việc thiếu ngủ một chút là rất đáng giá để tìm ra cách rèn luyện với những trạng thái tinh thần quan trọng này.

Để biết thêm thông tin học thuật về jhāna thứ nhất theo mô tả trong kinh sách, hãy xem các chương trong Phần Hai có tựa đề “Vitakka và Vicāra” và “Jhāna thứ nhất”.

Một số vấn đề có thể gặp khi mới học jhāna thứ nhất

Vì ở đây có pīti hiện diện nên tâm trí bị phấn khích, trạng thái đó được coi là thô tháo. (Kinh Trường Bộ 1.3.23)

Dưới đây là một số trải nghiệm, không thực sự là vấn đề nhưng đáng được đề cập: Rất thường xuyên, khi nhập vào jhāna thứ nhất, hơi thở trở nên rất thô – những hơi thở dốc ngắn và sắc rất khác với hơi thở tinh tế trong cận định. Điều này là hoàn toàn bình thường! Khi pīti và sukha bắt đầu trỗi dậy, đừng lo lắng gì về hơi thở – rất có thể nó sẽ thay đổi một cách đáng kể. Hơn nữa, hơi thở chỉ có thể ổn định trở lại trong jhāna thứ hai.

Với một số người, sau lần đầu nhập vào jhāna thứ nhất, việc nhập lại vào jhāna trở nên khó hơn rất nhiều. Điều này thường là do lòng tham muốn gia tăng – muốn tái diễn trải nghiệm jhāna – và ham muốn này là một trường hợp của chướng ngại thứ nhất, thế nên không có jhāna nào xuất hiện cả. Một điều quan trọng là, với phần lớn mọi người, khi bắt đầu học jhāna thì không phải thời thiền nào cũng sẽ có trải nghiệm jhāna. Nhắc lại, biện pháp ở đây là sự kiên nhẫn. Ban đầu, chắc chắn là mệt mỏi khi phải nỗ lực tinh thần để có đủ định lực, rồi phải nỗ lực kiên nhẫn chờ jhāna xuất hiện sau khi đã chuyển sự tập trung sang cảm giác dễ chịu. Không có gì lạ khi ban đầu có người chỉ có thể phát huy nỗ lực như vậy một lần mỗi ngày. Khi trở nên thuần thục hơn và nhận thức được rõ hơn về những yếu tố cần thiết để phát khởi jhāna, nỗ lực tinh thần sẽ không cần nhiều nữa và jhāna đến thường xuyên hơn. Kiên nhẫn và quan sát cẩn thận và chính xác những thao tác đã làm khi jhāna xuất hiện, đó là chìa khóa để trải nghiệm jhāna thường xuyên hơn.

Vấn đề thường gặp nhất khi mới vào jhāna thứ nhất là sự phấn khích khó ngủ sau khi nhập jhāna nếu thời thiền rơi vào chiều tối muộn. Đây thường là vấn đề chỉ xảy ra một lần, thường gặp nhất sau lần đầu tiên nhập vào jhāna thứ nhất, sau buổi pháp thoại tối – đúng vậy, ngay trước giờ đi ngủ. Nhưng mất ngủ một chút – kể cả khi mất ngủ vài giờ – là một cái giá rẻ để trả cho việc bắt đầu trở nên thuần thục trong các trạng thái rất hữu ích này.

Đôi khi có người nhập được vào jhāna thứ nhất, nhưng cảm giác như pīti sẽ không bao giờ biến mất. Họ không thể giảm pīti xuống để vào jhāna thứ hai. Hơn nữa, cảm giác hưng phấn tăng năng lượng đó vẫn còn ngay cả khi họ đứng dậy sau thời thiền. Tình trạng này thường chỉ kéo dài vài giờ hoặc nhiều nhất là vài ngày. Khi chưa dịu xuống thì nó có thể gây ra mất ngủ; đây chắc chắn là một tình trạng không dễ chịu. Nếu bạn gặp phải tình trạng này thì hãy đi bộ nhanh một quãng dài, tập thái cực quyền, yoga, hoặc vài bài tập giãn cơ khác; nếu có thể thì tắm nước nóng lâu; đổi sang thực hành thiền tâm từ nhẹ nhàng chậm rãi thay vì tiếp tục với trạng thái tập trung sâu. Thường thì pīti cuối cùng cũng sẽ dịu xuống sau một giấc ngủ ngon.

Rất may mắn là vấn đề nghiêm trọng nhất khi học jhāna lại hiếm khi xảy ra. Nó xảy ra với khoảng ba trên một nghìn thiền sinh. Đây là khi pīti bị kẹt và cảm giác như không bao giờ hết. Tình trạng này có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm chí đến cả năm. Rất may là điều này khá hiếm, bởi vì không có giải pháp nào thực sự hiệu quả ngoài việc chờ cho nó biến mất. Với trường hợp này thì các phương pháp đem lại sự ổn trọng có thể hữu ích: tập luyện mạnh, lao động chân tay, ăn thức ăn nặng như thịt (nếu bạn không ăn chay), dầu, phô-mai, và sô-cô-la.

Nếu đã từng gặp tình trạng “kẹt pīti”, lần tiếp theo khi vào được jhāna thứ nhất thì hãy nhanh chóng chuyển sang jhāna thứ hai gần như ngay khi pīti bắt đầu khởi sinh. Đừng để pīti trở nên quá mạnh – hít vào một hơi sâu, rồi thở ra thả lỏng hoàn toàn và đẩy nó ra ngoài; sau đó chuyển sự chú tâm sang sukha và dùng nó làm đối tượng thiền. Cẩn thận đừng để sukha trở nên quá mạnh! Làm như vậy sẽ đưa bạn trở lại jhāna thứ nhất với pīti mãnh liệt của nó. Chương tiếp theo sẽ nói thêm về điều này.


Gửi phản hồi