✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh. (Kinh Trường Bộ 2.75) [1]
[1] Dịch nghĩa: Khi thấy năm chướng ngại đã được từ bỏ ở bên trong, niềm hân hoan sẽ khởi lên. Năm triền cái: là năm chướng ngại về tâm. Triền là trói buộc, cái là che đậy. Năm triền cái là năm chướng ngại che lấp tâm định.
Từ khóa Pali:
– sutta: kinh, pháp, giáo lý
– samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung.
Trong các khóa thiền dạy về jhāna, chúng ta có thể nhập được jhāna hoặc không. Khả năng trải nghiệm jhāna tỉ lệ nghịch với lòng mong mỏi đạt được jhāna. Suy cho cùng, lời dạy của Đức Phật về việc thực hành jhāna bắt đầu bằng:
“[…] ly dục, ly ác pháp [2], chứng và trú thiền thứ nhất”.
[Rời xa khỏi ham muốn tìm cảm giác khoái lạc trong giác quan, rời xa các trạng thái tâm không thiện, tiến nhập và trú trong jhāna thứ nhất – Kinh Trường Bộ 2.75]
Để chứng nghiệm được jhāna thì trạng thái rời xa như vậy là cần thiết. Tuy nhiên, việc chủ động mong muốn chứng nghiệm jhāna thì không phải là rời xa khỏi trạng thái bất thiện của tâm tham luyến. Việc loại bỏ các trạng thái tâm bất thiện được gọi là từ bỏ các chướng ngại. Có năm chướng ngại như vậy, thường được liệt kê gồm có tham lam, sân hận, hôn trầm lờ đờ, bồn chồn hối hận, và nghi ngờ. Năm chướng ngại cũng có thể được liệt kê là tham muốn, chán ghét, quá ít năng lượng, quá nhiều năng lượng, và nghi ngờ. Khắc phục được năm trạng thái tâm bất thiện này cũng chính là cách phát triển cận định.
[2] Ác pháp hay bất thiện pháp: Bất thiện (Pali: aku-sala), chỉ tất cả các nghiệp xuất phát từ gốc bất thiện mang mầm mống đau khổ cho đời sống kế tiếp; gốc bất thiện gồm có tham, sân, si.
Cụm từ upacāra-samādhi trong tiếng Pali, được dịch là “cận định”, không xuất hiện trong kinh. [3] Tuy nhiên đó chắc chắn là một khái niệm hữu ích khi thảo luận về thực hành jhāna. Cụm từ cận định có nghĩa là định lực đủ mạnh để nhập jhana. Trạng thái này khác với định tạm thời (sát-na định, khaṇika-samādhi) vốn có định lực thấp hơn cận định. Trạng thái này cũng khác với định nhất điểm hay tập vào một điểm duy nhất (an chỉ định, appanā-samādhi), có định lực mạnh hơn, liên quan đến các jhāna.
[3] Cụm từ này upacāra-samādhi xuất hiện trong Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo), được nhắc đến khá nhiều trong sách này.
Cận định có thể được định nghĩa là trạng thái tập trung đủ mạnh để không còn chướng ngại nổi lên. Thực tế hơn, có thể nói rằng cận định là trạng thái hiện diện hoàn toàn với đối tượng thiền và các ý nghĩ sẽ trở nên mờ nhạt, không nổi bật và không gây xao lãng. Phương pháp chung để phát triển cận định là tập trung vào một đối tượng thiền phù hợp [4], và khi sự chú ý này bị phân tán thì nhẹ nhàng đưa nó trở lại. Tiếp tục như vậy cho đến khi mọi xao lãng biến mất và sự chú ý vào đối tượng thiền không bị lay chuyển.
[4] Để biết thêm thông tin về các đối tượng thiền phù hợp, hãy đọc tiếp bên dưới.
Khi nhận ra mình bị phân tâm, hãy đưa sự chú ý trở về với đối tượng thiền mà không nên khó chịu với việc tâm trí lại lang thang lần nữa. Chúng ta là con cháu của vô số thế hệ tổ tiên, những người đã không thể tập trung hoàn toàn vào những gì họ đang làm. Bởi khi làm như vậy, họ sẽ không để ý được thú săn mồi, họ sẽ bị ăn thịt và không sinh con đẻ cháu. Những gì chúng ta đang cố gắng làm đi ngược lại với hàng triệu năm tiến hóa. Chúng ta đã được tạo ra với một tâm trí lang thang. Thế nên đây là một điều rất bình thường. Thực ra bạn nên coi đó là một chiến thắng – rằng bạn đã nhận ra sự lang thang đó – thay vì một tâm lý chủ bại rằng bản chất của tâm trí vốn là như vậy. Thực ra, khi nhận ra mình đã bị phân tâm thì nên chủ động thả lỏng, làm vậy sẽ vô cùng có ích. Sau đó nhẹ nhàng đặt sự chú tâm trở lại với đối tượng thiền. Trạng thái tâm trí này có thể được gọi là sự tinh tấn thoải mái.
Không nên ép tâm trí tập trung vào đối tượng thiền. Điều này không phải là không thể; chỉ là làm như vậy sẽ làm tâm trí quá căng thẳng đến mức nó sẽ không có được sự tinh tấn thoải mái cần thiết để nhập jhāna. Chiến lược ở đây là hãy đặt sự chú tâm vào đối tượng thiền, và rồi hãy chuyên chú nhận ra khi bị phân tâm. Đừng bám chấp vào việc bị phân tâm. Hãy gán cho sự phân tâm một cái tên ngắn gọn. Việc này giúp bạn có thể tách ra, không bị đồng nhất với dòng suy nghĩ và cho phép bạn nhìn vào bên trong xem tâm trí thường đi đâu khi bị phân tâm. Chỉ cần nhớ rằng cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu luôn luôn đúng – đừng tốn công để tìm cái tên “hoàn hảo”. Sau đó – rất quan trọng – hãy thư giãn và đưa sự chú ý trở lại với đối tượng thiền.
Nếu chú ý kĩ đến nội dung gây phân tâm, bạn sẽ nhận ra rằng hầu hết những điều gây xao lãng đều nằm trong năm loại chướng ngại. Đôi khi chỉ cần kiên trì quay lại với đối tượng thiền và chướng ngại đó sẽ biến mất. Nhưng đôi khi sẽ có những chướng ngại khó hơn. Năm chướng ngại này được thảo luận chi tiết trên trang web “Abandoning the Five Hindrances” (Loại bỏ năm chướng ngại) ở địa chỉ http://rc.leighb.com/more/Abandoning_the_Five_Hindrances.htm, và các phương pháp chung để giải quyết từng chướng ngại cũng được đề cập trên trang.
Nếu có một chướng ngại đặc biệt dai dẳng và luôn trở lại, các phương pháp thông thường có thể không hiệu quả. Đôi khi, việc đặt cho sự xao lãng đặc biệt đó một cái tên hài hước lại có ích – chẳng hạn như “Ma Xó”. Sau đó bạn có thể đối thoại với nó mỗi khi nó xuất hiện: “Lại là mi đấy à, Ma Xó. Chà, giờ không phải lúc, hãy đi đi!” Đặt cho sự xao lãng đó một cái tên buồn cười sẽ lấy đi một phần sức mạnh của nó. Nói chuyện với nó như một đứa trẻ hay hờn dỗi cũng sẽ khiến ảnh hưởng của nó suy yếu.
Nếu quá khao khát trải nghiệm jhāna thì bạn đang bị vướng vào chướng ngại của sự ham muốn. Hãy gạt bỏ ham muốn đó – những kỳ vọng đó – để có thể nhập jhāna. Gạt bỏ kỳ vọng chắc chắn là nói dễ hơn làm. Lời khuyên tốt nhất tôi có thể cho bạn là hãy tránh xa cái mà Ayya Khema gọi là “nghĩ theo kết quả”. Đừng tập trung vào những hi vọng, suy nghĩ, hay kì vọng về những gì nên xảy ra. Ayya đưa ra một ví dụ mà có thể bạn sẽ thấy hữu ích. Ví dụ bạn muốn lái xe từ nhà đến một trung tâm thiền cách nhà vài giờ. Giả sử có người cho bạn những lời chỉ đường chuẩn xác. Nếu chỉ dẫn bắt đầu bằng những câu như “Khi đến cuối đường, hãy rẽ phải. Khi ra đến đường cao tốc này, rẽ trái”, thì sẽ chẳng có lợi gì nếu bạn vừa lái xe ra đường đến ngã rẽ đầu tiên mà đã nhìn quanh tìm kiếm trung tâm thiền đó. Để có thể theo lời chỉ đường một cách hiệu quả, bạn không nên tập trung vào đích đến; chỉ cần xác định vị trí hiện tại của mình, và cần làm gì khi đến điểm rẽ tiếp theo. Đây chính xác là cách học jhāna. Hãy hiểu những lời chỉ dẫn. Xác định vị trí hiện tại và “cột mốc” để thực hiện bước tiếp theo. Đừng chú ý, thậm chí đừng suy nghĩ, về đích đến.
Phương pháp để tiến nhập jhāna bắt đầu từ việc phát triển cận định. Hãy bắt đầu bằng việc ngồi ở một tư thế thẳng lưng thoải mái. Tư thế này phải thoải mái, vì nếu bị đau thì trạng thái tâm bất thiện của sự chán ghét sẽ tự động sinh ra. Có thể bạn có khả năng ngồi theo một kiểu nhìn rất đẹp, nhưng nếu đầu gối bạn đang đau gần chết thì bạn không trải nghiệm được bất kì jhāna nào. Thế nên hãy tìm cách ngồi sao cho thoải mái. Nhưng bạn cũng cần phải thẳng lưng và tỉnh giác, vì như vậy năng lượng sẽ để dễ luân chuyển theo hướng giúp bạn tỉnh táo. Mặt khác, nếu ngồi quá thoải mái thì sẽ dễ bị hôn trầm và buồn ngủ, đây cũng là một trạng thái tâm bất thiện mà hoàn toàn không có lợi cho việc nhập jhāna.
Như vậy, điều kiện tiên quyết đầu tiên để nhập jhāna là đưa cơ thể vào một tư thế để có thể giữ yên suốt thời thiền mà không cần phải chuyển động. Nếu bạn có vấn đề ở lưng hay một số trở ngại khác khiến bạn không thể ngồi thẳng, thì bạn cần tìm một tư thế khác để có thể vừa tỉnh táo mà vẫn ngồi lâu được thoải mái.
Nói vậy không có nghĩa là không thể cử động. Có thể bạn đã vào một tư thế và phát hiện ra rằng “Đầu gối mình đang đau muốn chết; cần cử động bởi vì mình đang kháng cự quá nhiều”. Nếu phải cử động thì cử động. Chỉ cần đặt chánh niệm vào sự cử động. Ý định cử động sẽ xuất hiện trước khi cử động. Hãy chú ý đến ý định đó, rồi cử động hết sức chánh niệm, sau đó ổn định vào tư thế mới và để ý rằng tâm trí đang nỗ lực để trở lại trạng thái tĩnh lặng vốn có trước khi cử động. Quan trọng là đừng cử động một cách thiếu chánh niệm.
Quá trình này sẽ khuyến khích bạn tìm một tư thế mà không cần phải chuyển động, vì bạn sẽ nhận thấy rằng ngay cả một cử động nhỏ nhất cũng đủ để làm xáo trộn. Và tâm trí phải thật tĩnh lặng thì mới đủ định lực để thấy được jhāna. Hãy tham khảo Phụ lục 2, “Những điều hữu ích nên làm khi bắt đầu và kết thúc mỗi thời thiền”, về một số gợi ý sau khi đã ổn định được tư thế ngồi.
Có nhiều cách để vào cận định. Chương này và chương tiếp theo sẽ chủ yếu nói về việc vào được trạng thái này bằng hơi thở, một phương pháp thực hành được gọi là ānāpānasati. Phần đầu trong từ ghép tiếng Pali này, ānāpāna, có nghĩa là “thở vào và thở ra”, trong khi chữ sati có nghĩa là “niệm”. Thế nên thực hành này được gọi là “niệm hơi thở”. Khi thực hành ānāpānasati, hãy đặt sự chú tâm vào cảm giác vật lý của hơi thở. Một điều cực kỳ quan trọng là đừng kiểm soát hơi thở dưới bất kỳ hình thức nào – chỉ chú tâm đến hơi thở đang diễn ra tự nhiên. Nếu kiểm soát hơi thở thì sẽ dễ tập trung hơn. Tuy nhiên, như vậy lại quá dễ dàng và sẽ không tạo ra đủ định lực để nhập jhāna.
Nếu có thể quan sát cảm giác vật lý ở đầu mũi hoặc ở khu vực nằm giữa mũi và môi trên (nhân trung), thì có lẽ sẽ tốt hơn, thay vì quan sát ở bụng hay chỗ khác. Nói là tốt hơn vì quan sát ở các khu vực đó khó hơn, thế nên bạn phải tập trung hơn. Để đạt được cận định, hãy chọn cách khả thi nhưng không quá dễ dàng. Khi để ý đến hơi thở tự nhiên, không kiểm soát ở mũi, bạn phải rất chú tâm.
Trong thực hành này, bạn sẽ có cảm nhận về xúc giác. Tâm trí có thể sẽ đi lang thang. Bạn sẽ đưa tâm trí trở lại, rồi nó lại đi lạc; bạn lại đưa nó quay lại, và nó lại lan man đi chỗ khác. Tuy nhiên, cuối cùng – có thể không phải lần thiền tiếp theo, có thể thậm chí không phải ngày mai, tuần sau hay tháng sau, nhưng cuối cùng – bạn sẽ thấy tâm trí đã dán chặt vào hơi thở. Bạn thực sự đang theo dõi hơi thở và tâm trí không đi lan man nữa. Mọi suy nghĩ đều trở nên mờ nhạt và không nổi bật nữa. Suy nghĩ có thể xuất hiện kiểu như “Ồ, mình đang thực sự theo dõi hơi thở này”, thay vì “Khi đến Hawaii, việc đầu tiên mình làm sẽ là…”.
Khi các suy nghĩ chỉ thoáng qua, khi chúng không thực sự kéo bạn đi và bạn hoàn toàn hiện diện với cảm giác của hơi thở, nhận biết từng hơi thở vào và hơi thở ra – đây chính là dấu hiệu của cận định. Bất kể bạn đang thực hành theo phương pháp nào, dấu hiệu của cận định là sự hiện diện hoàn toàn với đối tượng thiền. Nếu đang thực hành mettā (thiền tâm từ), thì bạn hiện diện trọn vẹn ở đó với cảm xúc của mettā; bạn không bị phân tâm. Nếu đang thực hành quét cơ thể, bạn hiện diện trọn vẹn ở đó với các cảm nhận vật lý khi đưa ý thức quét khắp cơ thể. Bạn không nghĩ những ý nghĩ không liên quan, không suy tính, không lo lắng, không giận dữ, không ham muốn bất cứ cái gì. Bạn chỉ hiện diện trọn vẹn, ở đó, với đối tượng thiền. Khi bắt đầu định tâm, bạn có thể thấy ánh sáng và màu sắc khác nhau ngay cả khi đang nhắm mắt. Đây là dấu hiệu của sự định tâm. Nhìn chung thì không nên bám vào những dấu hiệu này, cũng không cần phải làm gì. Khi tâm đã thực sự định, màn trình diễn ánh sáng ngẫu nhiên này sẽ biến mất. Chúng có thể được thay thế bởi một màn sáng trắng khuếch tán, dấu hiệu của sự định tâm sâu. Một số người luôn nhìn thấy ánh sáng này, một số khác thì gần như không bao giờ thấy, và với nhiều người khác nữa thì đôi khi thấy, đôi khi không. Nhưng nhắc lại, bạn không cần phải làm gì với dấu hiệu đó cả – đó chỉ là một dấu hiệu, một biển hiệu. Khi lái xe vào một thị trấn và nhìn thấy một tấm biển có nội dung “Chào mừng bạn đã đến thị trấn”, bạn không cần phải dừng xe, xuống xe, nhổ tấm biển và ném nó vào cốp xe; bạn không phải làm gì với tấm biển đó cả – nó chỉ cho biết bạn đang ở đâu. Ánh sáng trắng khuếch tán chính là tấm biển báo “Chào mừng bạn đã đến thị trấn Định-tâm”. Tuyệt vời; hãy tiếp tục tập trung vào đối tượng thiền!
