Chương 8 – Thực hành minh sát

✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định

Với tâm giờ đây đã định, thuần khiết sáng rỡ, không hoen ố, không khiếm khuyết, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững chắc và bình tĩnh như vậy, ta dẫn tâm, hướng tâm vào việc biết và thấy. Từ đây ta hiểu rằng thân này của ta có hình tướng vật chất, do bốn nguyên tố chính [1] tạo thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, chịu hư hoại, chịu vỡ nát, tan rã, phân tán, và tâm thức ta nương tựa và bị trói buộc trong thân ấy. (Kinh Trường Bộ 2.83)

[1] Bốn nguyên tố là đất, nước, gió, lửa


Mục đích của các jhāna là để tâm trở nên định tĩnh, thuần khiết sáng rỡ, không tì vết, không phiền não, mềm dẻo dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững chắc, và không bị nao núng, từ đó ta có thể biết và thấy. Biết và thấy cái gì? Thân và tâm. Các jhāna giúp tâm có thể thực hành minh sát hiệu quả hơn. Jhāna là bài tập khởi động để tìm hiểu thân và tâm. Bất kể bạn chọn thực hành minh sát nào, nghiên cứu thân tâm mình với phương pháp nào, nó đều sẽ hiệu quả hơn với tâm định tĩnh, trong sáng, dễ sử dụng, v.v.

Minh sát tuệ [2] có thể được định nghĩa là một “trải nghiệm có hiểu biết”. Nếu bạn chưa bao giờ ăn xoài mà có người tả cho bạn nghe về quả xoài – một thứ quả màu vàng cam, ở giữa có hạt to, phải gọt vỏ khi ăn, bên trong thì màu vàng, mọng nước và rất ngọt. Bạn có tưởng tượng được quả xoài có vị như thế nào không? Đương nhiên là không – bạn sẽ nghĩ đó là quả đào! Nhưng nếu cắn vào quả xoài – nếu được nếm một quả xoài – thì bạn sẽ biết nó có vị như thế nào (mặc dù đương nhiên bạn chỉ biết đó là vị của quả xoài nếu có người nói cho bạn biết đó là xoài). Bạn cần có cả hai – hiểu biết và trải nghiệm. Hiểu biết mà không có trải nghiệm đi kèm có thể giúp ích một chút, nhưng sẽ không thay đổi chúng ta một cách triệt để. Trải nghiệm mà không có hiểu biết thì khiến ta bối rối. Chúng ta cần có cả hai để tiến bộ trên con đường tâm linh. Minh sát tuệ là những thực hành cả trên đệm thiền lẫn ngoài đệm thiền, nhằm mục đích đem lại trải nghiệm về bản chất thực sự của thế giới trong một bối cảnh mà chúng ta có thể hiểu được các trải nghiệm này. Bạn có thể xem danh sách liệt kê một phần các thực hành minh sát tuệ tại http://rc.leighb.com/more/A_Partial_List_of_Insight_Practices.htm.

[2] Minh sát tuệ (Tiếng Phạn: vipassanā) – còn có nghĩa là hiểu biết nội tại.

Hiểu biết nội tại này có thể mang tính cá nhân, ví dụ như hiểu biết về một vấn đề mà bạn đang cố gắng giải quyết, hoặc hiểu biết tâm lý về lý do tại sao bạn phản ứng theo một cách nhất định trong một tình huống nào đó. Hiểu biết như thế rất hữu ích. Thực ra, hiểu biết nội tại về tâm lý có thể là mấu chốt để dọn đường cho các hiểu biết khác sâu hơn và mang tính chuyển hóa cao hơn. Tuy nhiên những hiểu biết mang tính chuyển hóa triệt để sâu sắc thì không mang tính cá nhân. Chúng là những trải nghiệm về bản chất vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã của vũ trụ.

Phương pháp để thức tỉnh trên con đường tâm linh là buông bỏ. Để làm được việc này, bạn cần phải tin rằng không có gì đáng để bám víu. Thực ra, chẳng có gì chúng ta có thể bám được vào. Để tự thuyết phục như vậy, bạn cần xem xét thực tại bằng một tâm trí sắc sảo và tập trung để thấy rõ các đặc tính vô thường, bất toại nguyện, và trống rỗng của cả bản thân lẫn thế giới xung quanh.

Một trong những điều có ích nhất khi xem xét bản chất của thực tại là khi bạn có khả năng xem xét từ một góc nhìn ít vị kỷ hơn. Thông thường chúng ta tiếp cận thế giới theo kiểu “Đây có phải là thứ tôi muốn, hay đây là thứ tôi cần loại bỏ?” Tất cả đều xoay quanh “tôi”, “cái tôi muốn”, “cái tôi sợ”. Mặc dù nhìn một cách ngây thơ thì có vẻ như cả thế giới đều xoay quanh “tôi”, nhưng thực tế không phải vậy. Việc thực hành các tầng jhāna tập trung vào một loạt các đối tượng ngày càng vi tế sẽ làm lắng dịu các quá trình tạo ra cái tôi. Khi xả thiền jhāna, quá trình tạo cái tôi này không bật trở lại ngay lập tức – bạn có một khoảng thời gian để xem xét thế giới từ một góc nhìn ít xoay quanh cái tôi hơn. Điều này cho bạn một cơ hội để thấy điều gì đang thực sự xảy ra, tốt hơn nhiều so với việc nhìn thế giới theo lăng kính của những gì có lợi và bất lợi cho bạn.

Góc nhìn mới này ít vị kỷ hơn và đi kèm với tâm trí thuần tịnh, dễ uốn nắn, dễ sử dụng. Đó là một trải nghiệm nhất thời. Tâm trí bạn sẽ nhanh chóng trở lại với ham muốn và lo lắng vị kỷ. Thời gian ở trong góc nhìn hữu ích này tùy thuộc vào định lực mà bạn đã tạo ra trong các jhāna và vào những việc làm sau khi ra khỏi jhāna.

Sau khi luyện jhāna, tốt nhất nên tiếp tục ngồi thiền, nhưng lúc này hãy chuyển sang thực hành thiền minh sát tuệ, thực hành quán sát thực tại. Đức Phật khuyên rằng nên thực hành phương pháp nào giúp bạn thấu hiểu đặc tính của thân tâm mình, để thấy được mối quan hệ chúng phụ thuộc lẫn nhau và thấy bản chất vô thường của chúng. Ví dụ, kinh Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta) nêu ra bốn thực hành quán niệm, trong đó một niệm về thân và ba niệm về tâm, [3] chính là những gì ta cần xem xét bằng tâm định tĩnh của mình.

[3] Ba bài tập niệm về tâm là pháp, thọ, tâm

Thức tỉnh là một nhiệm vụ khó khăn. Có lẽ nó còn khó hơn cả việc cưa đôi cái bàn gỗ bằng một con dao cắt bơ cùn. Nếu thực sự muốn cưa đôi cái bàn bằng dao cắt bơ, có lẽ bạn sẽ làm được. Nếu ấn dao thật mạnh, bạn có thể tạo ra ngay một vết lõm nhỏ trên bàn. Nếu tiếp tục ra sức và ấn xuống, bạn có thể cưa cái bàn đó làm đôi với con dao cắt bơ cùn. Nhưng đó hẳn sẽ là một công trình thực sự nặng nhọc và mất rất nhiều thời gian. Tuy nhiên, nếu lấy một viên đá và mài dao cắt bơ thì bạn có thể cưa nhanh hơn rất nhiều. Bạn sẽ nhanh chóng bù lại được khoảng thời gian đã “lãng phí” để mài dao. Tất nhiên sau một thời gian thì lưỡi dao sẽ lại cùn, bạn sẽ phải mài lại để tiếp tục cắt. Rõ ràng là khi dùng một con dao sắc thì bạn có thể cưa đôi cái bàn nhanh hơn rất nhiều so với dùng dao cùn. Mục đích của các jhāna là để mài sắc tâm trí của bạn, sao cho khi bạn nhìn xem điều gì đang thực sự diễn ra thì bạn có cái nhìn minh sát xuyên thủng vào nó.

Trong truyền thống Tây Tạng, vị Bồ tát của trí tuệ là Văn Thù Sư Lợi (Mañjuśrī). Văn Thù Bồ tát thường được miêu tả với bàn tay phải cầm một thanh kiếm trí tuệ cắt đứt vô minh. Thực hành thiền jhāna chỉ đơn giản là mài giũa tuệ kiếm của Văn Thù Bồ tát. [4] Khi di chuyển qua các tầng jhāna, bạn đang mài sắc tâm trí của mình. Dù chưa cắt đứt được sợi xích vô minh nào cả nhưng bạn vẫn phải vung kiếm lên. Đó chính là thực hành thiền minh sát tuệ. Nhưng nếu dành toàn bộ thời gian để mài kiếm mà không bao giờ vung nó lên, bạn sẽ chẳng bao giờ cắt được sợi xích vô minh nào. Cuối cùng thanh kiếm cũng chẳng còn vì bạn đã mài hết cả kiếm.

[4] Phép ẩn dụ về thanh kiếm trí tuệ có thể được truy về bắt nguồn từ bộ kinh điển Pali – nó xuất hiện trong Kinh Pháp Cú 40 chẳng hạn.

Việc chuyển jhāna sang thực hành minh sát tuệ cực kì đơn giản. Chỉ cần ngừng tập trung vào đối tượng của jhāna – ví dụ như sự yên tĩnh của jhāna thứ tư – và bắt đầu thực hành minh sát tuệ, bất cứ phương pháp minh sát tuệ nào. Không cần phải lùi về jhāna thứ nhất và về cận định để bắt đầu thực hành minh sát. Thực ra, việc bắt đầu minh sát tuệ từ tầng jhāna cao nhất mà bạn vào được sẽ cho hiệu quả cao nhất, vì đó là khi định lực mạnh nhất. Khi bắt đầu thực hành minh sát tuệ, cảm giác của jhāna sẽ còn lưu lại ít nhất trong vài khoảnh khắc, thậm chí lâu hơn. Hãy cứ tiếp tục thiền minh sát thì cảm giác đó sẽ phai nhạt dần; không sao cả. Thực hành jhāna đã xong và bạn có định lực mạnh mẽ; hãy dừng và sử dụng tâm định tĩnh của mình để xem xét thực tại.

Khi bắt đầu thời thiền, hãy chọn một phương pháp thực hành minh sát sau khi thoát ra khỏi jhāna. Như vậy bạn sẽ không lãng phí thời gian vào việc suy nghĩ “Bây giờ mình nên làm gì?” – bạn đã biết cần làm gì với tâm trí sắc bén định tĩnh của mình. Nếu khi thoát khỏi jhāna mà bạn thực sự muốn thực hành một phép quán khác thì thay đổi ý định một lần cũng không sao. Tuy nhiên, một khi đã bắt đầu thì hãy duy trì thực hành minh sát đó cho đến khi kết thúc thời thiền.

Đức Phật đã khám phá rằng nếu chỉ thực hành thiền jhāna thôi thì chưa đủ. Thiền jhāna là thực hành mà hai người thầy đầu tiên đã dạy Ngài; Ngài rời bỏ họ vì chỉ có thực hành định tâm thôi thì không trả lời được các câu hỏi tâm linh sâu sắc. Tài năng xuất sắc của Đức Phật là ở chỗ khám phá ra rằng luyện tập jhāna có khả năng mài giũa tâm trí. Sau đó, chúng ta phải biết cách vận dụng tâm trí sắc bén đó để khám phá ra lý duyên khởi. Đây chính là Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đã giảng dạy. Jhāna là các bài tập khởi động để thực hành thiền minh sát tuệ.

Hai loại thực hành thiền minh sát

Thiền minh sát có thể được chia thành hai loại cơ bản: quán niệm và quán tưởng.

Quán niệm

Phép quán niệm bao hàm việc xem xét không bằng ngôn từ, hoặc gần như không bằng ngôn từ, một số loại thông tin đi vào từ các giác quan. Việc duy trì khả năng tập trung và không bị phân tâm trong thực hành mình sát thường dễ dàng hơn. Việc nhận ra khi bị mất tập trung cũng dễ hơn. Nếu nhận thấy suy nghĩ đang diễn ra, hãy buông bỏ suy nghĩ và quay lại với đối tượng quán niệm.

Quán tưởng

Phép quán tưởng bao hàm việc suy ngẫm về một chủ đề cụ thể. Các chi tiết của chủ đề có thể đến từ cảm nhận giác quan đi vào (ví dụ, quán tưởng về bốn nguyên tố qua thị giác và xúc giác), chúng cũng có thể đến từ việc nhớ lại một giáo lý và suy ngẫm về những hàm ý của nó (ví dụ quán tưởng về lý duyên khởi hay quán về các hạt giống sợ hãi được nhắc đến trong Tăng Chi Bộ 5.57). Khi quán tưởng, việc nhận ra sự xao lãng khó hơn so với khi quán niệm. Rõ ràng không phải mọi ý nghĩ đều là xao lãng khi quán tưởng. Một chủ đề quán tưởng nên có một từ, một cụm từ hoặc câu dùng làm chìa khóa để bắt đầu quán tưởng, như thế sẽ có ích. Khi nhận ra sự xao lãng, hãy nhắc lại từ khóa này để định trở lại.

Cả hai phương pháp này đều là cách sử dụng tâm định tĩnh có được từ thực hành jhāna để xem xét thực tại. Việc cung cấp thông tin chi tiết hơn nằm ngoài phạm vi của sách này. May mắn thay, có rất nhiều tài nguyên khả dụng để học các phép quán khác nhau trong thiền minh sát. Vui lòng xem trang web “Danh sách một số thực hành minh sát tuệ” ở địa chỉ http://rc.leighb.com/more/A_Partial_List_of_Insight_Practices.htm để biết các ví dụ cho mỗi loại quán này.


Gửi phản hồi