Chương 9 – Các Jhāna vô sắc

✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định

Đấng Thế Tôn đã chân chính giảng dạy bốn điều… [trong đó có] bốn trạng thái không hình tướng. (Kinh Trường Bộ 33 1.11.7)


Khi đọc kinh thì có vẻ như Đức Phật xem jhāna thứ tư là đủ để phát khởi “tâm trí cao cấp” [thượng tâm] định tĩnh đủ sâu để củng cố thực hành minh sát tuệ. [1] Tuy nhiên đôi khi kinh còn nhắc đến việc thực hành bốn trạng thái vô hình tướng sau jhāna thứ tư. Chuỗi tám trạng thái định tâm này khiến cho sách vở đời sau gọi bốn trạng thái vô hình tướng là arūpa jhāna, có nghĩa là “jhāna vô hình tướng” [vô sắc], còn bốn jhāna đầu tiên được gọi là rūpa jhāna – nghĩa là các “jhāna hữu hình” [sắc giới].

[1] Việc thực hành minh sát tuệ sau jhāna thứ tư không chỉ được nhắc đến trong bài kinh nói về học tập tuần tự. Bên cạnh đó còn có câu “tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, ta chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm” xuất hiện trong Trung Bộ 6.9, Trung Bộ 53 (xuyên suốt cả bài), Trung Bộ 108.17, và Trung Bộ 119.36.

Một trong những cách hiểu cụm từ “jhāna hữu hình” là các jhāna này có những đặc tính có thể trải nghiệm được trong thế giới vật chất hữu hình. Trong Thanh Tịnh Đạo có một ví dụ về bốn rūpa jhāna như sau:

Bạn đang lạc trong sa mạc và không có nước uống. Đó là một tình thế khá gian nan. Bạn đi lên một ngọn đồi nhỏ, và ở xa bạn nhìn thấy cái gì đó trông như cây cọ – đó cũng có thể là ảo tượng. Bạn đi về hướng đó và những hình ảnh kia không thay đổi. Bạn bắt đầu gặp nhiều người; tóc họ ướt và họ mang những bọc quần áo ướt; nơi đó là một ốc đảo! Bạn thực sự phấn khích: đó là jhāna đầu tiên. Bạn đến ốc đảo, nơi đó rất đẹp, có một hồ nước lớn trong vắt mát lạnh. Bạn vô cùng hạnh phúc: đó là jhāna thứ hai. Bạn uống nước, nhảy xuống hồ, tắm mát và giặt rửa sạch sẽ rồi đi lên, bạn mãn nguyện: đó là jhāna thứ ba. Rồi bạn nằm xuống dưới bóng cây và nghỉ ngơi: đó là jhāna thứ tư [2].

[2] Thanh Tịnh Đạo 4.100 và được mở rộng trong Vô Tỷ Pháp Tập Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha).

Ví dụ này thực sự gói gọn được cảm giác khi đi qua bốn trạng thái jhāna hữu hình với đặc tính quen thuộc của chúng là vui sướng, hạnh phúc, mãn nguyện, và tâm bình đẳng.

Tuy nhiên, bốn trạng thái tiếp theo là arūpa jhāna (jhāna vô hình tướng) thì hầu như không giống với bất kỳ cái gì chúng ta từng trải qua trong thế giới này. Mỗi jhāna có một cái tên phức tạp thay vì chỉ có một con số, nhưng lại không có mấy chi tiết nói về chúng hay cách nào để nhập vào chúng. Kinh cứ lặp đi lặp lại gần như cùng một đoạn văn mẫu [khi đi từ tầng này sang tầng khác], và các chi tiết thưa thớt cứ giảm dần theo thứ tự tăng dần. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét từng cái một.

Tỷ-kheo vượt hoàn toàn lên khỏi mọi cảm giác của thân thể, diệt trừ mọi cảm giác kháng cự, không bị thu hút bởi nhận thức về sự khác biệt, người ấy thấy rằng không gian là vô tận, chứng và trú trong cõi không gian vô cực.[3] (Kinh Trường Bộ 33.1.11.7)

[3] Cõi không gian vô cực: Kinh tiếng Việt dịch là “Không vô biên xứ”.

Như vậy, jhāna thứ năm, tầng đầu tiên trong các jhāna vô sắc, được gọi là “cõi không gian vô cực”. Chúng ta có thể gọi là “xứ” hay “khu” hay “nơi của không gian vô cực”, thậm chí gọi là “trải nghiệm về không gian vô cực”. Vì vào thời Đức Phật người ta chưa có khái niệm về số không, nên khó mà tin rằng họ đã có khái niệm về vô cực. Thế nên có lẽ một từ chính xác hơn để dịch tên của jhāna thứ năm này là “xứ của không gian vô hạn” hay “xứ của không gian vô tận” hay “xứ của không gian vô biên”.

Phần mô tả bắt đầu bằng câu “vượt lên khỏi mọi cảm giác trong thân thể”. Trong các jhāna trước, bạn thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình. Nhưng giờ đây để tiến vào jhāna thứ năm, bạn cần vượt lên khỏi mọi nhận thức về thân thể mình. Đối tượng chú ý của các jhāna vô sắc này khá vi tế, để tiếp cận được chúng, bạn cần hết sức định tâm. Định lực này phải mạnh đến mức bạn không còn chú ý gì đến thân thể vật chất của mình nữa, chỉ thuần túy nếm trải trạng thái tinh thần của jhāna.

Sau khi “vượt lên khỏi mọi cảm giác trong thân thể”, đoạn mô tả tiếp tục với “diệt trừ mọi cảm giác kháng cự, không bị thu hút bởi nhận thức về sự khác biệt”. Để hiểu câu này, tốt nhất ta hãy phân tích một đoạn giải thích về cách nhập vào jhāna thứ năm. Khi ở trong jhāna thứ tư, bạn có thể nhận thấy cơ thể mình đang sụp xuống. Năng lượng hơi thấp, và có lẽ bạn nên tăng năng lượng lên một chút bằng cách ngồi thẳng lên hơn. Sau đó, hãy tìm một cái gì đó mà bạn có thể mở rộng ra không giới hạn. Cách mà ni sư Ayya Khema dạy là cảm nhận về ranh giới của bản thân, sự hiện diện của bạn và mở rộng chúng ra để thấy mình tràn đầy cả căn phòng. Một khi cảm giác này ổn định, hãy mở rộng tiếp ra để tràn đầy cả tòa nhà. Khi cảm thấy khá ổn định, hãy mở rộng tiếp để tràn đầy cả khu vực lân cận. Rồi mở rộng ngày càng xa và xa hơn nữa, đến tận chân trời và vượt qua cả chân trời; cứ tiếp tục mở rộng. Một khi chạm đến chân trời, hãy buông bỏ nhận thức về sự khác biệt [giữa bản thân và xung quanh], và khi ấy không còn gì để mở rộng và vượt qua nữa. Không cần mở rộng đến cả mặt trăng, sao Hỏa hay sao Mộc. Quên những thứ đó đi; chỉ cần tập trung vào cảm giác mở rộng không biên giới. Quá trình mở rộng này phải diễn ra trôi chảy; không được có cảm giác bị cản trở. Nếu gặp bất kỳ lực cản nào, hãy chọc thủng nó và tiếp tục mở rộng xa hơn, mở rộng một cách trơn tru trôi chảy. Chỉ duy trì tập trung vào cảm giác mở rộng ra bên ngoài này.

Hãy nhớ rằng để vào jhāna thứ nhất, bạn cần

– tạo ra cận định,
– rồi sau khi ở trong cận định một thời gian,
– tìm một cảm giác dễ chịu,
– và tập trung vào cảm giác dễ chịu đó.

Còn ở đây, bạn cần

– tưởng tượng ra một thứ mà bạn có thể mở rộng,
– bắt đầu mở rộng vượt qua những ranh giới xung quanh,
– mở ra xa hơn vượt qua mọi vật,
– và chú ý vào cảm giác mở rộng đó.

Nếu làm được như vậy thì cuối cùng một không gian rộng lớn trống rỗng sẽ xuất hiện trước mặt bạn. Đừng tìm kiếm không gian đó: làm vậy tức là bạn đang không tập trung vào cảm giác mở rộng và do vậy cản trở sự xuất hiện của không gian vô tận đó. Chỉ cần tập trung đúng vào việc mở rộng, rồi không gian vô tận sẽ tìm đến với bạn. Jhāna thứ nhất không phải là cảm giác dễ chịu mà bạn đang tâm trung. Bạn cần có pīti và sukha. Cảm giác mở rộng này cũng không phải jhāna thứ năm – bạn cần kiên nhẫn chờ đợi sự xuất hiện của không gian vô tận.

Bạn có thể làm theo cách ni sư Ayya Khema dạy và mở rộng cảm nhận về bản thân. Nhưng thực ra mở rộng cái gì không quan trọng. Một thiền sinh cho biết họ đã tưởng tượng ra một quả bóng bay và thổi nó lên càng lúc càng lớn dần, cho đến khi nó nổ tung ra và không gian vô tận xuất hiện. Cũng chính cô thiền sinh này đã hình dung ra một cây đèn pin và đi theo tia sáng càng lúc càng xa dần cho đến khi ánh sáng đó chiếu sáng không gian vô tận. Một thiền sinh khác mô tả rằng họ ở trong một chiếc thang máy đi lên càng lúc càng cao. Có người nói rằng họ tưởng tượng ở trong một tên lửa phóng càng lúc càng xa dần, hoặc thậm chí lắng nghe tiếng một chiếc máy bay đang thực sự bay ngang qua lúc đó rồi đi theo âm thanh đó khi nó xa dần. Việc mở rộng cái gì trong tâm là không quan trọng. Điều quan trọng là khả năng tiếp tục tập trung vào cảm giác mở rộng đó.

Bạn không cần thử mở rộng theo mọi hướng – như thế quá phức tạp. Nói chung, nên chọn nhiều nhất là hai hướng mà bạn có thể chuyển động hai cánh tay đối xứng với nhau: giang sang hai bên hoặc đưa ra trước mặt. Hầu hết mọi người thích đi lên và ra ngoài. Chỉ cần tập trung vào cảm giác mở rộng thôi.

Khi không gian xuất hiện, nó sẽ khá rõ ràng. Bạn thường sẽ có phản ứng kiểu như “Ôi chao, không gian rộng quá!” Nó như thể bạn đang đi bộ trên sa mạc Arizona và đột ngột đứng trước hẻm núi Grand Canyon; chỉ khác là hẻm núi không có đáy và không có bờ bên kia. Đó là một không gian rất lớn! Và khi nó xuất hiện bạn sẽ không thể nhầm được.

Nếu mạnh về thị giác, bạn có thể sẽ “nhìn” thấy không gian này. Đôi khi nó có vẻ trắng nhờ hoặc xám nhạt – có thể có đường chân trời hoặc không. Đôi khi nó đen như không gian vũ trụ – nhưng vì ở đây không có nhận thức về sự khác biệt nên sẽ không có các ngôi sao, thiên hà, hay bất cứ thứ gì tương tự; nó chỉ là một không gian đen trống rỗng. Nếu không mạnh về thị giác thì có thể bạn sẽ không “nhìn” thấy không gian, nhưng bạn sẽ biết là nó ở đó. Dù có “thấy” nó hay không, khi không gian này xuất hiện hãy ngừng tập trung vào việc mở rộng để chú ý hoàn toàn vào sự mênh mông của không gian và chỉ ở đó nếm trải sự mênh mông đó thôi. Trong kinh Poṭṭhapāda (Trường Bộ 9.14), chúng ta đọc thấy rằng sau khi chuyển tiếp từ jhāna thứ tư sang Không vô biên xứ, “ta có nhận thức tinh tế chân thật về xứ của không gian vô biên”. Đối tượng chú ý ở đây là trải nghiệm về không gian vô biên này.

Ở trạng thái này, bạn có một chút cảm giác về một người quan sát đang quan sát không gian rộng lớn trước mặt này. Bạn sẽ không thực sự nhận ra người quan sát này trong vài lần đầu khi mới nhập jhāna thứ năm. Chỉ khi đã trở nên thuần thục trong jhāna này thì sau đó bạn mới nhận ra rằng, “Ồ phải, có một người quan sát nhỏ bé và có cả không gian rộng lớn ngay trước mặt mình”. Khi jhāna thứ năm trở nên thực sự mạnh mẽ, không gian rộng lớn này không chỉ ở trước mặt mà còn ở bên dưới, bên trên, phía sau và xung quanh bạn, với người quan sát lơ lửng ở giữa. Tuy nhiên với hầu hết mọi người mới bắt đầu nhập vào jhāna thứ năm thì không gian này chỉ ở trước mặt; chỉ khi thuần thục và định tâm sâu hơn thì không gian mới bao trùm xung quanh.

Giống như với các jhāna trước, hãy học cách duy trì trạng thái này trong 10 đến 15 phút. Như vậy, bạn chỉ ngồi đó tập trung vào không gian vô tận, đó chính là jhāna thứ năm.

Khi vượt lên hoàn toàn khỏi cõi của không gian vô biên, nhận thấy rằng ý thức là vô biên, ta chạm đến và trú trong cõi của ý thức vô biên.[4] (Kinh Trường Bộ 33.1.11.7)

[4] Cõi của ý thức vô biên: Kinh tiếng Việt dịch là “Thức vô biên xứ”.

Những lời chỉ dẫn trở nên thưa thớt dần. Bạn đang ngồi đó và tập trung vào không gian rộng lớn. Bí quyết để chuyển sang jhāna thứ sáu là dịch chuyển sự chú ý từ không gian sang ý thức về không gian. Hãy nhận biết sự nhận biết, ý thức sự ý thức. Đó là một thủ thuật đưa ý thức quay lại ý thức về chính nó. Chúng ta không thể dùng một ý thức có hạn để ý thức về một không gian vô hạn. Do đó, khi hướng sự chú tâm trở lại vào ý thức của mình, lạ chưa kìa, ý thức của bạn trở nên rộng lớn như không gian vô hạn. Giờ đây bạn nhận biết được rằng mình đang có một ý thức vô hạn. Trên thực tế, quá trình này như sau. Ban đầu có không gian rộng lớn trước mặt, bạn chuyển sự chú tâm trở lại vào chính ý thức của mình, bạn hòa vào không gian đó, rồi trở thành một ý thức rộng vô biên. Khi này, người quan sát và đối tượng quan sát là như nhau, mặc dù xin nhắc lại là bạn có thể không nhận ra điều này khi mới học jhāna thứ sáu. Cảm giác như thể là tâm trí trở nên rộng lớn vô cùng, không có giới hạn. Những người có thể “nhìn” thấy nó dưới bất kỳ hình thức trực quan nào thì thường tả rằng nó tối. Chỉ có vậy cùng với cảm giác “tâm trí tôi to lớn vô cùng”. Đây là một trạng thái thậm chí còn vi tế hơn cả cõi không gian vô biên.

Kinh Poṭṭhapāda (Trường Bộ 9.15) nói rằng sau khi chuyển từ cõi của không gian vô biên sang cõi của ý thức vô biên, “ta có nhận thức tinh tế chân thật về cõi của ý thức vô biên”. Khi này, sự chú ý của bạn đang đặt vào trải nghiệm về ý thức vô tận.

Khi jhāna thứ sáu rất mạnh, bạn có thể cảm thấy dường như có những ý thức khác trong ý thức vô biên này – một vài ý thức nhỏ ở đây, một vài ý thức nhỏ khác ở kia. Không phải là bạn có thể đọc được suy nghĩ của những ý thức nhỏ bé đó. Đó chỉ là một cảm giác, nhưng cảm giác này chỉ xảy ra khi định lực khá mạnh. Nếu điều này xảy ra, bạn không cần làm gì cả; chỉ cần nhận biết rằng dường như có những ý thức khác bên trong ý thức rộng lớn vô biên này. Và điều đó chỉ xảy ra nếu định lực đặc biệt mạnh mẽ.

Với những người theo một truyền thống tâm linh mà mục tiêu thực hành tâm linh là hợp nhất với một bản thể cao hơn, hợp nhất với ātman (tiếng Pali: atta), khi chứng nghiệm jhāna thứ sáu, họ có thể nghĩ rằng họ đã đạt được mục đích. “Có ý thức vô tận này và đó là tôi; hẳn là giờ đây tôi đã đạt được sự hợp nhất với ātman, đúng không?” Sai, đó chỉ là một trải nghiệm. Bạn vừa đưa não bộ/hệ thần kinh vào một trạng thái tâm thức đặc biệt đến mức bạn tiếp nhận những gì mình đang trải qua như thể mình đang có một ý thức vô tận. Đơn giản là như vậy. Chắc chắn đó là một trạng thái rất tập trung, nhưng đó không phải là hợp nhất với ātman nào cả [5]. Hãy ở đó và tập trung xem ý thức đó rộng lớn như thế nào. Khi đó, cái cảm nhận rằng đây là ý thức của mình sẽ rất nhỏ bé; điều rõ ràng là bạn đang tập trung vào một ý thức vô biên.

[5] Tất nhiên, giáo lý của Đức Phật về anatta – không ātman (vô ngã – ND) – phủ nhận sự tồn tại của bất kỳ ātman nào để mà bạn trải nghiệm sự hợp nhất.

Khi mới học jhāna thứ sáu, có thể bạn không thấy nhiều khác biệt giữa jhāna thứ năm và jhāna thứ sáu. Đó là một sự dịch chuyển vi tế, trừ khi định lực thực sự mạnh và bạn khá quen thuộc với các đặc tính của cả hai jhāna này. Có một cách rất hữu ích là di chuyển qua lại vài lần giữa jhāna thứ năm và thứ sáu, ví dụ 1-2-3-4-5-6-5-6-5-6, ở mỗi tầng năm và sáu thì ở đó ít nhất năm phút mỗi lần để cho định lực sâu hơn. Bạn cũng cần phải đủ thuần thục thì mới có thể nhập vào trạng thái ý thức vô tận này và ở đó 10 đến 15 phút trước khi chuyển sang học/nhập vào jhāna tiếp theo.

Khi vượt lên hoàn toàn khỏi cõi của ý thức vô biên, thấy rằng không có gì cả, ta chứng và trú trong cõi của Không-có-gì.[6] (Kinh Trường Bộ 33.1.11.7)

[6] Kinh tiếng Việt gọi là “Vô sở hữu xứ”.

Khi Maurice Walshe dịch Kinh Trường Bộ, ông đã dùng chữ “no-thingness” (nghĩa là “sự không-có-gì” – ND), thay vì “nothingness” (hay được hiểu là hư vô, hư không – ND). Đây là một ý tưởng rất hay vì nó mô tả chính xác hơn về trải nghiệm jhāna. Khi chuyển từ jhāna thứ sáu sang jhāna thứ bảy, hãy gợi lên một cảm giác không-có-gì. Bí quyết ở đây là hãy nhận biết xem ý thức vô tận này chứa đựng cái gì. Cảm giác về không gian đã biến mất từ lâu, và bạn nhận ra rằng ý thức này đang không ý thức về bất kỳ cái gì cả. Nó đang ý thức về không-gì-cả. Hãy đặt sự chú tâm vào cảm giác không-có-gì đó. Cảm giác không-có-gì này ban đầu có thể chưa đáng kể, giống như một khoảng không-có-gì cỡ bằng quả bóng rổ ngay trước mặt bạn. Thế rồi khi tập trung vào nó, bạn nhận ra rằng ở đằng này không-có-gì, ở đằng kia không-có-gì, ở sau lưng và ở khắp nơi đều không-có-gì. Rồi cái khoảng không-có-gì đó dường như to dần, mặc dù nó không bao giờ thực sự lên đến được cảm giác vô tận trong jhāna thứ năm của cõi không gian vô biên hay jhāna thứ sáu của cõi ý thức vô biên. Nó chỉ kiểu như là đi từ một khoảng không-có-gì nho nhỏ đến một khoảng không-có-gì lớn hơn, và đến một khoảng không-có-gì lớn hơn nữa.

Cảm giác này giống như đi xuống tầng hầm, bật đèn lên mà đèn không sáng. Bạn nhìn chăm chú vào bóng tối để cố gắng xác định trong hầm có những gì. Bạn có thể thấy lờ mờ rằng không có gì ở trước mặt mình. Khi mắt quen dần, bạn thấy ở bên này không có gì và bên kia cũng không có gì. Ồ, chẳng có gì ở dưới hầm cả! Đó là kiểu không-có-gì như vậy.

Hãy nhìn quanh căn phòng chỗ bạn đang ở – rất có thể căn phòng có nhiều đồ đạc trong đó. Giả sử rằng lần sau bạn đi vắng và không ở trong phòng một thời gian dài, có người đi vào và lấy hết mọi thứ. Khi bạn quay trở lại, không có gì ở đó cả. Jhāna thứ bảy là kiểu không-có-gì như vậy.

Cái không-có-gì này không phải là cái rỗng-không hư vô thường được đề cập đến trong truyền thống Đại thừa. Cái rỗng-không này là một khái niệm rất khác: nó nói rằng vạn vật trống rỗng không có bất kỳ sự tồn tại cố hữu nào. Sự rỗng-không này thường có thể được nhận biết trong trạng thái minh sát tuệ hơn là trong định. Sự không-có-gì của jhāna thứ bảy giống như cảm giác mở nắp lọ bánh quy và thấy không-có-gì trong đó cả. Ở đây không đề cập đến sự rỗng-không, mà thực tế là không có gì để nhận biết cả. Hãy đặt sự chú ý vào cái không-có-gì đó. Kinh Poṭṭhapāda (Trường Bộ 9.16) nói rằng sau khi dịch chuyển từ cõi của ý thức vô biên sang cõi không-có-gì, “ta có được nhận thức tinh tế chân thật về cõi không-có-gì này”.

Cái không-có-gì có thể biểu hiện bằng hình ảnh theo hai cách khác nhau, mặc dù đương nhiên nó không nhất thiết phải biểu hiện ra bằng hình ảnh, đặc biệt nếu bạn không mạnh về trực quan. Nó biểu hiện ra phổ biến nhất dưới màu đen hoặc tím đậm hoặc xanh đậm – giống như thể bạn ghé mắt nhìn vào một căn phòng không có cửa sổ và không đèn. Bạn có cảm nhận về không gian ở đó, nhưng điều thực sự thu hút sự chú ý của bạn không phải là không gian mà là cảm giác choáng ngợp rằng hoàn toàn không có gì ở trong không gian đó cả. Trong jhāna thứ năm có một không gian rộng lớn không có gì trong đó; trong jhāna thứ bảy, hoàn toàn không có gì trong toàn bộ không gian mà bạn có thể cảm nhận được.

Cách tốt nhất để cảm nhận được về một biểu hiện trực quan khác của jhāna thứ bảy là hãy tưởng tượng một chiếc tivi kiểu cũ khi bạn mở một kênh không có sóng thì bạn sẽ thấy những vạch đen và trắng. Đây là trải nghiệm của một số người trong jhāna thứ bảy, chỉ khác là họ nhìn thấy các vạch đen và đen.

Có một chút cảm giác về một người quan sát lơ lửng trong khoảng không-có-gì. Ban đầu, có lẽ chỉ không-có-gì ở trước mặt bạn, nhưng khi jhāna trở nên thuần thục hơn và sâu hơn, ở bên cạnh, bên dưới, đằng sau hay bên trên cũng không-có-gì cả. Cảm giác về một người quan sát khi này là không đáng kể, ít hơn nhiều so với trong jhāna thứ năm, nhưng khi ngẫm lại sau buổi thiền thì bạn biết vẫn có một điểm quan sát nhỏ xíu lơ lửng trong khoảng không-có-gì.

Đôi khi có người rơi vào trạng thái này một cách tình cờ. Thường là khi tham gia một khóa thiền rất dài ngày và đang ngồi thiền, thực hành vipassanā chẳng hạn, và đột nhiên họ rơi vào khoảng không trống rỗng. Việc này khá đáng sợ, bởi vì để đi từ ý thức bình thường vào jhāna thứ bảy thì bạn phải cực kỳ định tâm. Với định lực cao như vậy, trải nghiệm sẽ vô cùng mãnh liệt. Tôi từng có thiền sinh đến trình pháp và hỏi, “Tôi có thể kể cho thầy nghe một việc đã xảy ra được không? Tôi đang ngồi trong một khóa thiền dài và chỉ đang thiền thôi, và tôi rơi vào khoảng không trống rỗng”. Tôi hỏi họ thế rồi sao nữa, và họ thường nói, “Tôi chạy đến gặp các thiền sư, và họ bảo tôi đi tắm, ăn cái gì đó, bình tĩnh lại, ổn định lại”. Tôi bảo họ miêu tả “khoảng không trống rỗng” đó, và sau khi họ tả xong, tôi nói, “Tôi thấy nó giống như jhāna thứ bảy. Tôi không chắc. Tôi đồ là chúng ta sẽ không thực sự biết được trừ khi bạn quay lại đó”. Họ thường đáp rằng, “Tôi không biết liệu tôi có muốn quay lại đó không. Nó thực sự đáng sợ!” Nhưng rồi rốt cuộc họ học sáu jhāna đầu tiên và đến trình pháp với tôi một lần nữa. Tôi đưa họ những lời chỉ dẫn về jhāna thứ bảy, và họ bảo, “Tôi không biết liệu tôi có muốn quay lại đó không”. Tôi đáp, “Sẽ ổn thôi; cứ đi thử đi”. Thế là họ làm theo chỉ dẫn, rồi quay lại và nói, “Đúng rồi, đúng rồi, chính xác là tôi đã từng đến đó! Chỉ là lần này thì không đáng sợ nữa”. Nỗi sợ ban đầu đó là nỗi sợ về điều không biết – lúc đó họ không biết chuyện gì đang xảy ra. Còn tự bản thân jhāna thứ bảy không có gì đáng sợ cả. Ở đó không có gì hết, nên không có gì để sợ. Thực ra đó là một nơi khá hay để lưu lại. Không có gì làm phiền bạn cả.

Ở đây bạn cũng cần phải đủ thuần thục để có thể tiến vào trạng thái này và duy trì trong đó từ 10 đến 15 phút trước khi chuyển tiếp.

Khi vượt lên hoàn toàn khỏi cõi của Không-có-gì, ta đạt đến và trú trong cõi của Không-nhận thức cũng Không-không-nhận thức. [7] (Kinh Trường Bộ 33.1.11.7)

[7] Dịch giả: Kinh tiếng Việt gọi đây là “Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Không có nhiều lời chỉ dẫn hay thậm chí mô tả về cõi của không-nhận-thức cũng không-không-nhận-thức. “Nhận thức” là dịch từ chữ Pali saññā [tưởng]. Saññā thường chỉ khả năng dán nhãn cho sự vật, nhận dạng chúng, tra cứu chúng trong cơ sở dữ liệu của bạn về sự vật và cho chúng một cái tên. Hãy nhìn ra xung quanh, bạn thấy gì? Nếu bắt đầu gọi tên những gì để ý được thì đó là saññā. Saññā là nhận thức, nhận dạng, gọi tên; thế nên jhāna thứ tám là trạng thái không nhận dạng cũng không không nhận dạng, không gọi tên cũng không không gọi tên.

Khó có thể mô tả trạng thái này, vì đó là một trạng thái không có đặc điểm nào có thể dùng để nhận dạng, ngoài thực tế rằng đó là một trạng thái không có đặc điểm nào để nhận dạng. Tuy nhiên, nếu trải nghiệm jhāna thứ bảy của bạn đủ sâu và vững chãi, hãy để nó sụp đổ và tiêu tán ngay trước mặt bạn. Rồi hãy xem liệu tâm trí có đi vào một trạng thái không có đặc điểm gì (nhưng bạn vẫn có thể ở trong đó). Rất khó để mô tả, nhưng lại khá dễ để nhận ra nếu đủ định lực.

Kinh Poṭṭhapāda (Trường Bộ 9) không nhắc đến cõi của không-nhận-thức cũng không-không-nhận-thức, thế nên không có lời nào mô tả về đối tượng [thiền] của jhāna thứ tám. Và thực ra rất khó để dùng từ ngữ diễn đạt chính xác đối tượng này – ngoài việc đây là một trải nghiệm không có đặc điểm nào để nhận dạng. Giống như jhāna thứ tư, đó là một trạng thái rất thư thái, đôi khi có cảm giác như gần có thể tựa đầu vào đó và nghỉ ngơi, mặc dù tất nhiên là chẳng có gì để tựa đầu vào cả.

Cõi của không-nhận-thức cũng không-không-nhận-thức này vi tế hơn nhiều so với các jhāna trước, và điều này khiến việc duy trì nó khó hơn nhiều so với các jhāna trước đó. Trong mỗi jhāna đều có một đối tượng thiền – chẳng hạn như sự mãn nguyện trong jhāna thứ ba – và đòi hỏi sự chú tâm nhất điểm vào đối tượng đó. Khả năng vào sâu trong một jhāna không phụ thuộc vào sức mạnh của đối tượng thiền, mà phụ thuộc vào khả năng không bị phân tâm của bạn. Trong bất kỳ jhāna nào, nếu định lực không đủ mạnh thì bạn đều có thể bị chao đảo – tức là tập trung được trọn vẹn với đối tượng một lúc rồi bắt đầu trượt vào trạng thái xao lãng, suy nghĩ. Nếu phát hiện kịp thời, bạn có thể nhanh chóng quay lại với đối tượng của jhāna đó và ổn định lại jhāna. Ví dụ, vào khoảnh khắc phân tâm thì cảm giác mãn nguyện không biến mất ngay lập tức; đúng hơn là nó sẽ mờ dần trong một khoảng thời gian từ vài giây đến vài phút. Bạn đang ở trong jhāna, mất trạng thái đó trong một lúc ngắn, rồi vào lại jhāna đó. Đương nhiên việc chao đảo như thế không có lợi. Tốt nhất là không bao giờ bị phân tâm khỏi đối tượng của jhāna. Tuy nhiên tùy vào độ sâu của định lực, sự chao đảo này có thể xảy ra. Sự chao đảo thậm chí có thể xuất hiện ở jhāna thứ bảy, dù rằng ở đó bạn có ít thời gian để “đi lạc” trước khi cảm giác không-có-gì biến mất hoàn toàn.

Tuy nhiên, với jhāna thứ tám, bạn có thể chỉ có thời gian đủ cho một câu ngắn gọn – không chứa những chữ như “tôi”, “mình”, hay “của tôi” – trước khi jhāna này biến mất hoàn toàn. Đó là một trạng thái vô cùng vi tế và biến mất khá nhanh một khi bị mất tập trung. Điều này khiến nó mong manh hơn nhiều so với bất kỳ jhāna nào trước đó. Nếu đã học được cách tiến vào cõi của không-nhận-thức cũng không-không-nhận-thức mà rồi bị phân tâm, thì rất khó để tìm thấy một dấu vết của jhāna này để quay lại. Khi ấy hãy quay lại jhāna thứ bảy hoặc thậm chí về jhāna thứ năm và tìm lại đường vào jhāna thứ tám.

Một khi đã học được tất cả tám jhāna, nên thực hành chuyển đổi 1-2-3-4-5-6-5-6-7-6-7-8-7-8-7-6-7-6-5, đi lui đi tới, đi lên và xuống giữa bốn jhāna vô sắc. Một cách hay nữa là di chuyển kiểu 1-2-3-4-5-6-7-8-7-6-5-4-3-2-1. Bốn jhāna vô sắc này sẽ giúp định lực sâu hơn, để tâm còn định tĩnh, thuần khiết, sáng rỡ, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững chắc, và bình tĩnh hơn nữa. Tâm này sẽ củng cố cho thực hành minh sát tuệ bằng cách cho bạn một góc nhìn ít tập trung vào bản thân hơn và duy trì góc nhìn đó trong một thời gian dài hơn nữa.

Một số vấn đề có thể gặp khi học các jhāna vô sắc

Vấn đề thường gặp nhất khi học jhāna thứ năm là không đủ định lực. Quá trình chuyển tiếp từ jhāna thứ tư lên thứ năm là bước khó nhất với hầu hết mọi người. Jhāna thứ tư là trạng thái còn có đủ cảm giác về thân thể vật chất để bạn có thể “thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng”. Nhưng để tiến vào cõi của không gian vô biên, bạn phải vượt qua khỏi mọi cảm giác về thân thể. Để thực hiện bước chuyển tiếp đó, trải nghiệm jhāna thứ tư phải đủ sâu và mạnh. Như đã nói lúc trước, nếu jhāna thứ tư không có cảm giác định mạnh mẽ, hãy quay lại jhāna thứ ba, vào sâu hơn trong vài phút rồi trở lại jhāna thứ tư. Và đương nhiên, cách khắc phục tốt nhất cho việc không đủ định lực trong mọi trường hợp là duy trì trạng thái cận định lâu hơn trước khi bắt đầu vào các jhāna.

Một vấn đề rất phổ biến khác là thiếu kiên nhẫn. Bạn có thể đã dành vài phút cố gắng tập trung vào cảm giác mở rộng ra ngoài, nhưng lại bị cám dỗ “đi tìm” không gian vô tận. Như thế không có tác dụng – làm vậy có nghĩa là bạn đang mất tập trung vào việc mở rộng ra ngoài. Quá trình này thực sự đòi hỏi bạn chỉ ngồi đó, thư giãn, và kiên trì với việc mở rộng. Đừng lo lắng; khi thực sự đến jhāna thứ năm thì bạn sẽ nhận ra nó, không thể nhầm lẫn.

Thỉnh thoảng có thiền sinh trình rằng họ cảm giác như có thứ gì đó ở trước mặt đang cản trở việc mở rộng. Nếu điều này xảy ra, hãy chuyển sang mở rộng thẳng vào bất cứ cái gì đang cản trở bạn, và đẩy nó càng lúc càng xa hơn. Đôi khi chỉ cần làm vậy để hoàn thành bước chuyển tiếp vào jhāna thứ năm. Trong trường hợp khác, khi vật cản đó đã bị đẩy ra xa đến mức không còn cảm thấy sự cản trở nữa, hãy tiếp tục mở rộng theo hướng cũ hoặc cứ tiếp tục mở rộng theo hướng mà bạn vừa đẩy vật cản đó ra xa.

Nếu sau khoảng năm phút mà việc mở rộng này không đưa bạn vào cõi của không gian vô tận, hãy từ bỏ việc mở rộng và quay “xuống” vào jhāna thứ tư. Nếu còn nhiều thời gian trong thời thiền, bạn có thể vào jhāna thứ tư sâu hơn rồi thử lại lần nữa.

Một vấn đề chung của tất cả các jhāna vô sắc là cả bốn đối tượng chú ý đều vô cùng vi tế. Nếu định lực không đủ mạnh, bạn có thể vẫn vào được một trong các jhāna này nhưng không có khả năng ở đó lâu. Nếu thấy tâm chao đảo, hãy quay về jhāna trước đó, xây lại nó cho vững, ở trong trạng thái đó lâu hơn lần trước, rồi thử vào lại jhāna vừa rồi.

Đôi khi việc chuyển từ không gian vô tận sang ý thức về không gian vô tận là rất khó, hoặc thậm chí bạn không rõ là phải làm gì. Nên làm quen với việc chuyển tiếp này với các đối tượng ít vi tế hơn: hãy nhìn chăm chú vào một vật nào đó trong phòng chừng mười giây, rồi xem liệu bạn có thể ý thức được về ý thức của mình về vật đó. Luyện tập như vậy cho đến khi bước chuyển trở nên rõ ràng, và nó có thể giúp chuyển từ jhāna thứ năm sang thứ sáu dễ dàng hơn nhiều.

Thỉnh thoảng, khi một thiền sinh đang tập chuyển từ jhāna thứ năm sang thứ sáu, thì họ lại bỏ qua jhāna thứ sáu và tiến vào jhāna thứ bảy của cõi không-có-gì. Điều này thường xảy ra khi thiền sinh chú ý nhiều hơn vào thực tế là không gian vô tận không có gì cả, thay vì tập trung vào ý thức về không gian. Nếu gặp tình huống này, nên ở trong jhāna thứ bảy vài phút rồi quay về jhāna thứ năm. Có thể bạn lại cần mở rộng cái gì đó để vào lại jhāna thứ năm, nhưng việc nhập lại thường khá dễ dàng. Sau đó hãy duy trì vài phút trong không gian vô tận, rồi lại thử chuyển sự chú tâm sang ý thức về không gian.

Bởi vì cõi của không-nhận-thức cũng không-không-nhận-thức vi tế hơn nhiều so với bất kỳ jhāna nào trước đó, bạn sẽ cần phải khá thuần thục ở cõi không-có-gì để có thể nhận diện được jhāna thứ tám. Quan trọng là hãy dành nhiều thời gian hơn bình thường trong jhāna thứ bảy trước khi chuyển sang jhāna thứ tám. Khi cảm thấy tầng thứ bảy đã được thiết lập khá vững và đủ lâu, hãy duy trì tiếp thêm một chút nữa trước khi để cho cõi không-có-gì sụp đổ.

Mặc dù trước đây tôi có nói rằng bạn nên “bắt đầu thực hành minh sát tuệ từ jhāna cao nhất mà bạn có thể vào được”, jhāna thứ tám không phải lúc nào cũng phù hợp để thực hành minh sát đòi hỏi suy ngẫm, ví dụ quán tưởng về các hạt giống sợ hãi hay quán tưởng về lý duyên khởi. Nếu bạn định thực hiện quán tưởng trong phần thiền minh sát tuệ và bạn đã đạt đến jhāna thứ tám, có lẽ bạn nên quay lại jhāna thứ bảy thì tốt hơn, ổn định jhāna thứ bảy rồi bắt đầu phép quán tưởng của mình. Nhưng nếu bạn định thực hiện một phép minh sát thiên về quán niệm hơn, chẳng hạn như thiền quét cơ thể hay quán niệm cảm thọ (vedanā), jhāna thứ tám là một điểm xuất phát thích hợp.


Gửi phản hồi