✏ Tác giả: Stephen Laberge, 📖 Yoga giấc mơ
Yoga giấc mơ và giấc mơ sáng suốt được chỉ dạy và thực hành ở tất cả các nền văn hóa, tín ngưỡng trên thế giới từ thời xa xưa. Tuy nhiên, khi khoa học hiện đại bắt đầu quan tâm đến tâm lý học, nhiều người trong giới khoa học cho rằng con người không thể duy trì ý thức tỉnh táo trong khi cơ thể vật lý đang ngủ.
Năm 1978, Giáo sư Stephen LaBerge cùng nhóm nghiên cứu giấc ngủ tại Đại học Stanford đã đưa ra bằng chứng thuyết phục, cuối cùng chứng minh với cộng đồng nghiên cứu tâm lý học quốc tế rằng giấc mơ sáng suốt thực sự tồn tại. Dưới đây là một trích đoạn từ cuốn sách “Lucid Dreaming” của Giáo sư Stephen LaBerge, trong đó ông kể về cách nhóm nghiên cứu của mình phát hiện ra phương pháp để những người đang mơ sử dụng sự chuyển động của mắt nhằm báo hiệu với các nhà quan sát rằng họ đang tỉnh táo và hoàn toàn có ý thức trong mơ, trong khi cơ thể họ vẫn đang ngủ trên giường.
– Nhóm dịch GnosisVN

Ngay từ đầu, tôi đã hứng thú với vấn đề vốn được Charles Tart đề xuất, rằng có khả năng liên lạc từ giấc mơ sáng suốt tới thế giới bên ngoài, trong khi giấc mơ đang diễn ra.
Vấn đề đặt ra là, trong khi hầu hết cơ thể của người đang mơ bị tê liệt trong chu kỳ ngủ REM[1], thì làm sao để người đang mơ có thể gửi đi một thông điệp? Một người đang mơ sáng suốt có thể làm gì trong giấc mơ để tạo ra một tín hiệu có thể quan sát và đo lường được? Tôi đã nảy ra một kế hoạch. Có một ngoại lệ đối với sự tê liệt cơ bắp này: đó là đôi mắt. Chuyển động của mắt không hề bị hạn chế trong chu kỳ ngủ REM. Trên thực tế, sự chuyển động nhanh của mắt chính là nguồn gốc của tên gọi cho chu kỳ này.
[1] REM là từ viết tắt của Rapid Eye Movement (sự chuyển động nhanh của con mắt).
Tâm lý học phân loại giấc ngủ thành bốn giai đoạn khác nhau, trong đó giấc mơ chủ yếu diễn ra trong giai đoạn REM. Trong lúc ngủ, tâm trí thường bị ngắt kết nối với cơ bắp, đó là lý do tại sao cơ thể vật lý không di chuyển ngay cả khi chúng ta hoạt động trong giấc mơ. Tuy nhiên, mắt là một ngoại lệ: khi chúng ta chuyển động mắt trong giấc mơ, mắt của cơ thể vật lý cũng di chuyển theo hướng mà chúng ta đang nhìn. Vì thế, nếu quan sát một người đang ngủ và thấy mắt họ chuyển động dưới mí mắt, đó là dấu hiệu cho thấy họ đang mơ.

Những nghiên cứu trước đây về giấc mơ cho thấy rằng đôi khi có sự tương ứng chính xác giữa hướng chuyển động mắt có thể quan sát được của người đang mơ và hướng nhìn trong giấc mơ của họ. Trong một ví dụ điển hình, một người tham gia thí nghiệm được đánh thức từ giấc ngủ REM sau khi thực hiện khoảng hai mươi lần chuyển động mắt theo chiều ngang. Khi tỉnh dậy, anh ta cho biết trong giấc mơ, anh ta đang theo dõi một trận đấu bóng bàn, và ngay trước khi bị đánh thức, anh ta đã nhìn theo một cú đánh dài bằng tầm nhìn trong mơ của mình.
Tôi đã biết rằng khi mơ sáng suốt, một người có thể tự do nhìn theo bất kỳ hướng nào họ muốn, vì chính tôi đã làm được điều đó. Tôi chợt nhận ra rằng, bằng cách chuyển động mắt trong mơ theo một mô hình có thể nhận diện, có lẽ tôi có thể phát đi một tín hiệu nào đó ra thế giới bên ngoài khi đang mơ sáng suốt. Tôi đã thử làm việc này trong giấc mơ: tôi chuyển động hướng nhìn lên, xuống, lên, xuống, lên, với nhịp từ một đến năm. Theo tôi biết, đó là lần đầu tiên một tín hiệu có chủ đích được phát ra từ thế giới giấc mơ. Tuy nhiên, vấn đề duy nhất là không có ai ở thế giới bên ngoài để ghi lại quá trình đó!

Thứ tôi cần là một phòng thí nghiệm giấc ngủ. Tôi biết Đại học Stanford có một phòng thí nghiệm tuyệt vời, do Giáo sư William C. Dement, một nhà tiên phong trong nghiên cứu giấc ngủ và giấc mơ, trực tiếp chỉ đạo. Vào mùa hè năm 1977, tôi đã tìm hiểu và liên hệ với Giáo sư Lynn Nagel tại Trung tâm Nghiên cứu Giấc ngủ của Đại học Stanford, một người đặc biệt hứng thú với tiềm năng nghiên cứu giấc mơ sáng suốt trong phòng thí nghiệm.
Đến tháng 9 năm đó, tôi đã nộp hồ sơ nhập học tại Đại học Stanford với đề xuất nghiên cứu về giấc mơ sáng suốt như một phần trong chương trình tiến sĩ ngành tâm thần sinh lý học. Đề xuất này đã được phê duyệt, và vào mùa thu năm 1978, tôi chính thức bắt đầu nghiên cứu giấc mơ sáng suốt. Hội đồng khoa của tôi gồm các giáo sư Karl Pribram và Roger Shepard của khoa tâm lý học, cùng với Vincent Zarcone Jr. và William Dement của khoa tâm thần học. Do Lynn Nagel không phải là giảng viên chính thức tại Đại học Stanford, mối quan hệ của chúng tôi mang tính không chính thức. Tuy nhiên, trên thực tế, Lynn đã đóng vai trò cố vấn và là đối tác chính của tôi trong nghiên cứu luận văn.
Tôi và Lynn đã nhanh chóng tìm cách đưa tôi đến phòng thí nghiệm giấc ngủ. Đáng tiếc là, vào đêm đầu tiên, chúng tôi đã quyết định thử xem có nên đánh thức tôi vào khởi điểm của mỗi chu kỳ REM để nhắc tôi mơ sáng suốt khi quay lại giấc ngủ hay không. Khi nhìn lại, có thể thấy đây rõ ràng không phải là ý tưởng tốt, bởi kết quả là tôi có được rất ít giấc ngủ REM. Bị nhắc nhở phải mơ sáng suốt cũng không có ích cho lắm, bởi nó càng khiến tôi không thể mơ nổi! Điều xảy ra trong giấc mơ đầu tiên của tôi còn tồi tệ hơn nữa. Phòng thí nghiệm giấc ngủ của Stanford bịt kín cửa sổ để cho phép thực hành nghiên cứu một cách biệt lập về thời gian. Vì thế tôi có đôi chút cảm giác bị giam giữ, và hiển nhiên, để bù đắp lại, tôi đã có giấc mơ như sau. Dường như tôi đã thức giấc vào lúc bình minh và ngắm cảnh mặt trời mọc tuyệt đẹp qua tranh cửa sổ cạnh giường của tôi. Nhưng khi mới chỉ kịp giật mình vì cảnh tượng khác thường này thì tôi đã bị đánh thức bởi giọng nói của Lynn nhắc nhở tôi phải mơ sáng suốt.[2]
[2] Khi ông nhìn qua khung cửa sổ và thấy bình minh, ông lập tức nhận ra mình đang mơ, vì cửa sổ đã bị bịt kín. Chính khoảnh khắc đó, giấc mơ sáng suốt bắt đầu. Nhưng không may, giáo sư Lynn đã đánh thức Stephen, khiến ông đánh mất cơ hội nghiên cứu giấc mơ sáng suốt này.
Chúng tôi đã quyết định rằng, lần sau sẽ để cho tôi có nhiều cơ hội hơn – vừa để ngủ, vừa để mơ sáng suốt. Chúng tôi lên lịch cho buổi theo dõi tiếp theo vào một tháng sau đó, là lần tiếp theo phòng thí nghiệm có thể được sử dụng – tình cờ lại rơi vào thứ sáu ngày 13 tháng 1 năm 1978. Mỗi khi tôi mơ sáng suốt ở nhà trong khi chờ đợi ngày định mệnh ấy, tôi thường nhắc nhở bản thân rằng mình sẽ thực hiện lại điều này ở phòng thí nghiệm. Cuối cùng, đêm ấy cũng đến, và Lynn đã kết nối tôi với thiết bị để theo dõi điện tim đồ trong lúc tôi ngủ. Trước đó, tôi hy vọng thứ sáu ngày 13 sẽ là ngày may mắn của mình, và thực tế đúng là như vậy.
Tôi thực sự đã ngủ rất ngon, và sau sáu tiếng rưỡi nằm trên giường, tôi đã có giấc mơ sáng suốt đầu tiên trong phòng thí nghiệm. Một phút trước đó, tôi đã mơ – nhưng rồi tôi bỗng nhận ra rằng mình đang ngủ, bởi tôi không thể nhìn, cảm nhận hay nghe thấy gì. Tôi vui mừng tự nhủ rằng mình đang ngủ trong phòng thí nghiệm. Hình ảnh của một vật trông giống như sách hướng dẫn sử dụng máy hút bụi lướt qua. Ban đầu, cuốn sách đó chỉ là một hình ảnh trôi nổi trên dòng chảy tâm thức, nhưng khi tôi tập trung và cố gắng đọc chữ viết trên đó, hình ảnh dần trở nên ổn định, và tôi cảm nhận được mình đang mở mắt (trong mơ). Và rồi đôi bàn tay tôi xuất hiện, cùng với phần còn lại của cơ thể trong mơ, và tôi đang nhìn cuốn sách hướng dẫn trên giường. Căn phòng trong mơ là một bản sao khá chính xác của căn phòng tôi đang ngủ trong thực tế. Giờ đây, vì đã có một cơ thể trong mơ, tôi quyết định thực hiện chuyển động mắt như chúng tôi đã thỏa thuận để gửi tín hiệu. Tôi di chuyển ngón tay theo chiều dọc trước mặt và theo dõi nó bằng mắt. Nhưng vì quá phấn khích khi cuối cùng cũng làm được điều này, ý nghĩ đó đã làm gián đoạn giấc mơ, khiến nó phai mờ chỉ sau vài giây.
Tiếp theo, chúng tôi quan sát hai lần chuyển động lớn của mắt trong bảng tâm đồ ngay trước khi tôi tỉnh giấc từ chu kỳ ngủ REM kéo dài mười ba phút. Cuối cùng, ở đây là bằng chứng khách quan cho thấy đã có một giấc mơ sáng suốt xảy ra trong giấc ngủ REM!
Tôi đã gửi ghi chú tới hội nghị APSS[3] năm 1979 ở Tokyo để đề cập đến việc này và các bằng chứng khác chứng minh rằng giấc mơ sáng suốt gắn liền với giấc ngủ REM. Tất nhiên, tôi không mong chờ rằng bất kỳ ai có thể được thuyết phục về thực tế của giấc mơ sáng suốt chỉ qua bản tóm tắt ngắn gọn này. Nhưng khi ấy, tôi vẫn muốn chia sẻ kết quả với các nhà nghiên cứu giấc mơ khác càng sớm càng tốt.
[3] APSS (Tiếng Anh: Association for the Psychophysiological Study of Sleep): Hiệp hội Nghiên cứu Tâm sinh lý Giấc ngủ
Không dễ gì để lặp lại thành công ban đầu của chúng tôi. Sáu đêm tiếp theo tại phòng thí nghiệm, tôi không có một giấc mơ sáng suốt nào. Lúc đó, tôi vẫn chưa hình thành MILD (Mnemonic Induction of Lucid Dreams – Kích hoạt giấc mơ sáng suốt bằng trí nhớ), phương pháp giúp tôi chủ động kích hoạt giấc mơ sáng suốt, như tôi đã mô tả ở Chương 6. Sau khi tôi thành thạo phương pháp MILD, chúng tôi thử lại, và vào tháng 9 năm 1979, tôi đã có thêm hai giấc mơ sáng suốt tại phòng thí nghiệm giấc ngủ Stanford. Khi ấy, tôi vẫn có nhiều giấc mơ sáng suốt ở nhà hơn so với trong phòng thí nghiệm, nhiều khả năng là do môi trường ở nhà khiến tôi thư giãn hơn. Vì vậy, chúng tôi đã thu xếp để lắp đặt thiết bị điện tâm đồ tại nhà tôi trong sáu tuần. Trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh ấy, tôi đã thành công trong việc ghi nhận thêm khoảng một tá giấc mơ sáng suốt nữa, và một lần nữa, các tín hiệu chuyển động mắt cho thấy tất cả chúng đều diễn ra trong chu kỳ ngủ REM.
Đến năm 1980, những tin đồn bắt đầu xuất hiện về sự quan tâm của chúng tôi với giấc mơ sáng suốt, và một vài người mơ sáng suốt khác đã tình nguyện tham gia thử phát tín hiệu giấc mơ sáng suốt trong phòng thí nghiệm. Roy Smith, một nhà nghiên cứu nội trú khoa tâm thần học, là người đầu tiên thành công. Các giấc mơ sáng suốt của ông cũng diễn ra trong chu kỳ REM. Hai người phụ nữ, Beverly Kedzierski, một nhà khoa học máy tính, và Laurie Cook, một vũ công, đã hoàn thiện nhóm người tham gia thí nghiệm giấc mơ sáng suốt đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi tự gọi mình là nhóm oneironaut, một từ tôi sáng tạo dựa trên tiếng Hy Lạp, có nghĩa là những nhà thám hiểm thế giới giấc mơ. Kết quả của những thí nghiệm đầu tiên này đã tạo thành phần lớn luận án tiến sĩ của tôi, với tựa đề “Giấc mơ sáng suốt: Cuộc nghiên cứu mang tính khai phá về tiềm thức trong giấc ngủ”.
Giờ đây, chúng ta hãy cùng quay trở lại với APSS và câu chuyện về những nỗ lực của tôi trong việc công bố phương pháp mới về cách liên lạc từ trạng thái mơ, cũng như bằng chứng cho thấy giấc mơ sáng suốt có thể xảy ra khi ta thực sự đang ngủ.
Đã quá muộn để tôi và Lynn Nagel trình bày kết quả nghiên cứu tại hội nghị APSS năm 1980. Thay vào đó, chúng tôi đã gửi một báo cáo ngắn về những kết luận ban đầu đến tạp chí Science vào tháng 3 năm 1980, với tựa đề “Giấc mơ sáng suốt được xác nhận bởi sự liên lạc chủ động trong chu kỳ ngủ REM“. Chúng tôi vô cùng hào hứng với phát hiện của mình và mong chờ phản hồi với lòng háo hức.
Hai tháng sau, chúng tôi nhận được phúc đáp từ Science. Biên tập viên của các tạp chí khoa học chủ yếu đưa ra quyết định dựa trên ý kiến của các chuyên gia phê duyệt khuyết danh trong lĩnh vực liên quan. Một trong hai chuyên gia phê duyệt của chúng tôi đã viết rằng: “Đây là một báo cáo tuyệt vời, đã đưa ra phương pháp xác nhận giấc mơ sáng suốt trong phòng thí nghiệm. Những ý nghĩa của giấc mơ sáng suốt rất thú vị và quan trọng, và có thể dẫn đến sự hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mới. Báo cáo này được viết rõ ràng, súc tích, và tôi khuyến nghị ở mức cao nhất việc xuất bản nó.”
Tuy nhiên, phản hồi của người phê duyệt thứ hai lại hoàn toàn trái ngược. Người này nhìn nhận bài viết của chúng tôi dưới góc nhìn của công trình của Rechtschaffen và cho rằng quá “…khó để hình dung việc các chủ thể cùng lúc vừa mơ giấc mơ của mình và vừa phát tín hiệu cho người khác,” tương tự như nhận xét về một nghiên cứu khác. Dường như ông không thể chấp nhận, trên cơ sở triết lý, rằng kết quả của chúng tôi có tính khả thi. Hệ quả là ông đã nêu ra một số “vấn đề về cách phân tích kết quả” – tất cả đều nhằm lý giải vì sao chúng tôi có thể đi đến những kết luận sai lầm. Hiển nhiên, ông không khuyến nghị xuất bản, và ban biên tập đã dựa vào đánh giá của ông.
Vào tháng 9, chúng tôi đệ trình bản sửa đổi bài viết tới Science sau khi đã mở rộng nghiên cứu ban đầu với số lượng người mơ sáng suốt và quan sát tăng gấp đôi, nhằm làm rõ những điểm mà người phê bình thứ hai thấy có vấn đề. Nhưng bài viết vẫn bị từ chối, một lần nữa vì lý do mang tính triết lý. Vấn đề dường như nằm ở chỗ các nhà phê bình của chúng tôi – nhiều khả năng là các thành viên của APSS – đơn giản là họ không tin rằng giấc mơ sáng suốt có thể xảy ra. Với hy vọng được xem xét từ một góc nhìn hoàn toàn mới, chúng tôi đã gửi bài tới Nature, tạp chí tương đương với Science của Anh. Tuy nhiên, bài viết bị trả lại mà không kèm theo bất kỳ phản hồi nào. Theo ban biên tập của Nature, chủ đề giấc mơ sáng suốt “không thu hút đủ sự quan tâm” để được cân nhắc! Nói tóm lại, sau sáu tháng chờ đợi, cuối cùng chúng tôi cũng đã có thể xuất bản bài viết của mình trên một tạp chí tâm lý học có tên Perceptual and Motor Skills.1
[4]Science và Nature là hai tạp chí khoa học hàng đầu thế giới. Stephen LaBerge muốn xuất bản ở đó để nâng cao danh tiếng của mình. Việc xuất bản trên tạp chí Perceptual and Motor Skills hàm ý rằng ông đã phải hạ thấp tiêu chuẩn.
Tôi đã nhấn mạnh một cách khá chi tiết những thách thức ban đầu mà chúng tôi gặp phải để làm rõ một thực tế: mãi đến năm 1980, các nhà nghiên cứu giấc ngủ nói chung và các thành viên của APSS nói riêng gần như đồng thuận trong việc phủ nhận giấc mơ sáng suốt, không coi đây là một hiện tượng thực sự của giấc ngủ, dù ở chu kỳ REM hay bất kỳ giai đoạn nào khác. Ở góc độ bằng chứng, giấc mơ sáng suốt vẫn bị xem là một hiện tượng bất thường, giống như mơ giữa ban ngày tác động đến giấc ngủ; nhưng dù thế nào đi nữa, nó vẫn không phải là điều mà các nhà nghiên cứu giấc ngủ quan tâm.
Vào tháng 6 năm 1981, cùng thời điểm bài viết của chúng tôi được xuất bản, tôi đã trình bày bốn báo cáo về giấc mơ sáng suốt tại hội nghị APSS lần thứ hai mươi mốt ở Hyannis Port, Massachusetts. Thật may là, đến thời điểm này, dữ liệu của chúng tôi đã đủ mạnh để thuyết phục ngay cả những người hoài nghi nhất rằng giấc mơ sáng suốt thực sự là một hiện tượng của giấc ngủ REM. Với giấc mơ sáng suốt, sức nặng của bằng chứng cuối cùng đã xứng tầm với sự lạ thường của thực tế.
Sau tất cả sự kháng cự ban đầu mà chúng tôi gặp phải, lúc đầu tôi khá ngạc nhiên, rồi sau đó cảm thấy vui mừng khi nhận thấy những phản hồi tích cực đối với bài thuyết trình của mình. Một số nhà khoa học đã trao đổi riêng với tôi, nói rằng trước khi thấy được dữ liệu của chúng tôi, họ tin rằng giấc mơ sáng suốt là không thể xảy ra, nhưng giờ đây họ buộc phải thay đổi suy nghĩ. Trong số đó, có một vài người từng bày tỏ sự hoài nghi của mình qua một số bài viết. Tôi cảm thấy vô cùng khích lệ khi thấy dấu hiệu của sự chân thành và cởi mở trước những ý tưởng mới, và từ đó dành sự tôn trọng lâu dài cho những nhà khoa học này. Đáng tiếc, sự cởi mở đó không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn trong khoa học – cũng như trong bất kỳ lĩnh vực khai phá nào của nhân loại.
Nhưng điều này thực tế đã minh họa rõ ràng cách khoa học vận hành (khi nó được thực hành đúng cách). “Khoa học” thực ra là một cộng đồng các nhà khoa học tuân theo một bộ tiêu chuẩn chung về sự xác nhận. Như vậy, khoa học có xu hướng bảo thủ – kháng cự mạnh mẽ với những ý tưởng mới và bám quá chặt vào các tư tưởng đã được chấp nhận trong quá khứ. Triết gia Thomas Kuhn từng cho rằng các học thuyết mới trong khoa học không thể thay thế học thuyết cũ cho đến khi những người ủng hộ học thuyết cũ qua đời! Tôi từng lo sợ điều này sẽ đúng với APSS và giấc mơ sáng suốt, và đã ngạc nhiên, vui mừng khi nhận ra mình đã sai.
Trong quan điểm của cộng đồng khoa học, giấc mơ sáng suốt từng bị gắn liền với huyền học và parapsychology[6], nhưng giờ đây đã được công nhận như một ngành khoa học chính thống và trở thành một chủ đề nghiên cứu hợp lệ. Đây là một bước tiến quan trọng hướng tới sự khai phá sâu rộng hơn và sự phát triển của ngành khoa học về giấc mơ sáng suốt.
[6] Parapsychology là một chuyên ngành nghiên cứu về các hiện tượng siêu nhiên. Nó không được giới khoa học chính thống công nhận như một ngành khoa học đích thực.
