✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Ngày 4 tháng 6 năm 1988: Tôi đã ngồi được bốn mươi phút trong thời tọa thiền bốn lăm phút trước bữa trưa, và cái lưng của tôi đau muốn chết. Tôi trượt về phía trước trên chiếc đệm nhỏ dùng làm bồ đoàn, và xương ngồi của tôi trượt xuống tấm thảm nhưng xương cụt vẫn ở trên đệm. Tác dụng đến ngay lập tức. Hông tôi được đẩy về trước, chỉnh cho các đốt sống thẳng lại và nhờ vậy thả lỏng mọi sự căng cơ ở lưng, và một luồng năng lượng phúc lạc tràn ngập trong tôi. Ngay lập tức hai ý nghĩ khởi lên: “Mình sẽ luôn ngồi như thế này!” và “đây hẳn là điều mà người phụ nữ Hà Lan đó muốn nói đến khi đặt câu hỏi ‘chúng ta làm gì với niềm phúc lạc đang tràn ngập này?'”
Khi ấy tôi đang ở tu viện Wat Suan Mokkh1 của Ajahn Buddhadasa, ở miền nam Thái Lan, và người ở đó nói rằng trải nghiệm tôi vừa có được gọi là pīti. Tôi không thực sự hiểu chuyện gì đang xảy ra – chỉ biết rằng mình thích nó, và rằng động lực ngồi thiền của tôi đã chuyển từ việc ngồi thiền vì biết rằng nó tốt cho bản thân, sang ngồi thiền vì muốn làm thế. Tôi tiếp tục đạt được pīti một đến hai lần mỗi ngày trong thời gian còn lại ở Suan Mokkh, nhưng trạng thái đó giảm đi khi việc thực hành thiền bị gián đoạn bởi các chuyến du hành châu Á năm đó.
Trong suốt hai năm tiếp theo, tôi thấy rằng mình đã có thể tiếp cận pīti khá thường xuyên, tùy vào mức độ ngồi thiền đều đặn của mình. Tôi có đề cập đến việc này với các thiền sư trong lúc trình pháp ở các khóa thiền tiếp theo, nhưng không ai thực sự có thể cho tôi một lời khuyên về việc phải làm gì tiếp theo. Tôi nhớ mình đã nói: “Như thể tôi đã tìm thấy cánh cửa dẫn vào lâu đài kỳ diệu. Tôi đi vào căn phòng đầu tiên, loanh quanh khoảng mười phút và rồi lại bị rơi ra bên ngoài. Tôi biết rằng trong đó phải có nhiều phòng hơn kia.”
Tháng 5 năm 1990, tôi tham dự một khóa thiền mười ngày với ni sư Ayya Khema, người đã dẫn khóa thiền đầu tiên mà tôi tham dự vào năm 1985. Tôi nhớ rằng ni sư là một người thầy rất xuất sắc trong khóa thiền đó. Vì vậy, khi một người bạn nhét vào tay tôi tờ rơi về khóa thiền năm 1990 với ni sư, tôi đã đăng kí. Tôi đến buổi trình pháp đầu tiên với ni sư, và sau những lời hỏi thăm xã giao, sư nói:
“Nào, giờ hãy kể cho tôi nghe về thực hành thiền của anh.”
“Tôi có thể đạt được trạng thái pīti,” tôi trả lời.
“Tốt. Đó là jhāna đầu tiên [sơ thiền]. Còn đây là cách anh vào jhāna thứ hai [nhị thiền].”
Có người biết chuyện gì đang xảy ra và hơn nữa còn biết điều gì sẽ đến tiếp theo! Vào cuối khóa thiền đó, tôi đã tiếp cận được không chỉ tầng jhāna đầu tiên và thứ hai, mà cả tầng thứ ba, bốn, và năm. Và tôi biết tôi đã tìm được người thầy của mình. Một năm sau đó tôi ngồi thiền với ni sư Ayya trong năm tuần. Tôi đã học được jhāna thứ sáu, bảy và tám, và hoàn toàn thích thú với việc chạy lên (từ một đến tám) và chạy trở xuống (từ tám xuống một).
Không lâu sau khi tôi đã tương đối thuần thục trong việc này. Một lần nữa tôi lại đến trình pháp với ni sư Ayya, và sư nói:
“Bây giờ sau khi anh đi qua hết các jhāna thì anh phải thực hành minh sát trong cùng thời tọa thiền đó.”
“Nhưng tôi phải ngồi hết cả buổi mới đi lên [hết tám tầng jhāna] và đi xuống được”, tôi phản đối.
“Thế thì làm nhanh hơn.”
Bạn phải biết rằng, ni sư Ayya Khema không phải một người mà bạn muốn tranh luận, thế nên tôi gật đầu nói, “Vâng, thưa sư”, rồi quay lại thiền và “làm nhanh hơn”. Việc đó thực sự đã cho tôi thời gian để thực hành minh sát. Và chao ôi! Cơn lũ của hiểu biết nội tại2 thật đáng kinh ngạc. Số lượng và chất lượng không giống như bất cứ thứ gì tôi từng trải nghiệm. Niềm đam mê của tôi đối với các trạng thái ý thức biến đổi đã không còn nữa, nó được thay thế bằng động lực muốn xem xem tiếp theo tôi có thể học được gì. Vào cuối khóa thiền đó, lần đầu tiên tôi cảm thấy mình đã bắt đầu hiểu cơ bản về những điều Đức Phật dạy. Tôi có thể đem tất cả danh sách những điều trước đó, vốn bay bổng một cách trừu tượng, mà treo trên ba chốt của sīla (giới), samādhi (định), và pañña (tuệ): đạo đức hành xử, sự tập trung, và trí tuệ. Nhưng quan trọng hơn nữa là: hiểu biết nội tại đã thay đổi cuộc sống. Khi về đến nhà, các bạn tôi có thể thấy được sự khác biệt. Giờ đây không gì có thể lay chuyển được sự chuyên tâm của tôi đi theo con đường mà Đức Phật đã vạch ra – và tôi biết cách đi tiếp như thế nào.
Jhāna
Có lẽ không có khía cạnh nào trong giáo lý của Đức Phật lại bị hiểu lầm và bỏ qua nhiều hơn chánh định. Thế nhưng chánh định rõ ràng là một phần không thể thiếu trong con đường thức tỉnh của Đức Phật3: chánh định là đạo thứ tám trong Bát chánh đạo, và thường được minh họa – thậm chí được định nghĩa – là bốn jhāna4. Trước khi thức tỉnh và sau khi đã từ bỏ cả con đường dục lạc lẫn con đường khổ hạnh, Đức Phật đã nhớ lại một sự việc thời thơ ấu khi Ngài trải nghiệm jhāna đầu tiên; và sau khi suy ngẫm sâu hơn, Ngài đã kết luận “Ðây là đạo lộ đưa đến thức tỉnh”.5
Sách này là một nỗ lực nhằm khắc phục sự nhầm lẫn và việc coi thường vai trò của định trong giáo lý của Đức Phật. Phần một sẽ cung cấp hướng dẫn thực hành jhāna bằng cách sử dụng nội dung trong các bài trong kinh điển Pali, bổ sung thêm thực hành của tôi về các trạng thái này và những gì tôi đã dạy cho hàng ngàn thiền sinh trong hơn một trăm khóa thiền. Vì nội dung trình bày trong phần một sẽ có chỗ khác với những gì (đôi lúc) được giảng dạy về jhāna một cách truyền thống, nên phần hai sẽ tiếp cận sâu hơn vào các jhāna theo như đã được đề cập đến trong kinh, để tìm hiểu nội dung này trong kinh một cách chính xác hơn.
Jhāna theo nghĩa đen là “thiền”.6 Jhāna xuất phát từ động từ jhāyati, có nghĩa là “thực hành thiền”. Nhiều lần Đức Phật thuyết pháp và kết thúc bằng câu nói: “Có các rễ cây này, những túp lều trống này, hãy thiền đi (Jhāyati)”7. Từ cách sử dụng chữ jhāyati này, có vẻ chắc chắn rằng khi Đức Phật nói “thiền” có nghĩa là thực hành jhāna.
Trong kinh có bốn jhāna và bốn trạng thái vô sắc [phi vật chất]. Tám trạng thái này đôi khi được trình bày như một chuỗi tám trải nghiệm định lần lượt sâu dần, mỗi trạng thái được xây dựng trên mức độ định tâm sinh ra từ trạng thái trước đó. Thông thường các trạng thái này được trình bày dưới dạng bốn jhāna mà không nhắc gì đến bốn trạng thái vô sắc, và có những lúc khác người ta lại trình bày bốn trạng thái vô sắc mà không nhắc đến bốn jhāna. Hiện nay (và thậm chí ngay từ thời kỳ sáng tác Vi Diệu Pháp – Abhidhamma), tám trạng thái này được gọi đơn giản là tám jhāna.
Như tôi đã khám phá vào năm 1991, giáo lý của Đức Phật có thể được chia thành ba phần: sīla, samādhi, và pañña: giới (đạo đức ứng xử), định (tập trung), và tuệ (trí tuệ). Hay nói theo ngôn ngữ thông thường là: hành xử theo đạo đức, tập trung tâm trí, và sử dụng tâm trí tập trung của bạn để tìm hiểu thực tại. Những thực hành mà Đức Phật đã dạy đều nằm gọn trong ba nhóm này. Các giới luật8 cùng thực hành Tứ vô lượng tâm (brahma-vihāra) về lòng nhân từ (từ), thương cảm (bi), thưởng thức niềm vui (hỷ), và tâm bình thản (xả) đều là các thực hành đạo đức. Các thực hành Tứ vô lượng tâm, đặc biệt thực hành về lòng nhân từ (metta), cũng có thể tạo ra sự tập trung giống như các thực hành niệm chú mantra và quán tưởng. Hầu hết, khi nói về thiền, chúng ta hay nghĩ đến những thực hành trí tuệ – những thực hành có mục đích giúp “nhìn thấy bản chất của mọi sự” (hay có lẽ chính xác hơn là “điều gì đang thực sự diễn ra”). Nhưng Đức Phật đã dạy rất rõ ràng9 rằng việc xem xét thực tại của bạn phải được thực hiện với một tâm định và tĩnh. Và jhāna là các phương pháp mà Ngài dạy đi dạy lại nhiều lần để tập trung tâm trí.
Từ samādhi trong tiếng Pali thường được dịch là “tập trung”10, và dịch như vậy không phải là sai. Tuy nhiên “tập trung” khiến ta liên tưởng đến việc nhíu mày. Có lẽ một cách dịch tốt hơn sẽ là “trạng thái không bị phân tâm”, nhưng không may đây không thực sự là một từ. Đức Phật dùng từ samādhi để chỉ là khả năng không xao lãng của tâm trí – khả năng có thể duy trì nhận thức về một chủ đề cụ thể đã chọn mà không vô ý bị chuyển sang một chủ đề khác. Mặc dù tôi sẽ sử dụng từ “tập trung” như một bản dịch của samādhi trong quyển sách này, các bạn nên nhớ rằng từ này thực sự chỉ một trạng thái không thể phân tâm.
Sự tập trung, hay định, vừa là sức mạnh vừa là khả năng. Trong cả hai trường hợp từ định đều được định nghĩa là bốn jhāna11, giống như chánh định cũng được định nghĩa là bốn jhāna12. Các jhāna là tám trạng thái biến đổi của tâm thức sinh ra từ sự định tâm và mỗi trạng thái đem lại định lực cao hơn trạng thái trước đó. Bằng cách này, khi đi qua các tầng jhāna, bạn sẽ đi vào các tầng định ngày càng sâu hơn – có nghĩa là khả năng bị phân tâm ngày càng thấp. Khi thoát ra khỏi jhāna – tốt nhất là từ tầng thứ tư hoặc cao hơn13 – hãy bắt đầu thực hành minh sát với tâm an định không bị xao lãng. Đây là cốt lõi của phương pháp mà Đức Phật đã khám phá – các trạng thái này tự thân chúng không phải đích đến, không giống như những gì hai người thầy của Đức Phật đã dạy cho Ngài ngay sau khi Ngài rời nhà để bắt đầu hành trình tìm kiếm tâm linh của mình.14 Chúng chỉ đơn thuần là một cách rất có ích để chuẩn bị tâm trí, để bạn có thể xem xét thực tại hiệu quả hơn và khám phá những sự thật thâm sâu hơn giúp dẫn đến giải thoát.
Chú thích
- Suan Mokkhabalarama (Khu rừng của sức mạnh giải phóng), nằm cách làng Chaiya miền Nam Thái Lan khoảng sáu kilomet về phía tây nam. Tu viện này được thành lập vào năm 1932 bởi Ajahn Buddhadasa. Năm 1988, tôi đến đó để tham gia khóa thiền mười ngày được tổ chức cho người nước ngoài mỗi tháng. ↩︎
- Dịch giả: hiểu biết nội tại, hoặc hiểu biết sâu sắc (Pali: vipassana, tiếng Anh là “insight”) – “Insight Practice” chính là thiền Vipassana, thiền minh sát tuệ. Về nghĩa đen, từ “vipassana” là “thị giác nội tại”. Đây không phải là hiểu biết thông thường đến từ quá trình tư duy. Vipassana là trực giác hay là thiên nhãn thông, trong đó chúng ta trực tiếp thấy được bản chất đích thực của sự việc, chứ không chỉ là ý kiến hay là quan điểm chủ quan. ↩︎
- Dịch giả: Xuyên suốt sách này, chúng tôi sẽ sử dụng từ “thức tỉnh” thay cho từ “giác ngộ”. Mặc dù có lẽ thông dụng hơn, “giác ngộ” không phải từ chính xác. Nói đúng hơn thì mỗi trường phái có định nghĩa riêng của “giác ngộ” cho nên từ này dễ bị hiểu lầm.
↩︎ - Ví dụ, Kinh Trường Bộ 22.21; Trung Bộ 141.31; Tương Ưng Bộ 45.8; Tăng Chi Bộ 5.28.
↩︎ - Kinh Trung Bộ 36.31 có nhắc đến đây là “vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ”.” ↩︎
- Theo Từ điển PTS Pali-Anh về jhāna: “Nghĩa đen là thiền. Nhưng nó không bao giờ có nghĩa là thiền một cách mơ hồ. Đó là thuật ngữ kỹ thuật để chỉ một trải nghiệm tôn giáo đặc biệt, đạt được theo một trật tự nhất định của các trạng thái tinh thần.”
↩︎ - Ví dụ, Kinh Trung Bộ 8.18, 19.27, 108.15, 152.18; Tương Ưng Bộ 35.146, 43.1, 43.13, 43.44, 47.10; Tăng Chi Bộ 5.73–74, 7.74, 9.19. ↩︎
- Xem Chương 1 “Các bước chuẩn bị”, và trang web về giới luật tại http://rc.leighb.com/more/The_Precepts.htm để biết thêm chi tiết.
↩︎ - Ví dụ, Kinh Trường Bộ 2–8, 10–12; Trung Bộ 38.39–40, Trung Bộ 64, 77; Tăng Chi Bộ 5.28. ↩︎
- “Tập trung” (tiếng Anh: concentration) – Tiếng Việt dịch samādhi là “định”, với nghĩa không dời đổi, không bị lay động, cũng tương đối phù hợp với điều tác giả đang giải thích là “không bị xao lãng”. Do đó, chúng tôi sẽ dùng chữ “định” hoặc “tập trung” tùy ngữ cảnh. ↩︎
- Khả năng định tâm được định nghĩa là bốn jhāna trong Kinh Tương Ưng Bộ 48.10. Định lực được định nghĩa là bốn jhānas trong Tăng Chi Bộ 5.14.
↩︎ - Ví dụ, Kinh Trường Bộ 22.21; Trung Bộ 141.31; Tương Ưng Bộ 45.8; Tăng Chi Bộ 5.28.
↩︎ - Ví dụ, trong quá trình rèn luyện tuần tự (xem http://rc.leighb.com/more/The_Gradual_Training.htm), người ta chỉ nhắc đến bốn tầng jhāna, và thực hành minh sát sau jhāna thứ tư. MN 66.25 chỉ ra rằng jhāna thứ tư là jhāna đầu tiên “không ở trong tình trạng dao động.”
↩︎ - Kinh Trung Bộ 26.15–16. ↩︎
