✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Hơn nữa, khi niềm phấn khích biến mất, Tỳ-kheo trú trong sự bình thản, chánh niệm và hiểu biết rõ ràng, và trải nghiệm hạnh phúc trong thân thể. Vị ấy chứng và an trú trong jhāna thứ ba. Về jhāna này, các bậc thánh nhân nói, “Ta an trú hạnh phúc với bình thản và chánh niệm”. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hạnh phúc không có phấn khích ấy, sao cho không một chỗ nào trên toàn thân thể vị ấy không được thấm nhuần bởi niềm hạnh phúc này. (Kinh Trường Bộ 2.79)
Từ khóa Pali:
– samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung
– pīti: vui sướng, phấn khích
– sukha: hạnh phúc, niềm vui
Một điểm mấu chốt trong jhāna thứ ba là pīti – phấn khích – sẽ biến mất. Đây là một trạng thái đơn thuần hạnh phúc. Tuy nhiên, đây cũng là một trạng thái bình đẳng [1], chánh niệm, và biết rõ. “Mãn nguyện” là từ hay nhất để mô tả trạng thái này. Một trạng thái không mong cầu, một trạng thái hài lòng, và không mong gì hơn nữa. Trạng thái này không có pīti, thế nên không có cảm giác chuyển động. Bạn sẽ cảm thấy an định, hạnh phúc và không mong cầu.
[1] Dịch giả: Từ “xả” (upekkha, upeksha) trong tiếng Việt thường có nghĩa là tha thứ và bỏ qua, không cố chấp, ai làm mình buồn phiền thì mình tha thứ bỏ qua, nhưng “xả” trong tiếng Anh được dịch là bình đẳng (equanimity) có nghĩa là tâm bình thản xem mọi sự việc như nhau, không ưa không ghét, không bám víu cũng không xua đuổi, biết chấp nhận sự việc như nó là.
Về mặt thực hành, để đi từ jhāna thứ hai đến jhāna thứ ba, một lần nữa hãy hít một hơi thật sâu và thở ra hết. Khi làm vậy thì cường độ hạnh phúc sẽ giảm xuống. Khi đang trong trạng thái vui vẻ hạnh phúc của jhāna thứ hai, để chuyển sang tầng thứ ba, hãy để cho niềm hạnh phúc đó giảm đi và dần nhạt phai. Khi nó bắt đầu nhạt đi, hãy nhớ lại một khoảnh khắc mà bạn đã cảm thấy rất mãn nguyện. Ví dụ, lúc vừa ăn xong một bữa ăn hoàn hảo, không quá no, và bạn không phải rửa bát. Hãy gợi nhanh lại sự việc đó – khoảng một phần tư giây – và rút cảm giác mãn nguyện ra từ đó. Trong khi niềm hạnh phúc của jhāna thứ hai tiếp tục giảm, hãy chú ý vào cảm giác mãn nguyện này, để cho niềm hạnh phúc đang giảm dần trở thành sự mãn nguyện, rồi để sự mãn nguyện đó trở thành tâm điểm chú ý của bạn.
Tại thời điểm này, pīti phải biến mất hoàn toàn. Jhāna thứ ba là một trạng thái vô cùng tĩnh. Không có cảm giác chuyển động, và cảm giác mãn nguyện lúc này vững như núi. Thường thì không cần phải làm gì để pīti biến mất cả; dường như nó tự phai nhạt đi khi tinh thần lắng từ hạnh phúc xuống mãn nguyện. Nếu còn chút tàn dư nào của pīti sót lại thì có nghĩa là bạn chưa hoàn toàn đạt tới jhāna thứ ba; bạn chỉ đang ở trong một trạng thái jhāna thứ hai yên tĩnh hơn. Trong trường hợp này, có lẽ tốt hơn hết là tăng cường độ mãn nguyện mạnh lên thành hạnh phúc, tái lập lại jhāna thứ hai “bình thường” với sukha làm tiền cảnh và pīti ở hậu cảnh, rồi thử lại chuyển sang jhāna thứ ba.
Jhāna thứ ba ít mãnh liệt hơn và cảm giác nằm nhiều hơn ở phần dưới cơ thể, về phía gần bụng. Thực tế, khi đi vào các jhāna càng cao thì cảm giác về vị trí của mỗi jhāna sẽ càng thấp dần trong cơ thể rất rõ ràng. Khi ai đó nói với tôi rằng họ đi “xuống” jhāna tiếp theo, tôi phải hỏi lại rằng họ đi “xuống” theo số thứ tự, chẳng hạn từ tầng thứ hai về tầng thứ nhất, hay “xuống” về cảm giác từ tầng thứ hai sang tầng thứ ba. Cảm giác trong cơ thể về sự đi xuống mạnh mẽ đến mức nó lấn át ý niệm về việc đi lên theo số thứ tự.
Một lần nữa, chúng ta có ví dụ minh hoạ như sau:
Này Ðại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. (Kinh Trường Bộ 2.80)
Đây là hình ảnh ví von về hoa sen sinh ra từ bùn nhưng không vượt khỏi mặt nước. Chúng sống cả đời chìm dưới nước, toàn thân đều thấm đẫm nước. Đây là một hình ảnh vô cùng tĩnh lặng. Những đóa sen không rung rinh trong gió, không đu đưa theo những gợn sóng trên mặt hồ – không hề có chuyển động nào cả. Đoạn kinh ở trên mô tả chính xác về jhāna thứ ba – trạng thái đắm mình trong một cảm giác mãn nguyện và không một cảm giác chuyển động. Hình ảnh ở dưới nước cũng chỉ một cảm giác cô lập, cảm giác này giờ đây bắt đầu xuất hiện khi tâm trí ngày càng tập trung hơn.
Một lần nữa, trong jhāna thứ ba – cũng như trong jhāna thứ nhất và thứ hai – ý tưởng là phải trở nên thuần thục để sukha – cảm giác mãn nguyện, chính là biểu hiện của sukha lúc này – thấm đẫm khắp nơi. Và xin nhắc lại, đừng lo lắng về việc này khi mới học về jhāna thứ ba. Chỉ cần ổn định với cảm giác mãn nguyện, duy trì và tập trung vào cảm giác đó. Sau này khi đã thuần thục, bạn sẽ thấy rằng không khó để di chuyển cảm giác này sao cho nó thấm đẫm khắp thân thể.
Bởi vì lúc này pīti đã biến mất nên đây là một trạng thái thoải mái hơn nhiều, phù hợp để duy trì trong một khoảng thời gian dài. Sukha vẫn còn sắc thái của hạnh phúc, cảm giác này hiện diện xuyên suốt con người bạn. Sự bình đẳng được nhắc đến trong lời mô tả về jhāna thứ ba có cảm giác như một sự bình lặng không gợn sóng. Đó là trạng thái không mong cầu, không phân tâm và bạn ở đó với nụ cười thoảng trên mặt như nụ cười của Đức Phật. Để trở nên thuần thục với jhāna thứ ba, hãy học cách duy trì trạng thái này trong ít nhất 10 đến 15 phút.
Kinh Poṭṭhapāda (Kinh Trường Bộ 9.12) có nói rằng sau khi chuyển từ jhāna thứ hai sang thứ ba, “cảm giác tinh tế trước kia về pīti và sukha được sinh ra từ sự định tâm, biến mất. Giờ đây là cảm giác tinh tế về trạng thái bình đẳng và hạnh phúc nổi lên và người tập ý thức về cảm giác tinh tế của trạng thái bình đẳng và hạnh phúc.” Lúc này thì đối tượng tập trung chuyển sang cảm giác “bình đẳng và hạnh phúc”, có thể được diễn tả đúng nhất bằng từ “mãn nguyện”.
Một thực hành tốt là di chuyển giữa các jhāna bằng cách tiến và lùi. Khi đã học được jhāna thứ ba, hãy thử đi lùi “lên” jhāna thứ hai. Bạn sẽ có cảm giác như điểm tập trung đi lên trong cơ thể, dù số thứ tự thì giảm xuống. Phương pháp ở đây là hãy để cảm giác mãn nguyện trở nên vô cùng mãn nguyện – thêm chút phấn khích vào cảm giác đó. Điều này hẳn sẽ đẩy bạn ngược lên jhāna thứ hai. Cũng có thể đi từ jhāna thứ hai lùi “lên” jhāna thứ nhất. Chỉ cần để cảm giác hạnh phúc trở nên mạnh mẽ, thậm chí hạnh phúc đến mức choáng váng – làm vậy sẽ làm cho pīti trở nên mạnh mẽ và bạn sẽ trở lại jhāna thứ nhất. Một khi đã thành thạo cả việc đi lên và đi xuống, hãy thử chuyển giữa các jhāna theo kiểu như 1-2-3-2-3-2-1. Việc nhập vào một jhāna từ cả “bên trên” lẫn “bên dưới” cho bạn một bức tranh rõ ràng hơn về các đặc tính của jhāna, từ đó giúp bạn trụ lại sâu hơn trong đó.
Để biết thêm thông tin học thuật về jhāna thứ ba theo như mô tả trong kinh, hãy đọc Phần Hai, chương “Jhāna thứ ba”.
Một số vấn đề có thể gặp khi học jhāna thứ ba
Với người đang ở trong jhāna thứ ba, phấn khích là cây gai. (Kinh Tăng Chi Bộ 10.72)
Vấn đề thường gặp nhất trong khi học jhāna thứ ba là pīti không chịu biến mất. Thay vì nhập vào jhāna thứ ba, bạn vẫn ở trong jhāna thứ hai nhưng với sukha ở cường độ thấp. Nếu pīti vẫn còn thì đó không phải là jhāna thứ ba.
Như tôi đã nói trong phần trước, chiến lược đầu tiên là thử trở về trạng thái jhāna thứ hai bình thường hơn, ở đó chừng vài phút, rồi thử nhập lại vào jhāna thứ ba. Nếu cách này không hiệu quả, một cách khác đôi khi hữu ích là quay lại jhāna thứ hai một lúc ngắn rồi về jhāna thứ nhất một lúc ngắn. Ngay khi pīti của jhāna thứ nhất được thiết lập chắc chắn, hãy thử đẩy nó lên mạnh nhất có thể chỉ trong một hai giây, rồi hít vào một hơi sâu và chuyển sang jhāna thứ hai. Ở đó cho đến khi suy nghĩ lại lắng xuống; và rồi thử nhập lại vào jhāna thứ ba.
Nếu hai cách trên đều không có tác dụng, lần sau khi chuyển từ cận định vào jhāna thứ nhất, hãy nhanh chóng hít vào một hơi sâu và chuyển sang jhāna thứ hai, không để pīti trở nên quá mạnh. Dành nhiều thơn gian hơn ở trong jhāna thứ hai trước khi thử nhập vào tầng ba.
Đương nhiên, nếu pīti vẫn ở đó ngay cả sau khi xả thiền thì sẽ rất khó mà tắt nó đi khi muốn chuyển từ jhāna thứ hai sang thứ ba. Trong trường hợp này, chỉ cần đợi cho đến khi pīti biến mất sau khi xả thiền. Sau đó, khi tiếp tục thực hành jhāna, chỉ ở trong jhāna thứ nhất một lúc rất ngắn trước khi hít một hơi sâu và chuyển sang jhāna thứ hai.
Một vấn đề thường gặp khác nữa là pīti trở lại sau khi bạn đã ổn định trong jhāna thứ ba. Trong trường hợp này, chỉ cần nương theo trải nghiệm để đi lên lại jhāna thứ hai, ổn định nó và ở trong tầng hai này vài phút, sau đó nhập lại vào jhāna thứ ba.
