✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Ở đây, này các tỷ-kheo, khi tỷ-kheo xa lìa khoái lạc từ các giác quan, xa lìa khỏi các trạng thái bất thiện, vị ấy sẽ chứng đạt và an trú trong jhāna thứ nhất… jhāna thứ hai… jhāna thứ ba… jhāna thứ tư. Như vậy được gọi là phúc lạc của sự buông bỏ, phúc lạc của sự xa lìa, phúc lạc của sự bình an, phúc lạc của sự khai sáng. Ta nói đây là loại phúc lạc nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, và không nên sợ hãi. (Kinh Trung Bộ 139.9)
Các jhāna và các trạng thái vô sắc tướng dường như là những trạng thái xuất hiện tự nhiên của tâm. Khoảng mười phần trăm thiền sinh mà tôi từng hướng dẫn kể rằng họ từng trải qua một (và đôi khi nhiều) jhāna khi còn nhỏ [1]. Thỉnh thoảng họ kể điều này khi nghe tôi tả về các jhāna; còn thường thì họ kể chuyện này sau khi đã học cách nhập vào một jhāna, khi nhận ra trạng thái jhāna đó dường như là quen thuộc và rồi nhớ ra rằng mình đã từng ở trong trạng thái đó khi còn nhỏ.
[1] Trong Kinh Trung Bộ 36.31, Đức Phật kể Ngài nhớ lại khi còn nhỏ đã từng trải qua jhāna thứ nhất.
Còn lại thường các thiền sinh cho biết họ đã trải qua một hay nhiều trạng thái như vậy khi ở trong một khóa thiền trước đó. Các trạng thái tâm này không có gì là siêu phàm – chúng phát sinh một cách tự nhiên khi tâm đã đủ an định và được hướng vào một ý nghĩ hoặc cảm xúc đủ gần với trải nghiệm của một jhāna. Trong thuyết hỗn loạn [2] có khái niệm về điểm hút (attractor). Một hệ thống cuối cùng sẽ ổn định trong một trạng thái, đó chính là điểm hút. Nếu hệ thống bắt đầu với các điều kiện ban đầu khác nhau, trong một số hoàn cảnh nhất định thì các khuôn mẫu như nhau sẽ xuất hiện. Tập hợp những hoàn cảnh để một khuôn mẫu xuất hiện được gọi là lưu vực (basin of attraction) của điểm hút. Các jhāna giống như điểm hút: nếu hệ thống tâm trí đến đủ gần với một điểm hút trong số đó – tức là bạn có đủ định lực cộng thêm một số yếu tố tinh thần khác, như là sự dễ chịu, niềm vui, sự mãn nguyện, hoặc nhận thức về không gian bao la – thì bạn đang ở trong lưu vực hút của jhāna đó và bạn sẽ định vào khuôn mẫu mà chúng ta gọi là jhāna.
[2] Dịch giả: Thuyết hỗn loạn, hay thuyết hỗn mang: tiếng Anh là “chaos theory”. Đây là một lĩnh vực trong toán học và vật lý, nghiên cứu về mẫu hình hoạt động của các hệ thống động, hay là hệ thống hỗn loạn, để có thể hiểu rõ và dự đoán được hành vi của hệ thống đó. Một hệ thống “hỗn loạn” vô cùng nhạy cảm với các điều kiện ban đầu, khiến cho một thay đổi nhỏ cũng dẫn đến những hành vi khác nhau tưởng như ngẫu nhiên hoặc không dự đoán được, nhưng thật ra nó tuân theo những quy luật xác định. Thuyết này được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cơ khí, toán học, dự báo thời tiết, v.v. Phép ẩn dụ phổ biến cho một khía cạnh của thuyết này là “hiệu ứng cánh bướm”: những cánh bướm vỗ ở Amazon cũng có thể tác động lên thời tiết ở Chicago.
Trong khoa điểu cầm học có khái niệm về hình ảnh tìm kiếm. Luuk Tinbergen [3] định nghĩa hình ảnh tìm kiếm là hình ảnh điển hình của một con mồi mà thú săn mồi có thể ghi nhớ và sử dụng để phát hiện con mồi khi hình ảnh đó xuất hiện thường xuyên. Trong tình huống tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên, chiến lược hiệu quả nhất của một con chim là tăng tối đa lượng thức ăn ăn vào và đồng thời giảm tối thiểu tiêu hao năng lượng [4]. Việc sử dụng hình ảnh tìm kiếm cho phép một con chim săn mồi nhanh chóng “phân loại” dữ liệu hình ảnh đầu vào thành những gì có thể bỏ qua và những gì nên theo đuổi. Những lời mô tả về jhāna nói trên là các hình ảnh tìm kiếm. Đừng xem chúng là tuyệt đối; hãy sử dụng chúng như là hình ảnh mô tả khái quát cho các trạng thái mà bạn đang tìm kiếm khi định lực ở mức hoàn hảo. Các mô tả này sẽ tăng tối đa cơ hội nhận diện những trạng thái này khi chúng biểu hiện, đồng thời giảm thiểu sự tiêu hao năng lượng tinh thần.
[3] Luuk Tinbergen, “The Natural Control of Insects in Pine Woods: Factors Influencing the Intensity of Predation by Song-birds” (tạm dịch: “Sự kiểm soát tự nhiên của côn trùng trong rừng thông: Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ săn mồi của các loài chim biết hót”), Archives Néerlandaises de Zoologie 13 (1960): 265–343.
[4] “Attention and the Search Image,” (tạm dịch “Sự chú ý và hình ảnh tìm kiếm) trong Avian Visual Cognition (Nhận thức thị giác của loài chim), được biên tập bởi Robert G. Cook, Khoa Tâm lý học, Đại học Tufts, hợp tác với Comparative Cognition Press (2001), http://www.pigeon.psy.tufts.edu/avc/pblough/si_attention.htm.
Người ta đã không phát minh ra jhāna mà họ đã phát hiện ra những trạng thái này. Từ nhiều thế kỷ trước thời Đức Phật, người Ấn Độ đã thực hành chánh niệm qua hơi thở và thường tình cờ đạt được những trạng thái định sâu và ổn định trong một thời gian dài. Cuối cùng, những trạng thái này được hệ thống hóa và sắp xếp theo thứ tự tăng dần về sự vi tế của đối tượng thiền. Đến thế kỷ thứ 5 trước CN, những trạng thái này đã được biết đến rộng rãi và được giảng dạy—Tôn giả Gotama đã học jhāna từ hai vị thầy của mình trước khi trở thành Phật.
Mặc dù nguyên tắc này không được đề cập rõ ràng trong các bài kinh, nhưng độ sâu của các trải nghiệm jhāna phụ thuộc vào định lực. Dường như có hai cách để tăng cường độ sâu của các trạng thái jhāna: duy trì trạng thái cận định lâu hơn và ở lại lâu hơn trong các jhāna nằm trước jhāna mà bạn muốn vào sâu. Vì các đối tượng thiền của cận định ít vi tế hơn so với các đối tượng của jhāna, nên việc ở lại cận định lâu hơn thường hữu ích hơn để có trải nghiệm jhāna sâu hơn.
Có vẻ như các jhāna hoạt động như một hệ số nhân—bất kể định lực của bạn là như thế nào trong trải nghiệm jhāna ban đầu, định lực đó đều có thể được nhân đôi hoặc nhân ba khi di chuyển qua các jhāna. Ví dụ (tôi lấy các con số hoàn toàn giả định), giả sử việc chuyển từ jhāna thứ nhất đến jhāna thứ tư sẽ nhân đôi định lực, và chuyển đến jhāna thứ tám lại tăng gấp đôi định lực đó. Vậy nếu bạn vào jhāna thứ nhất với 3 đơn vị định lực, thì khi đến jhāna thứ tư bạn sẽ có 6 đơn vị, và chuyển đến jhāna thứ tám sẽ cho bạn 12 đơn vị. Nhưng nếu bạn nhập vào jhāna thứ nhất với 20 đơn vị định lực, khi đến jhāna thứ tư bạn sẽ có 40 đơn vị và chuyển đến jhāna thứ tám bạn sẽ có 80 đơn vị định lực. Hãy nhớ rằng tất cả các con số này chỉ là giả định, nhưng hy vọng ví dụ trên có thể giúp bạn hình dung về ảnh hưởng của jhāna đối với mức độ của định lực.
Cũng cần nhớ rằng các jhāna không phải là điều gì quá ghê gớm – chúng có ích, nhưng mọi người không nên tán dương hay hạ thấp bản thân chỉ vì họ có thể hay không thể nhập vào một jhāna. Trong Sappurisa Sutta (Kinh Chân Nhân, Trung Bộ 113.21), Đức Phật dạy:
Nhưng một người chân chính sẽ suy xét như sau: “Đức Thế Tôn đã dạy rằng không được đồng nhất bản thân ngay cả khi đạt được jhāna thứ nhất; bởi vì dù cho họ nhận thức thế nào thì sự thật vẫn không phải là thế.” Vậy nên người ấy đặt việc không đồng nhất bản thân lên hàng đầu, không khen mình cũng không chê người vì đã chứng được jhāna thứ nhất. Đây cũng là tính cách của người chân chính.
Sau đó Đức Phật tiếp tục lặp lại lời này cho cả tám jhāna. Các jhāna là công cụ có ích cho những ai có thể vào được và sử dụng chúng một cách khôn ngoan. Tuy nhiên, mỗi người có một tài năng khác nhau. Một số người có tài năng phù hợp để thực hành jhāna, trong khi người khác lại có những khả năng khác. Về cơ bản, nếu bạn có tài năng giúp học và thực hành jhāna, hãy dùng những tài năng đó trên con đường tâm linh. Nếu không có khả năng này, hãy dùng những khả năng mà bạn có.
Đôi lần tôi đã bị kết tội là dạy jhāna phiên bản “gọn nhẹ”. Đúng là những gì tôi dạy “nhẹ” hơn so với những gì được mô tả trong Thanh Tịnh Đạo. Như bạn sẽ thấy trong phần hai, những lời mô tả trong Thanh Tịnh Đạo không khớp với lời mô tả trong kinh. Với thiền sinh mới học jhāna trong một khóa thiền mười ngày thì đương nhiên trải nghiệm của họ sẽ “nhẹ nhàng” hơn so với những gì có thể đạt được trong một khóa thiền dài ngày. Bởi vì khi thiền dài ngày họ trở nên thuần thục hơn trong các trạng thái đó. Và những gì thiền sinh mới học được trong một khóa thiền mười ngày sẽ là “nhẹ” so với những gì được mô tả trong kinh. Nhưng có ba lợi ích rất quan trọng khi học cái gọi là jhāna “bản gọn nhẹ” này:
– Nó giúp cho một tỉ lệ đáng kể những người đang thực hành thiền hàng ngày có thể học được các jhāna này khi mới bắt đầu.
– Các jhāna học được trong một khóa thiền mười ngày có thể được sử dụng rất hiệu quả để nâng cao đáng kể thực hành minh sát tuệ.
– Bằng cách ở lâu hơn trong cận định, độ sâu của những “jhāna nhẹ” này được củng cố đến mức gần với những lời mô tả trong kinh.
Đức Phật là một trong những người thực tế nhất. Ngài không quan tâm đến việc trả lời các câu hỏi siêu hình như kiểu thế giới hình thành như thế nào. Ngài chỉ muốn mọi người thực hành hết sức có thể, phù hợp với hoàn cảnh sống của mình, để giảm bớt hoặc thậm chí loại bỏ khổ đau. Từ góc độ thực tiễn, việc thực hành một phương pháp mà bạn thực sự có thể làm được thì tốt hơn nhiều so với việc cứ dai dẳng cố gắng học một phương pháp vượt quá khả năng của bạn trong hoàn cảnh hiện tại. Bởi vì hầu hết độc giả ở đây không theo một lối sống mà ngày nào cũng có thể vào trạng thái định tâm thật sâu ở mức định lực đạt được khi theo khóa thiền một tháng hoặc lâu hơn. Cho nên, tốt hơn hết là dạy một phương pháp mà thiền sinh có thể tập luyện ở mức định lực của họ và sử dụng nó để củng cố thực hành thiền. Kể cả khi bạn đang học jhāna “gọn nhẹ”, chúng vẫn có khả năng nạp năng lượng cho thực hành thiền của bạn: chúng mang lại một nguồn an lạc rất lành mạnh – một điều mà Đức Phật cho rằng là cần thiết trên con đường tâm linh; và chúng có thể nâng cao thực hành thiền minh sát tuệ đủ để mang lại những hiểu biết nội tại giúp thay đổi cuộc sống.
