✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
Tỷ-kheo chứng và trú jhāna thứ nhất,… với vitakka và vicāra. (Kinh Trường Bộ 2.75)
Từ khóa Pali:
– vitakka: suy nghĩ, suy tưởng [1]
– vicāra: dò xét [2]
[1] Dịch giả: Sách tiếng Việt hay dịch là “tầm” (tiếng Hán Việt nghĩa là tìm), như “suy tầm”.
[2] Dịch giả: Sách tiếng Việt hay dịch là “tứ”, tiếng Hán Việt nghĩa là dò xét, thăm dò.
Có lẽ không có khía cạnh nào của jhāna thứ nhất trong các bài kinh bị hiểu lầm nhiều hơn hai từ vitakka và vicāra. Chúng thường được dịch là “suy nghĩ khởi đầu và liên tục”, hay “đặt [tâm trí] ban đầu và liên tục”, hay “sự chú tâm ban đầu và liên tục vào đối tượng thiền”. Mặc dù đây là cách hiểu của hai thuật ngữ này trong Phật giáo sau này, đặc biệt là trong các chú giải, nhưng đây chắc chắn không phải – không bao giờ – là ý nghĩa của các từ này trong kinh. Vào thời Đức Phật và có lẽ trong hơn một thế kỷ sau khi Ngài nhập diệt, vitakka mang nghĩa là “suy nghĩ”, còn vicāra nghĩa là “dò xét”, “suy ngẫm”, “đánh giá”, hay “cân nhắc”. [3]
[3] Roderick S. Bucknell, “The Importance of Pali/Chinese Comparisons in Studies of Early Buddhist Doctrine” (Tầm quan trọng của việc so sánh tiếng Pali/Trung Hoa trong các nghiên cứu về học thuyết Phật giáo thời kỳ đầu), bài viết trình bày tại hội nghị thường niên lần thứ chín của Australian Association for the Study of Religions (Hiệp hội Nghiên cứu Tôn giáo Australia), Canberra, tháng Tám 1984, trang 4.
Bộ đôi “vitakka và vicāra” là một trường hợp hai từ song song đồng nghĩa, một biện pháp tu từ xuất hiện rất thường xuyên trong kinh. Giống như câu nói “vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc” không có nghĩa là chỉ ra bốn việc khác nhau phải làm, cụm từ “vitakka và vicāra” không nhằm chỉ hai đặc tính/ yếu tố/ khía cạnh khác nhau. Việc sử dụng cụm từ “vitakka và vicāra” chỉ nhằm nhấn mạnh rằng quả thực sự suy nghĩ đang diễn ra trong jhāna thứ nhất và hoàn toàn biến mất trong jhāna thứ hai [4].
[4] Xem Anālayo, Comparative Study (Nghiên cứu so sánh), 15, để biết thêm về kiểu lặp lại này.
Có một lưu ý rất thú vị trong phần định nghĩa của vitakka trong từ điển của Pali Text Society:
Khi xem xét sự kết hợp vitakka+vicāra trong tác phẩm thời kỳ đầu và sau này, chúng ta đi đến kết luận rằng hai từ này từng được dùng để chỉ một và cùng một thứ là ý nghĩ, sự suy nghĩ. Hai từ này đi đôi như thế để nhấn mạnh (vì hai từ này cũng đồng nghĩa về mặt ngữ nghĩa), và cần hiểu chúng như một cụm từ duy nhất mà không thể phân biệt rõ sự khác nhau. Khi Tăng đoàn ngày càng phát triển trong việc nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ, hai từ này dần được phân biệt rõ ràng. Vitakka trở thành sự khởi tâm hay là sự chú tâm, và không còn được sử dụng, như trong các bài kinh, để chỉ việc suy nghĩ nói chung nữa.
Chú thích số 611 trong bản dịch Kinh Trường Bộ của Maurice Walshe viết như sau:
Vitakka-vicāra… Tôi đã sử dụng cách diễn giải được đề cập tại chú thích số 80 (‘suy nghĩ và cân nhắc’), thay cho cách dịch phổ biết hơn là ‘việc chú [tâm] ban đầu và liên tục’. Trong một trao đổi riêng, L. S. Cousins đã viết: ‘Đơn giản là những từ đó không mang nghĩa này… Suttanta không phân biệt giữa cận định và định – do đó các từ được sử dụng ở đây không mang ý nghĩa nhất thời như trong Vô Diệu Pháp (Abhidhamma). Đặc biệt với vicāra, thậm chí ý nghĩa này không theo nghĩa trong Vô Diệu Pháp, vì Bộ Pháp Tụ [5] giải thích rõ ràng vicāra là “điều tra”’.
[5] Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅganī, Liệt kê các hiện tượng) là một tập trong Vô Diệu Pháp (Abhidhamma) tiếng Pali. Tuy nhiên, trong phần mô tả về jhāna thứ nhất, vicāra có vẻ như ám chỉ “sự chú tâm liên tục”, bởi vì ekaggata (tâm nhất điểm) đã được thêm vào như là một yếu tố của jhāna thứ nhất. Xem trang web “Abhidhamma Jhānas” ở địa chỉ http://rc.leighb.com/more/Abhidhamma_jhānas.htm để biết thêm thông tin.
Vitakka là một từ xuất hiện phổ biến trong kinh hơn vicāra. Thực tế, trong Từ điển PTS Pali-Anh của T.W. Rhys Davids, dưới mục vicāra có ghi chú như sau:
Hầu như rất hiếm khi vicāra xuất hiện độc lập (như trong Th 1, 1117 manovicāra), thường thì tự này xuất hiện trong mối liên kết chặt chẽ hoặc kết hợp trực tiếp với vitakka.
Chú thích số 436 trong bản dịch các bài kinh đánh số của Bhikkhu Bodhi có nói rằng “vicāra ban đầu có nghĩa là ‘đi loanh quanh’ [5]”. Điều này chắc chắn thiên nhiều hơn về nghĩa “dò xét” hay “suy ngẫm” hay “lật đi lật lại trong tâm trí” và thực sự có vẻ trái ngược với “chú ý liên tục”.
[5] Bodhi, Aṅguttara Nikāya, 1649n436.
Vitakka xuất hiện trong tựa đề của hai bài kinh:
– Trung Bộ 19 – Dvedhāvitakka Sutta
– Trung Bộ 20 – Vitakkasaṇṭhāna Sutta
và hai kinh này chắc chắn chỉ nói về suy nghĩ và không đề cập gì về sự chú [tâm] ban đầu hoặc chú ý ban đầu.
Trong Tương Ưng Bộ ở bài 21.1, Mahāmoggallāna (Tôn giả Mục-kiền-liên) kể lại về lần đầu tiên ông học thiền jhāna và thắc mắc:
“Thế nào là sự im lặng cao quý?”
“Ở đây, khi suy nghĩ và dò xét đã lắng xuống, Tỷ-kheo nhập vào và an trú trong jhāna thứ hai, vốn có sự an tĩnh bên trong và tâm trí hợp nhất, không có suy nghĩ và dò xét, có niềm phấn khích và hạnh phúc sinh ra từ định tâm. Như vậy gọi là sự im lặng cao quý.”
Trong Tương Ưng Bộ 41.6, Citta (gia chủ) hỏi Tôn giả Kāmabhū, “Thế nào là sự hình thành nên ngôn từ?” Người ấy được dạy rằng: “Suy nghĩ và dò xét hình thành nên ngôn từ”. Sau đó Citta lại hỏi: “Tại sao suy nghĩ và dò xét lại hình thành nên ngôn từ?” Người ấy được dạy rằng: “Đầu tiên phải suy nghĩ và dò xét, sau đó người ta mới phát ra lời nói; đó là lý do tại sao suy nghĩ và dò xét là sự hình thành ngôn từ.”
Hai bài kinh này chỉ rõ rằng vitakka và vicāra thực sự có nghĩa là suy nghĩ. Và bởi vì bài kinh thứ nhất trong Tương Ưng Bộ 21.1 liên quan đến jhāna thứ hai, nên không thể nào vitakka và vicāra có thể mang những ý nghĩa như “sự chú ý/ chú [tâm] ban đầu và liên tục” trong bối cảnh nói về các jhāna trong kinh.
Trong Tương Ưng Bộ 40.2 có một đoạn tương tự như chuyện trong Tương Ưng Bộ 21.1 đã đề cập ở trên, và ở đây Mahāmoggallāna một lần nữa thuật lại lần đầu tiên ông học các jhāna:
“Rồi này các bạn, khi sự suy nghĩ và dò xét lắng xuống, tôi chứng và trú trong jhāna thứ hai… Khi tôi trú ở đó, các nhận thức và sự chú ý đi kèm theo suy nghĩ dò xét đã tấn công tôi.“
“Thế rồi, các bạn ạ, Thế Tôn đến với tôi qua sức mạnh tâm linh và nói: ‘Này Moggallāna, Moggallāna, chớ có lơ là với jhāna thứ hai hỡi người Bà-la-môn. Hãy vững tâm trong jhāna thứ hai, hợp nhất tâm trí trong jhāna thứ hai, hãy định tâm trong jhāna thứ hai’. Rồi vào một dịp sau đó, khi suy nghĩ và dò xét đã lắng xuống, tôi chứng và trú trong jhāna thứ hai, có sự an tĩnh bên trong và tâm trí hợp nhất, không còn suy nghĩ và dò xét, có niềm phấn khích và hạnh phúc sinh ra từ sự định tâm.”
Ở đây chúng ta thấy rằng suy nghĩ – vitakka và vicāra – khởi phát làm xáo trộn jhāna thứ hai của Mahā-moggallāna.
Rất có thể toàn bộ Moggallāna Saṃyutta (Tương Ưng Bộ 40) là một tác phẩm đời sau, bởi vì “hầu như toàn bộ Moggallāna Saṃyutta” không có trong các āgama (kinh A-hàm) tiếng Hán [6], nhưng điều này càng chỉ rõ một thực tế rằng trong một thời gian rất dài sau khi Đức Phật nhập diệt, vitakka và vicāra không bao giờ mang bất kỳ ý nghĩa nào như “sự đặt [tâm] ban đầu và liên tục” hay “sự chú ý ban đầu và liên tục vào đối tượng thiền”.
[6] Roderick S. Bucknell, “The Importance of Pali/Chinese Comparisons in Studies of Early Buddhist Doctrine” (Tầm quan trọng của việc so sánh tiếng Pali/ tiếng Hán trong các nghiên cứu về học thuyết Phật giáo thời kỳ đầu), bài viết trình bày tại hội nghị thường niên lần thứ chín của Australian Association for the Study of Religions (Hiệp hội Nghiên cứu Tôn giáo Australia), Canberra, tháng Tám 1984, trang 4.
Trên thực tế, ngay cả cách dịch vitakka và vicāra là “suy nghĩ và dò xét” cũng không thực sự nắm bắt được chính xác ý nghĩa của cụm từ “vitakka và vicāra” khi nói về các jhāna. Hãy nhớ rằng ở trên Rhys Davids đã chỉ ra rằng trong kinh, chúng “được dùng để biểu thị một điều giống nhau: đó chỉ là ý nghĩ, sự suy nghĩ; chỉ nhằm để nhấn mạnh.” Có lẽ cách dịch hay nhất cho phần mô tả về jhāna đầu tiên trong kinh sẽ là như sau:
Hoàn toàn xa lìa khỏi lạc thú từ các giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, vị ấy chứng và an trú trong jhāna thứ nhất, đó là một trạng thái đi kèm với suy nghĩ và nhiều suy nghĩ hơn, tràn ngập phấn khích cùng hạnh phúc sinh ra từ sự xa lìa. (Kinh Trường Bộ 2.77; đoạn nhấn mạnh)
Tương tự như vậy, phần mô tả jhāna thứ hai trong kinh thực sự nhấn mạnh, bằng cách đề cập hai lần, rằng sự suy nghĩ trong jhāna thứ nhất đã chấm dứt; phần miêu tả này có thể được dịch chính xác hơn như sau:
Sau đó, khi mọi suy nghĩ đã lắng xuống, ta chứng và an trú trong jhāna thứ hai, là trạng thái đi kèm với sự an tĩnh bên trong và tâm trí hợp nhất, không có bất kỳ suy nghĩ nào, và tràn ngập phấn khích cùng hạnh phúc sinh ra từ sự định tâm. (Kinh Trường Bộ 2.79; đoạn nhấn mạnh)
Điều này không có ý nói rằng việc đặt tâm trí ban đầu vào đối tượng thiền cũng như duy trì sự chú tâm đó không phải một phần của jhāna thứ nhất. Thực tế, chúng không chỉ là một phần quan trọng của jhāna thứ nhất, mà còn đóng vai trò quan trọng không kém khi bắt đầu thiền để phát triển cận định. Ban đầu, hãy phải đặt sự chú ý vào đối tượng thiền, và để sinh ra cận định thì hãy duy trì sự chú ý vào đối tượng thiền. Sau đó, để chuyển vào jhāna thứ nhất, ban đầu bạn phải tìm một cảm giác dễ chịu và đặt sự chú tâm vào đó, rồi duy trì sự tâm trung vào cảm giác dễ chịu đó cho đến khi pīti và sukha khởi lên. Một khi pīti và sukha phát khởi, lại đặt và duy trì sự chú tâm vào trải nghiệm của pīti-sukha.
Với các jhāna thứ hai và cao hơn, những người hiểu vitakka và vicāra là “việc chú tâm ban đầu và liên tục” thường lập luận rằng: “sự hợp nhất tâm trí” trong jhāna thứ hai là thay thế cho việc “đặt” sự chú tâm. Khi này sự tập trung trở thành tự động, và do đó không còn vitakka cùng vicāra trong jhāna thứ hai và các jhāna cao hơn. Tất cả lập luận này đúng, nhưng lại bỏ qua một điểm quan trọng rằng vẫn còn suy nghĩ trong jhāna thứ nhất, và chính sự lắng dịu của suy nghĩ này là yếu tố sinh ra jhāna thứ hai.
Nếu chúng ta muốn hiểu những gì các bài kinh đã nói về các jhāna, thì việc hiểu chính xác ý nghĩa của các từ được sử dụng vào thời điểm các bài kinh được soạn thảo là điều cần thiết. Vitakka và vicāra chỉ có nghĩa là “suy nghĩ”, cả trong bối cảnh nói về jhāna lẫn xuyên suốt trong các kinh [7]. Hiểu được điều này sẽ mang lại một bức tranh rõ ràng hơn về những gì kinh mô tả về jhāna thứ nhất, như chúng ta sẽ thấy trong chương tiếp theo.
[7] Xem Polak, Reexamining jhāna (Xem xét lại các jhāna), 137-42, để tham khảo thảo luận chi tiết hơn về việc sử dụng các từ vitakka và vicāra trong kinh.
