✏ Tác giả: Leigh Brasington, 📖 Chánh định
“Hoàn toàn xa lìa các lạc thú từ giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, tỷ-kheo chứng và trú trong jhāna thứ nhất, một trạng thái đi kèm vitakka và vicāra, tràn đầy pīti cùng sukha sinh ra nhờ sự xa lìa. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho thân mình sung mãn và tràn đầy với pīti cùng sukha sinh ra do xa lìa này, không một chỗ nào trên toàn thân không được thấm nhuần bởi pīti và sukha ấy.” (Kinh Trường Bộ 2.75)
Từ khóa Pali:
– samādhi: định tâm, không thể phân tâm, tập trung
– vitakka: suy nghĩ, suy tưởng
– vicāra: dò xét
– pīti: vui sướng, phấn khích
– sukha: hạnh phúc, niềm vui
“Jhāna thứ nhất có năm yếu tố” [“Sơ thiền có năm chi”]. Lượng thông tin sai lệch trong tuyên bố này thật thất kinh. Những người tuyên bố như vậy liệt kê năm yếu tố [năm chi] như sau:
· vitakka,
· vicāra,
· pīti,
· sukha,
· ekaggata.
Khi xem qua những gì kinh mô tả về jhāna thứ nhất thì không có gì tương ứng với ekaggata – vốn có nghĩa là “nhất điểm”. Khi chỉ ra điều này, câu trả lời thường gặp là “Đấy là mặc định”. Tại sao lại phải mặc định như thế? Khi xem xét kỹ lưỡng những gì kinh mô tả về jhāna thứ nhất, chúng ta có thể bác bỏ mọi khả năng rằng ekaggata là một phần của jhāna thứ nhất – đơn giản là không thể có được có sự tập trung nhất điểm khi vẫn còn suy nghĩ! Ý nghĩa của hai từ vitakka và vicāra trong kinh, như đã giải thích trong chương trước, chỉ rõ rằng jhāna thứ nhất không phải là một trạng thái định nhất điểm.
Thế thì làm sao mà ekaggata lại được gắn với jhāna thứ nhất, trong khi những lời mô tả về jhāna này rõ ràng loại trừ một trạng thái như vậy? Có vẻ là theo thời gian, hiểu biết về trải nghiệm của jhāna thứ nhất đã thay đổi. Sau khi Đức Phật nhập diệt, dường như nhiều thế hệ tăng sĩ [1] kế tiếp đã tìm được cách đi vào các trạng thái thiền ngày càng sâu hơn cho đến khi an định hoàn toàn. Có lẽ họ đã làm được vậy từ rất lâu trước khi Thanh Tịnh Đạo và các tác phẩm luận giải khác ra đời, trong đó jhāna thứ nhất được mô tả rõ ràng là một trạng thái an định.
[1] Có lẽ các ni cô cũng có khả năng vào các trạng thái định sâu hơn trong các jhāna, nhưng vì tác giả của các tài liệu Phật giáo sau này là các tăng sĩ nên tôi dùng từ “tăng sĩ” thay vì “tu sĩ”.
Vô Diệu Pháp (Abhidhamma, được soạn thảo khoảng vài thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt) mô tả về các jhāna rất khác so trong kinh. Sự thay đổi này phù hợp với cách hiểu về jhāna như là các trạng thái định sâu hơn [2]. Đến thời của Thanh Tịnh Đạo (được viết hơn tám thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt), jhāna thứ nhất đã được hiểu là một trạng thái an định hoàn toàn, trong đó không những không có suy nghĩ mà thậm chí còn loại trừ cả sự nghe và nhận biết về thân thể [3].
[2] Vô Diệu Pháp có nói rằng ekaggata là một phần của mọi trạng thái tâm trí – một trong những cetasika [tâm sở]. Đây có thể là nguồn gốc gây ra hiểu lầm trong lời mô tả của kinh về jhāna thứ nhất, nhưng điều này hẳn sẽ rất khó hay có lẽ là không thể xác định được.
[3] Thanh Tịnh Đạo 4.79ff. Xem thêm Pa-Auk, 2000, 102.
Dịch giả: Pa Auk dạy các giáo lý không chỉ về jhānas mà còn về minh sát (insight). Giáo lý của ông dựa trên Thanh Tịnh Đạo. Pa Auk cũng có một cuốn sách khá hay có tựa đề Knowing and Seeing (Hiểu và Thấy), có thể tải xuống miễn phí tại: http://www.buddhanet.net/pdf_file/know-see.pdf.
Xu hướng hiểu jhāna như một trạng thái định tâm sâu hơn thực ra đã được gợi ý trong hai đoạn của một cặp kinh được sáng tác gần đây. Mahāvedalla Sutta (Kinh Trung Bộ 43), có ghi rằng:
18. Này hiền giả, thế nào là jhāna thứ nhất?
Ở đây, này hiền giả, khi đã hoàn toàn xa lìa khỏi các lạc thú từ giác quan, xa lìa khỏi các trạng thái bất thiện, tỷ-kheo chứng và trú trong jhāna thứ nhất, một trạng thái đi kèm vitakka và vicāra, cùng với pīti và sukha sinh ra nhờ sự xa lìa. Đây được gọi là jhāna thứ nhất.
Hãy để ý rằng ở đây chỉ đưa ra bốn “chi” thường gặp; không hề có đề cập đến ekaggata (hay citt’ekaggata). Tuy nhiên, Kinh Trung Bộ 43 không nhất quán – câu tiếp theo viết như sau:
19. Này hiền giả, jhāna thứ nhất có bao nhiêu chi?
Này hiền giả, jhāna thứ nhất có năm chi. Ở đây, khi tỷ-kheo tiến vào jhāna thứ nhất thì sẽ có vitakka, vicāra, pīti, sukha, và citt’ekaggata (tâm trí nhất điểm). Jhāna thứ nhất có năm chi như vậy.
Kinh Trung Bộ 43 là một bài kinh “vấn đáp” hầu như chỉ gồm các câu hỏi và trả lời. Những bài kinh thuộc loại này có vẻ được soạn ra rất lâu sau khi Đức Phật nhập diệt, khi kiểu học thuộc lòng này được coi là có ích trong việc dạy cho tăng sĩ mới xuất gia. Bài kinh này có vẻ được soạn vào thời kỳ chuyển tiếp từ soạn thảo kinh sang soạn thảo Vô Diệu Pháp – nó bao gồm các phân loại và danh sách. Bài kinh này không ra đời quá “muộn” đến mức không có bản āgama (kinh A-hàm) tiếng Hán tương ứng [4]; tuy nhiên trong āgama tương ứng đó không có câu 19. Điều này ngụ ý rằng câu 19 sau này mới được bổ sung vào một bài kinh vốn đã ra đời sau, và nó được chèn vào mà không giải quyết sự không nhất quán giữa câu 18 và câu 19 [5]. Trong một rừng kinh thì bài kinh này chắc chắn không phải nguồn thông tin đáng tin cậy để tìm hiểu về các jhāna.
[4] Xem Bucknell, “Importance of Pali/Chinese Comparisons,” (Tầm quan trọng của việc so sánh tiếng Pali/tiếng Hán) 4.
[5] Trong āgama Trung Hoa tương ứng với Cūlavedalla Sutta (Trung Bộ 44), chủ đề về năm chi phần của jhāna thứ nhất có xuất hiện – xem Anālayo, Comparative Study, 2. Việc nó xuất hiện trong một āgama khác cũng có vẻ chỉ ra rằng nó được chèn vào sau này.
Một bài kinh khác đề cập đến ekaggatā như một “chi phần” của jhāna là Anupada Sutta (Kinh Trung Bộ 111). Đây cũng là một bài kinh ra đời sau [6], và trong bài kinh này cũng xuất hiện sự mâu thuẫn:
[6] Xem trang web “MN 111” ở địa chỉ http://rc.leighb.com/more/MN_111.htm để xem thảo luận chi tiết về Anupada Sutta và tại sao nó được coi là sáng tác sau [sau khi Đức Phật nhập diệt] và không đáng tin cậy.
3. Ở đây, này các tỷ-kheo, Sariputta xa lìa các lạc thú từ giác quan, xa lìa các trạng thái bất thiện, chứng đạt và an trú trong jhāna thứ nhất, là một trạng thái đi kèm với vitakka và vicarā, với pīti và sukha phát sinh từ sự xa lìa.
4. Và những trạng thái trong jhāna thứ nhất – vitakka, vicāra, với pīti, sukha, và citt’ekaggata (sự nhất điểm của tâm trí); xúc giác, cảm giác, nhận thức, ý muốn, và tâm trí; sự sốt sắng, quyết tâm, năng lượng, chánh niệm, bình đẳng, và chú ý: các trạng thái ấy được Sariputta xác định từng cái một khi chúng xảy ra, được Sariputta biết đến khi chúng nổi lên, được Sariputta biết đến khi chúng có mặt, được Sariputta biết đến khi chúng biến mất.
Câu 3 đưa ra lời mô tả tiêu chuẩn về jhāna thứ nhất như trong kinh – vốn không đề cập đến citt’ekaggata. Thế rồi câu 4 thì lại nói rằng citt’ekaggata được xác định và biết đến cùng với một loạt các yếu tố bổ sung. Các yếu tố bổ sung này xuất hiện nổi trội trong Vô Diệu Pháp. Caroline Rhys Davids chỉ ra rằng phong cách của bài kinh này tương tự như phong cách của Bộ Pháp Tụ, được xem như một trong những quyển ra đời sớm nhất của Vô Diệu Pháp [7][8]. Một lần nữa bài kinh này chắc chắn không phải nguồn thông tin đáng tin cậy trong một rừng kinh sách để tìm hiểu về jhāna.
[7] Journal of the Royal Asiatic Society, 1902; trích dẫn trong Pande, 1995, 138.
[8] Xem trang web “Abhidhamma Jhānas” ở địa chỉ http://rc.leighb.com/more/Abhidhamma_jhānas.htm để biết thêm về quan điểm về các jhāna trong Bộ Pháp Tụ.
Vậy phải chăng điều này nghĩa là jhāna thứ nhất, theo mô tả trong kinh, có bốn chi phần:
· vitakka,
· vicāra,
· pīti,
· sukha?
Thế còn sự “xa lìa các lạc thú từ giác quan” và “xa lìa các trạng thái bất thiện” được nhắc đến trong lời mô tả về jhāna thứ nhất thì sao? Chẳng phải những điều này thực sự là một phần quan trọng trong việc khởi phát jhāna thứ nhất sao, đặc biệt khi pīti và sukha được nói là sinh ra từ sự xa lìa? Phải chăng jhāna thứ nhất thực ra có sáu chi phần:
· xa lìa lạc thú từ các giác quan,
· xa lìa khỏi các trạng thái bất thiện,
· vitakka,
· vicāra,
· pīti,
· sukha?
Nhưng trong chương “Vitakka và Vicāra”, chúng ta đã thấy rằng vitakka và vicāra thực ra không phải hai điều riêng biệt trong lời kinh mô tả về jhāna thứ nhất; chúng được nói đến như một cách nhấn mạnh rằng sự suy nghĩ đang hiện diện. Vậy có lẽ chúng ta quay lại với năm chi phần:
· xa lìa lạc thú từ các giác quan,
· xa lìa các trạng thái bất thiện,
· vitakka và vicāra,
· pīti,
· sukha
Nhưng thực ra chính sự xa lìa mới là quan trọng, chứ không phải hai đối tượng cần xa lìa được nhắc đến [9]. Vậy thì có lẽ ta lại quay về với bốn chi phần:
[9] Như đã đề cập trong các chương “Cận định” và “Jhāna thứ nhất”, “xa lìa” này chỉ sự cách ly khỏi các chướng ngại.
· sự xa lìa,
· vitakka và vicāra,
· pīti,
· sukha
Nhưng “chi phần” thực sự có nghĩa là gì? Từ điển định nghĩa rằng “chi” là “nhánh, bộ phận của một tổng thể” [10]. Liệu sự suy nghĩ có thực sự là một phần góp vào trải nghiệm của jhāna thứ nhất không – hay suy nghĩ thực ra là một khuyết điểm trong trạng thái định tâm, chỉ là nó không kéo ta ra khỏi jhāna thứ nhất? Thật kỳ lạ khi đưa một khuyết điểm vào thành một bộ phận trong khi nó không đóng góp gì! Vậy phải chăng điều này có nghĩa là jhāna thứ nhất chỉ có ba chi phần:
[10] Chữ Pali được dùng ở đây là “aṅga”, có nghĩa là “một phần cấu thành của một tổng thể, một hệ thống, hoặc một tập hợp”, hay là “một phần cấu thành như một đặc tính, nổi bật hoặc đặc trưng, một dấu hiệu, thuộc tính, biểu hiện, phẩm chất”, theo từ điển của Pali Text Society. Chữ tiếng Anh được dùng ở đây là “factor” (yếu tố) cũng có ý nghĩa tương tự. Bổ sung của người dịch: Sách tiếng Việt hay dịch “aṅga” là “chi” (支), nghĩa là cành, nhánh, bộ phận, từ một tổng thể chia ra thành, cũng mang nghĩa tương tự.
· sự xa lìa,
· pīti,
· sukha
Thế còn việc đặt tâm/chú ý ban đầu và liên tục vào pīti và sukha thì sao? Giờ đây khi đã biết rằng vitakka và vicāra đề cập đến suy nghĩ – thì chúng ta làm thế nào để tích hợp sự đặt tâm/chú ý ban đầu và liên tục, vốn là cần thiết để nhập và duy trì jhāna?
Có vẻ như toàn bộ ý tưởng về “các chi của jhāna thứ nhất” đơn giản không phải là một khái niệm hữu ích. Thực ra, “các chi của jhāna” [thiền chi] nói chung không phải một khái niệm trong kinh, ngoại trừ trong hai bài kinh nói trên – vốn được sáng tác sau và có nội dung tự mâu thuẫn với nhau. Và chữ Pali “aṅga”, được dịch thành “chi” và được sử dụng ở nhiều chỗ trong các bài kinh, chỉ có một chỗ có liên quan đến jhāna: đó là Kinh Trung Bộ 43.19 (đã nói trên).
Nếu chúng ta thực sự muốn hiểu những gì Đức Phật đã trải qua và giảng dạy cho jhāna thứ nhất, có lẽ tốt hơn nên bỏ qua hoàn toàn chữ “chi” và chỉ nói về các đặc tính của jhāna thứ nhất, gồm bốn yếu tố sau:
· sự xa lìa,
· vitakka và vicāra,
· pīti,
· sukha.
Một điều quan trọng cần nhớ rằng đây không phải là một danh sách hoàn chỉnh: sự đặt tâm/ chú ý ban đầu và liên tục vào pīti và sukha không được nhắc đến trong đoạn mô tả chuẩn trong kinh. Tuy nhiên, trong Poṭṭhapāda Sutta (Kinh Trường Bộ 9.10), sau đoạn mô tả chuẩn về jhāna thứ nhất thì có đoạn sau: “Ta chứng và trú trong jhāna thứ nhất… Khi ấy xuất hiện một nhận thức tinh tế về pīti và sukha sinh ra từ sự xa lìa, và ta có ý thức về pīti và sukha ấy.”
Nếu thực sự muốn liệt kê các đặc tính của jhāna thứ nhất, ta có thể có danh sách như sau:
· sự xa lìa,
· vitakka và vicāra,
· pīti,
· sukha,
· ý thức về pīti và sukha.
Đoạn mô tả chuẩn về jhāna thứ nhất tiếp tục nói rằng một khi pīti và sukha đã xuất hiện, chúng cần được lan tỏa khắp thân thể. Một lần nữa chúng ta có bằng chứng trong kinh văn cho thấy những gì người đời sau hiểu và trình bày trong các bài luận là sai. Như đã nói trên, các bài luận mô tả jhāna thứ nhất là định tâm sâu đến mức sinh ra một trạng thái an định hoàn toàn [11] – một trạng thái không nghe thấy âm thanh hay không trải qua bất kỳ cảm giác xúc chạm nào, thậm chí không nhận thức được thời gian. Nhưng nếu ở jhāna này hoàn toàn không có sự nhận biết gì trong thân thể, thì làm thế nào bạn có thể “thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với pīti và sukha sinh ra từ sự xa lìa này, sao cho không một chỗ nào trên toàn thân không có pīti và sukha ấy thấm nhuần”?
[11] Thanh Tịnh Đạo 4.32, tr. 122; 4.42, tr. 124 & các trang sau; cũng ở 4.74, tr. 131& các trang sau.
Những người hiểu jhāna theo các bài luận thì thường vặn lại bằng cách chỉ ra rằng chữ “thân” được dịch ra từ kāya, vốn có nghĩa là “một đống, nhóm, tập hợp”, chứ không phải chữ rūpa mang nghĩa là “tính vật chất, hữu hình” [tiếng Việt hay dịch rūpa là “sắc” – ND]. Thế nên họ nói rằng nên hiểu chữ này như là “thể” và nó chỉ thể tinh thần của một người. Điều này có phần đúng, ở chỗ là kāya có thể mang nghĩa là thể tinh thần. Nhưng sau đoạn mô tả về jhāna thứ tư thường có một đoạn kinh nói về minh sát tuệ, và ngữ cảnh trong đó cho thấy rất rõ rằng kāya được dùng để chỉ thân vật chất. Cốt lõi của vấn đề ở chỗ pīti và sukha thấm nhuần toàn thân này phải bao trùm cả thân vật chất lẫn thể tinh thần. Từ những gì kinh mô tả jhāna thứ nhất, có thấy khá rõ rằng định lực ở đây không chỉ chưa đủ sâu để dập tắt mọi suy nghĩ mà nó còn chưa đủ sâu để cắt đứt mọi nhận thức về xúc giác.
Những người diễn giải jhāna theo các bài luận còn một luận điểm cuối cùng để biện hộ rằng jhāna thứ nhất là một trạng thái an định hoàn toàn: họ trích dẫn từ Kinh Tăng Chi Bộ 10.72 (Kaṇṭaka Sutta): “Tiếng ồn là cây gai cho jhāna thứ nhất”. Họ diễn giải điều này có nghĩa là bạn không thể nghe bất kỳ âm thanh nào khi thực sự ở trong jhāna thứ nhất. Nhưng hãy xem danh sách đầy đủ của mười “cây gai” này:
(1) Với người thích sống cô tịch, vui thích hội họp là cây gai.
(2) Với người tu tập quán bất tịnh [12], theo đuổi tịnh tướng là cây gai.
(3) Với người phòng hộ các giác quan, đi xem trình diễn không phù hợp là cây gai.
(4) Với người theo lối sống độc thân, thân cận với phụ nữ là cây gai.
(5) Với người chứng jhāna thứ nhất, tiếng ồn là cây gai.
(6) Với người chứng jhāna thứ hai, suy nghĩ và dò xét là cây gai.
(7) Với người chứng jhāna thứ ba, hỷ là cây gai.
(8) Với người chứng jhāna thứ tư, hơi thở là cây gai.
(9) Với người đã đạt được việc diệt nhận thức và cảm thụ, nhận thức và cảm thụ [tưởng và thọ] là cây gai.
(10) Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai.”
[12] Dịch giả: “Bất tịnh” nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán bất tịnh là một pháp quán quan trọng trong Ngũ đình tâm quán (năm phương thức quán chiếu giúp chế ngự tâm, đình chỉ vọng tưởng). Quán bất tịnh tập trung quán sát để thấy rõ thân thể vốn bất tịnh, không sạch, nhằm xa rời lòng tham sắc dục. Ngược lại, “tịnh tướng” là tướng sạch sẽ, trong sạch. Người đời thường cho là thân này sạch sẽ, không dơ bẩn, nên mới sinh lòng ưa thích sắc dục.
Cây gai là một thứ mà nếu chú ý đến nó thì ta sẽ gặp khó khăn trong việc làm điều mà ta định làm – thậm chí không thể làm được. Câu này hoàn toàn không có nghĩa rằng bạn không nghe thấy gì trong jhāna thứ nhất, nó chỉ xác nhận một điều hiển nhiên là cố gắng thiền trong một môi trường ồn ào thì sẽ khó mà định tâm đủ sâu để nhập vào hoặc duy trì jhāna thứ nhất.
Tóm lại, những gì kinh mô tả về jhāna thứ nhất là nói rằng: Hãy xa lìa các chướng ngại. Đừng lo lắng nếu vẫn còn một số suy nghĩ đằng sau. Nhờ xa lìa khỏi các chướng ngại, pāmojja (niềm vui trần thế) sẽ khởi phát, từ đó sinh ra pīti và sukha. Hãy tập trung vào pīti và sukha; duy trì chúng để được an trụ trong jhāna thứ nhất. Hãy lan tỏa pīti và sukha khắp thân thể.
