Chương 8 – Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ – P. D. Ouspensky

gurdjieff feature title Chương 8 - Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ - P. D. Ouspensky
G. I. Gurdjieff (thầy của P. D. Ouspensky)

Tại một bài giảng sau đó, G. đã trở lại với câu hỏi về tâm thức.

 “Không thể hiểu biết được về các chức năng tâm lý hay vật lý của con người”, ông nói, “trừ khi có thể nắm được thực tế rằng, cả hai đều có thể vận hành trong những trạng thái tâm thức khác nhau.

“Tổng cộng có bốn trạng thái tâm thức mà con người có thể có” (ông nhấn mạnh vào từ “người”), “Nhưng người bình thường, tức là, người số một, số hai, và số ba, chỉ sống trong hai trạng thái thấp nhất của tâm thức. [1] Người này không thể tiếp cận với hai trạng thái cao hơn của tâm thức, và mặc dù anh ta có thể đã có trải nghiệm thoáng qua về những trạng thái đó nhưng không thể hiểu được chúng và anh ta đánh giá chúng từ quan điểm rằng đó là những trạng thái bất thường.

[1] Người số một, hai, ba:

Người số bảy là một người đã đạt mức độ phát triển cao nhất có thể. Người số sáu giống người số bảy nhưng một số đặc tính của họ chưa được phát triển một cách vĩnh viễn. Người số năm là người đã hợp nhất toàn bộ tâm lý của mình. Người số một có trọng tâm tâm lý ở trong trung tâm vận động. Trong người số một, những bản năng liên quan đến cơ thể có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Người số hai có trọng tâm trong trung tâm cảm xúc. Có nghĩa là người này sống chủ yếu bằng cảm xúc. Người số ba có trọng tâm ở trung tâm lý trí. Đối với người số ba thì mọi thứ được phân tích và hiểu bằng lý luận. Người số bốn ở trong một trạng thái ở giữa những người một, hai, ba, và những người năm, sáu, bảy. Đó là một trạng thái chuyển tiếp. Người một, hai, ba đã là người một, hai, ba từ lúc người ta sinh ra nhưng người số bốn phải rèn luyện và nỗ lực thì mới đạt được trạng thái số bốn. Người số bốn luôn luôn là kết quả của một quá trình tập luyện. Anh ta không thể sinh ra một cách ngẫu nhiên hoặc phát triển một cách tự nhiên theo ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Người số bốn hoàn toàn khác với người số một, hai, và ba vì anh ta có trọng tâm vĩnh viễn. Tức là anh ấy biết mình sống để làm gì và tất cả việc làm của anh ấy đều phục vụ mục tiêu đó. Hơn nữa là các trung tâm xử lý của anh ấy được cân bằng.

(Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ – Chương 4)

“Hai trạng thái thông thường và thấp nhất của tâm thức, đầu tiên là ngủ, nói cách khác là một trạng thái thụ động mà con người dành ra một phần ba và thậm chí là một nửa đời mình trong nó. Và thứ hai, trạng thái mà trong đó con người dành phần còn lại của cuộc đời, trong đó họ đi bộ trên đường phố, viết sách, nói chuyện về những vấn đề cao siêu, tham gia vào chính trị, chém giết lẫn nhau, đây là những thứ mà họ coi là chủ động và gọi là ‘tâm thức rõ ràng’ hay ‘trạng thái tỉnh táo của tâm thức’. Thuật ngữ ‘tâm thức rõ ràng’ hay ‘trạng thái tỉnh táo của tâm thức’ dường như được đưa ra như một lời châm biếm, nhất là khi bạn nhận thức được tâm thức trên thực tế là gì và trạng thái mà con người sống và hành động thực sự là gì.

“Trạng thái thứ ba của tâm thức là nhớ về bản thân hay ý thức về bản thân hay ý thức về Bản thể của mình. Người ta thường cho rằng mình có trạng thái tâm thức này hoặc rằng họ có thể có nó nếu muốn. Khoa học và triết học của loài người đã phớt lờ thực tế rằng, chúng ta không có trạng thái tâm thức này, và rằng chúng ta không thể tạo ra nó chỉ bằng mong muốn hay quyết định.

“Trạng thái thứ tư của tâm thức được gọi là trạng thái khách quan của tâm thức. Trong trạng thái này, con người có thể nhìn thấy bản chất của sự vật. Trải nghiệm thoáng qua đối với trạng thái tâm thức này cũng xảy ra với con người. Các tôn giáo của tất cả các quốc gia có nhắc tới khả năng về loại trạng thái tâm thức này, thường được gọi là ‘sự khai sáng’ hay nhiều tên gọi khác nhưng không thể mô tả bằng lời. Nhưng con đường đúng đắn duy nhất để đi tới tâm thức khách quan là thông qua sự phát triển của ý thức về bản thân. Nếu một người bình thường được tác động để đưa vào trạng thái tâm thức khách quan rồi sau đó được đưa trở lại trạng thái bình thường, anh ta sẽ không nhớ gì và sẽ nghĩ rằng trong một khoảng thời gian anh ta đã mất ý thức. Nhưng trong trạng thái ý thức về bản thân, một người có thể có trải nghiệm thoáng qua về tâm thức khách quan và nhớ được trải nghiệm này.

“Trạng thái tâm thức thứ tư ở con người đồng nghĩa với một trạng thái tồn tại hoàn toàn khác; nó là kết quả của sự phát triển nội tâm và sự rèn luyện cá nhân một cách lâu dài và khó nhọc.

“Nhưng trạng thái thứ ba của tâm thức là quyền tự nhiên vốn có của con người, và nếu một người không có nó, thì chỉ có thể là do những điều kiện sai trái trong cuộc sống anh ta. Cũng không quá khi nói rằng, vào thời điểm hiện tại, trạng thái thứ ba của tâm thức chỉ xảy ra với con người dưới hình thức những trải nghiệm thoáng qua hiếm hoi, và rằng, trạng thái này chỉ có thể trở nên vĩnh viễn trong một người thông qua những rèn luyện đặc biệt.

“Với đa số, kể cả những người có học và tư duy, cản trở lớn nhất đối với việc phát triển ý thức về bản thân chính là việc họ nghĩ rằng họ đã có nó rồi. Tức là, họ lầm tưởng rằng họ đang có ý thức về bản thân và tất cả những gì liên quan đến ý thức đó.  Họ tin rằng họ là đơn vị tâm lý; mội cái tôi vĩnh viễn và bất biến.  Họ tin rằng họ có ý chí và khả năng hành động, v.v. Rõ ràng, một người sẽ không hề hứng thú nếu bạn nói với anh ta rằng, anh ta phải nỗ lực lâu dài và khổ nhọc để đạt được một thứ mà anh ta cho rằng mình đã sẵn có. Trái lại, anh ta sẽ nghĩ rằng bạn bị điên, hoặc là bạn muốn lừa gạt anh ta nhằm trục lợi cá nhân.

“Hai trạng thái cao hơn của tâm thức – ý thức về bản thân’ và ‘ý thức khách quan’ – liên kết với chức năng của hai trung tâm xử lý cao nhất của con người.

“Bên cạnh những trung tâm mà ta đã nói đến, còn có hai trung tâm khác của con người, ‘cảm xúc cao cấp và ‘lý trí cao cấp’. Những trung tâm này tồn tại trong chúng ta; chúng được phát triển đầy đủ và luôn vận hành, nhưng hoạt động của chúng không chạm được tới ý thức thông thường của chúng ta. Nguyên nhân của nó nằm ở những đặc tính của cái gọi là ‘tâm thức rõ ràng’ của chúng ta.

“Để hiểu được sự khác biệt giữa các trạng thái khác nhau của tâm thức, chúng ta hãy cùng trở lại với trạng thái thứ nhất của tâm thức: trạng thái ngủ. Đây là trạng thái hoàn toàn chủ quan của tâm thức. Một người luôn chìm đắm trong những giấc mơ, không quan trọng là anh ta có nhớ hay không. Kể cả khi một vài ấn tượng thật chạm được đến anh ta, như âm thanh, giọng nói, hơi ấm, cái lạnh, cảm giác trên chính cơ thể mình, thì chúng cũng chỉ khơi dậy trong anh ta những hình ảnh tưởng tưởng chủ quan mà thôi. Rồi người này tỉnh giấc. Mới nhìn thì đây quả là một trạng thái tâm thức hoàn toàn khác. Anh ta có thể cử động, anh ta có thể nói chuyện với người khác, anh ta có thể tính toán, anh ta có thể thấy mối hiểm nguy và tránh được nó, v.v. Nên có vẻ như là anh ta đang ở một vị thế tốt hơn so với khi đang ngủ. Nhưng nếu nhìn vấn đề một cách sâu xa hơn, nếu ta nhìn vào thế giới bên trong của anh ta, nhìn vào những suy nghĩ của anh ta, vào những tác nhân dẫn tới hành động của anh ta, chúng ta sẽ thấy rằng, anh ta gần như ở cùng một trạng thái giống như khi đang ngủ. Và nó còn tệ hơn, bởi trong giấc ngủ anh ta thụ động, tức là, anh ta không thể làm gì. Tuy nhiên, khi ở trạng thái tỉnh táo, anh ta luôn có thể làm điều gì đó và kết quả của mọi hành động của anh ta sẽ được phản ánh lên chính anh ấy hoặc những người xung quanh. Tuy vậy nhưng anh ta vẫn không nhớ được bản thân mình. Anh ta là một cỗ máy, mọi thứ cứ thế xảy ra với anh ấy. Anh ta không thể ngăn được dòng suy nghĩ của bản thân, anh ta không thể kiểm soát trí tưởng tượng, cảm xúc, sự chú tâm của mình. Anh ấy sống trong một thế giới chủ quan của những ‘tôi yêu’, ‘tôi không yêu’, ‘tôi thích’, ‘tôi không thích’, ‘tôi muốn’, ‘tôi không muốn’, tức là, một thế giới của những thứ anh ta nghĩ rằng mình thích, của những thứ anh ta nghĩ rằng mình không thích, của thứ anh ta nghĩ rằng mình muốn, của thứ anh ta nghĩ rằng mình không muốn. Anh ấy không thấy được thế giới thực. Thế giới thực bị che khuất khỏi anh ta bởi một bức tường của trí tưởng tượng. Anh ta sống trong giấc ngủ. Anh ta đang ngủ. Cái được gọi là ‘tâm thức rõ ràng’ là một giấc ngủ và là loại giấc ngủ nguy hiểm hơn nhiều so với giấc ngủ trên giường vào ban đêm.

“Chúng ta hãy cùng xem xét một số sự kiện trong đời sống của con người. Ví dụ như chiến tranh. Vào ngay lúc này, có một cuộc chiến đang diễn ra. Nó biểu hiện cho điều gì? Nó cho thấy rằng, hàng triệu người ngủ mê đang tìm cách hủy hoại hàng triệu người đang ngủ mê khác. Dĩ nhiên, họ sẽ không làm điều này nếu họ tỉnh giấc. Mọi thứ diễn ra đều là do việc ngủ mê này.

“Cả hai trạng thái của tâm thức, trạng thái tỉnh và ngủ, đều mang tính chủ quan như nhau. Một người chỉ thực sự tỉnh giấc khi bắt đầu nhớ đến bản thân mình. Và sau khi tỉnh giấc thì anh ta thấy một khía cạnh khác, một ý nghĩa khác trong toàn bộ cuộc sống xung quanh. Anh ta thấy được rằng, đó là cuộc sống của những người đang ngủ, một cuộc sống trong giấc ngủ. Tất cả những gì con người nói, tất cả những gì họ làm, họ nói và làm là trong giấc ngủ. Tất cả những điều này không có bất kỳ giá trị gì. Chỉ có sự thức tỉnh và những điều dẫn đến sự thức tỉnh mới có giá trị trên thực tế.

“Đã bao nhiêu lần tôi được hỏi ở đây rằng, liệu có thể ngăn được chiến tranh không? Chắc chắn là được. Bởi chỉ cần mọi người thức tỉnh. Nó dường như là một việc nhỏ. Tuy nhiên, nó lại là điều khó khăn nhất, bởi giấc ngủ này được tạo ra và duy trì bởi toàn bộ sự sống xung quanh, bởi toàn bộ các điều kiện xung quanh.

“Làm gì để một người có thể tỉnh giấc? Làm sao để thoát ra khỏi giấc ngủ này? Những câu hỏi này là quan trọng nhất, thiết thực nhất mà con người phải đối mặt. Nhưng trước tiên, cần phải thực sự tin vào sự thực về giấc ngủ này. Chúng ta chỉ có thể thực chứng điều này bằng cách cố gắng tỉnh giấc. Khi một người hiểu được rằng anh ta không nhớ về bản thân mình, và rằng, để nhớ được bản thân thì sẽ phải thức tỉnh ở một mức độ nào đó, và đồng thời bằng trải nghiệm anh ta có thể thấy  rằng việc nhớ được bản thân khó khăn đến thế nào, anh ta sẽ hiểu được rằng không thể thức tỉnh chỉ đơn giản bằng cách có mong muốn thức tỉnh. Có thể nói một cách chính xác hơn rằng, một người không thể tự mình thức tỉnh. Nhưng, chẳng hạn, nếu hai mươi người nhất trí với nhau rằng bất cứ ai trong số họ thức tỉnh trước sẽ đánh thức những người còn lại, thì họ đã có chút cơ hội rồi. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng không đủ, vì toàn bộ hai mươi người có thể đi ngủ vào cùng một lúc và mơ rằng mình đang thức tỉnh. Vì vậy, vẫn cần nhiều hơn thế. Họ cần phải được chăm nom bởi một người không ngủ hay không ngủ quên một cách dễ dàng như họ, hoặc đi ngủ một cách có ý thức khi có thể, khi nó không gây hại tới anh ta hay người khác. Họ phải tìm được một người như vậy và thuê anh ta đánh thức họ, không để cho họ chìm lại vào giấc ngủ. Nếu không, sẽ không thể thức tỉnh. Đây là điều cần phải hiểu.

“Người ta có thể suy nghĩ trong hàng nghìn năm; có thể viết lên các kho tàng sách, tạo ra hàng triệu giả thuyết và làm tất cả điều đó trong giấc ngủ, không hề có một chút tỉnh thức. Trái lại, những cuốn sách và giả thuyết này, khi được viết và tạo ra trong giấc ngủ, sẽ chỉ đưa người khác chìm vào giấc ngủ, và cứ thế.

“Không có gì mới trong ý tưởng về giấc ngủ. Gần như ngay từ khi thế giới được tạo ra, người ta đã được dạy rằng mình đang ngủ và cần phải thức tỉnh. Ví dụ, đã bao nhiêu lần điều này được nêu trong các cuốn Phúc âm? ‘Hãy thức tỉnh’, ‘quan sát’, ‘đừng ngủ’. Các môn đồ của Chúa Giê-su thậm chí còn ngủ khi ông đang cầu nguyện lần cuối ở Vườn Gethsemane. Tất cả đều ở đó. Nhưng liệu con người có hiểu? Con người hiểu nó đơn giản là một cách nói, một cách biểu đạt, như một phép ẩn dụ. Họ hoàn toàn không hiểu được rằng cần phải hiểu theo nghĩa đen. Và một lần nữa, không khó để hiểu vì sao. Để có thể hiểu được theo nghĩa đen thì cần phải thức tỉnh một chút, hoặc ít nhất là cố để tỉnh giấc. Tôi nói với các bạn một cách nghiêm túc rằng, tôi đã đôi khi được hỏi vì sao các cuốn Phúc âm không nhắc gì tới giấc ngủ. Mặc dù nó được nhắc tới trong hầu hết các trang sách. Điều này đơn giản cho thấy rằng, người ta đã đọc các cuốn Phúc âm trong giấc ngủ. Chừng nào con người còn ngủ một cách thực sự và hoàn toàn đắm chìm trong các cơn mơ, anh ta thậm chí sẽ không nghĩ về thực tế là mình đang ngủ. Nếu nghĩ rằng mình đang ngủ, anh ta sẽ thức tỉnh. Vì vậy, mọi thứ vẫn tiếp diễn. Và con người không hề có một chút khái niệm nào về những gì họ đang mất do đang ngủ. Như tôi đã nói, do anh ta được tổ chức, tức là, tồn tại theo cách mà tự nhiên đã tạo ra mình, con người có thể trở thành một loài có ý thức về bản thân. Con người được tạo ra như vậy và sinh ra như vậy. Nhưng anh ta được sinh ra giữa những người đang ngủ, và, tất nhiên, anh ta chìm vào giấc ngủ cùng với họ ngay vào lúc anh ta lẽ ra phải bắt đầu có ý thức về bản thân. Mọi thứ đều là tác nhân của điều này: đứa trẻ bắt chước người lớn một cách vô tình, người lớn gợi ý cố tình và vô tình, và cái gọi là ‘giáo dục’. Mọi ý định của đứa trẻ để có thể thức tỉnh đã bị ngăn chặn ngay lập tức. Điều này là không thể tránh khỏi. Và cần rất nhiều nỗ lực, rất nhiều sự trợ giúp để có thể sau đó thức tỉnh khi hàng nghìn các thói quen gây ngủ đã được tích tụ. Và điều này hiếm khi xảy ra. Đa phần, một người khi còn là một đứa trẻ đã đánh mất khả năng thức tỉnh; anh ta sống trong giấc ngủ cả cuộc đời mình và chết đi trong giấc ngủ. Hơn nữa, nhiều người đã chết từ lâu trước khi cơ thể của họ chết. Nhưng với những trường hợp đó, chúng ta sẽ bàn tới sau.

“Bây giờ hãy chú ý tới điều tôi đã chỉ ra từ trước. Một người trưởng thành, mà tôi gọi là ‘con người theo nghĩa đầy đủ’, cần đạt được bốn trạng thái tâm thức. Người bình thường, tức là người số một, số hai và số ba, chỉ sống trong hai trạng thái tâm thức. Anh ta biết, chí ít là có thể biết, về sự tồn tại của trạng thái tâm thức thứ tư. Tất cả những ‘trạng thái huyền bí’ này đều là những định nghĩa sai lầm, nhưng khi không phải là sự lừa gạt hay bắt chước thì chúng là những trải nghiệm thoáng qua về cái mà ta có thể gọi là trạng thái khách quan của tâm thức.

“Nhưng con người không biết về trạng thái thứ ba của tâm thức, hay thậm chí là ngờ vực về nó. Anh ta cũng không thể ngờ được vì nếu bạn giải thích cho anh ta trạng thái thứ ba của tâm thức là gì, tức là nó bao gồm cái gì, thì anh ta sẽ nói rằng đó là trạng thái bình thường của anh ta. Anh ta tự coi mình là có ý thức vì tin rằng anh ta có thể điều khiển cuộc sống của chính mình. Những thực tế trái với điều đó thì anh ta coi là ngẫu nhiên hay tạm thời và sẽ tự nó thay đổi. Khi cho rằng anh ta có được ý thức về bản thân theo một cách tự nhiên thì con người chắc chắn sẽ không tìm cách tiếp cận hay sở hữu nó. Tuy vậy, nếu không có ý thức về bản thân, hay còn gọi là trạng thái thứ ba, thì sẽ không thể nào đạt được trạng thái thứ tư ngoại trừ những trải nghiệm thoáng qua hiếm hoi. Tuy vậy, kiến thức, kiến thức khách quan thật sự mà con người đang cố gắng đạt được, như anh ta đã quả quyết, chỉ có thể có được trong trạng thái thứ tư của tâm thức. Có nghĩa là điều kiện để đạt được kiến thức này chính là việc sở hữu hoàn toàn trạng thái thứ tư của tâm thức. Kiến thức có được trong trạng thái bình thường của tâm thức bị đan xen với những giấc mơ. Vậy là bạn đã có bức tranh toàn cảnh về bản chất của người số một, hai và ba.”

G. bắt đầu buổi thuyết trình tiếp theo như sau:

“Khả năng của con người là vô cùng lớn. Thậm chí bạn không tưởng tượng được cái bóng của những khả năng trong con người. Nhưng sẽ chẳng thể đạt được điều gì trong giấc ngủ. Trong tâm thức của một người đang ngủ, những ảo giác và ‘giấc mơ’ của anh ta xen lẫn với thực tại. Anh ta sống trong một thế giới chủ quan và không bao giờ có thể thoát khỏi nó. Và đây là lý do vì sao anh ta không bao giờ có thể tận dụng được tất cả sức mạnh mà mình có và lý do vì sao anh ta luôn chỉ sống với một phần nhỏ của bản thân.

“Đã từng có người nói rằng việc nghiên cứu bản thân và quan sát bản thân, nếu thực hiện đúng, sẽ giúp con người đi đến nhận thức về thực tế rằng có gì đó không ổn với cỗ máy của anh ta và với những chức năng của anh ta trong trạng thái thông thường. Một người nhận ra rằng chính vì anh ta đang ngủ nên anh ta sống và làm việc trong một phần nhỏ của bản thân. Chính vì lý do này nên đa số các khả năng của anh ta đều không được nhìn rõ, phần lớn sức mạnh của anh ta đều không được dùng đến. Người này cảm thấy rằng, anh ta không nhận được từ cuộc sống đầy đủ tất cả những gì nó có thể mang lại cho mình, rằng nguyên nhân là do vô số những trục trặc về chức năng trong cỗ máy của anh ta, trong bộ máy tiếp nhận của anh ta. Ý tưởng về sự nghiên cứu bản thân trong con mắt anh ta có một ý nghĩa mới. Anh ta cảm thấy rằng, có thể không đáng để nghiên cứu bản thân trong trạng thái hiện tại. Anh ta nhìn nhận mỗi chức năng như nó là trong thời điểm hiện tại và như nó có thể hoặc phải là. Việc quan sát bản thân sẽ đưa con người đến với nhận thức về sự cần thiết phải thay đổi bản thân. Và với việc quan sát bản thân, con người sẽ nhận ra rằng, việc quan sát bản thân cũng chính là công cụ để thay đổi bản thân, một phương thức để thức tỉnh. Bằng cách quan sát bản thân, anh ta chiếu được một tia sáng vào các tiến trình nội tại mà cho đến nay vẫn vận hành hoàn toàn trong bóng tối. Và dưới tác động của ánh sáng này, bản thân các tiến trình cũng bắt đầu thay đổi. Có nhiều phản ứng hóa học chỉ có thể xảy ra khi không có ánh sáng. Cũng như thế, nhiều tiến trình tâm lý cũng chỉ có thể diễn ra trong bóng tối. Thậm chí, chỉ cần một tia sáng yếu ớt của ý thức cũng đủ để thay đổi hoàn toàn bản chất của một tiến trình, đồng thời làm cho nhiều tiến trình khác trở nên bất khả thi. Những tiến trình tâm lý nội tại của chúng ta (hay thuật luyện kim đan nội tại) có nhiều điểm chung với những phản ứng hóa học mà trong đó ánh sáng làm thay đổi bản chất của phản ứng, và chúng chịu sự điều chỉnh của các luật tương tự.

“Khi một người nhận ra sự cần thiết không chỉ của việc nghiên cứu bản thân, quan sát bản thân mà còn sự cần thiết cải thiện, thay đổi bản thân, thì bản chất của việc quan sát bản thân của anh ta cũng phải thay đổi. Cho đến nay, anh ta mới chỉ nghiên cứu các chi tiết về sự vận hành của các trung tâm, cố gắng chỉ để hiểu được hiện tượng này, hiện tượng kia, để trở thành một nhân chứng vô tư. Anh ta đã nghiên cứu sự vận hành của cỗ máy. Giờ đây, anh ta cần phải nhìn được bản thân mình, tức là, phải nhìn, không phải những chi tiết riêng biệt, không phải là sự vận hành của những bánh răng và đòn bẩy nhỏ mà là nhìn tất cả một cách tổng thể – toàn bộ anh ta như người khác nhìn thấy.

“Vì mục đích này, người đó cần phải học cách ‘chụp hình bằng tâm trí’ bản thân mình vào những thời điểm khác nhau trong cuộc sống, trong những trạng thái cảm xúc khác nhau: và không phải những bức ảnh về chi tiết, mà là ảnh về toàn bộ như anh ta nhìn thấy. Nói cách khác, những bức ảnh này phải chứa đựng đồng thời tất cả những gì người này thấy được về bản thân mình trong một thời điểm nhất định. Cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ, cảm giác, tư thế, cử động, giọng điệu, nét mặt, v.v. Nếu một người thành công trong việc nắm bắt những khoảnh khắc đáng chú ý trong những bức ảnh đó thì anh ta sẽ sớm thu thập được cả một cuốn album ảnh về bản thân mình và khi nhìn một cách tổng thể nó sẽ cho anh ta thấy được bản chất của anh ta một cách khá rõ ràng. Nhưng không dễ gì để học cách chụp những bức ảnh vào những thời điểm đáng chú ý nhất, vào những thời điểm thế hiện đặc tính của anh ta bằng cách rõ nhất, để bắt được những tư thế, nét mặt, cảm xúc, và suy nghĩ mang tính bản sắc nhất. Nếu thành công trong việc chụp những bức ảnh đó, và nếu số ảnh đủ nhiều, con người sẽ thấy được rằng khái niệm vốn có của anh ta về bản thân, khái niệm anh ta có từ năm này đến năm khác là khác xa với thực tế.

“Thay vì là con người như anh ta vẫn nghĩ, anh ta sẽ thấy một con người hoàn toàn khác. Con người ‘khác’ này là bản thân anh ta, cũng đồng thời không phải là anh ta. Đó chính là anh ta theo cách người khác nhìn nhận, như anh ta hình dung bản thân mình, và như anh ta hiện lên trong những hành động, lời nói, v.v; nhưng gộp chung lại thì không hẳn như bản chất của anh ta. Vì bản thân người đó biết rằng, có nhiều điều là không thật, được tạo ra, và dựng lên trong con người khác này mà người ngoài biết và chính bản thân anh ta biết. Bạn cần phải học cách chia tách cái thật với cái được tạo ra. Và để bắt đầu quan sát bản thân và nghiên cứu bản thân, sẽ cần phải chia tách bản thân. Một người cần nhận thức rằng anh ta thực sự bao gồm hai con người.

“Thứ nhất là một người mà anh ta gọi là “tôi”, và người khác gọi là ‘Ouspensky’, ‘Zakharov’ hay ‘Petrov’. Người thứ hai là anh ta thật, cái tôi thật, nó chỉ xuất hiện trong cuộc sống của anh ta trong những khoảnh khắc rất ngắn ngủi và chỉ có thể trở nên chắc chắn và vĩnh viễn sau một khoảng thời gian nỗ lực rất dài.

“Chừng nào con người còn tự coi mình là một cá nhân nhất thể thì anh ta sẽ không bao giờ rời được khỏi vị trí hiện tại. Việc rèn luyện bản thân mình bắt đầu từ thời điểm anh ta bắt đầu cảm thấy có hai con người bên trong mình. Một con người thụ động. Con người này chỉ có khả năng ghi nhớ hoặc quan sát những gì xảy ra với mình. Con người còn lại tự gọi mình là “tôi” thì chủ động và nói về bản thân bằng ngôi thứ nhất nhưng trên thực tế đó chỉ là ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’.

“Đây là nhận thức đầu tiên mà một người có thể có. Khi đã bắt đầu suy nghĩ được một cách đúng đắn, anh ta sẽ sớm thấy rằng mình hoàn toàn thuộc sự kiểm soát của con người ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’. Cho dù anh ta có dự định gì hay hay định nói hoặc làm gì, người thực hiện, làm hay nói sẽ không phải ‘anh ta’, không phải ‘tôi’, mà là con người ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’ của anh ta, và tất nhiên chúng sẽ làm không theo cách mà ‘tôi’ sẽ làm hay nói nhưng theo cách riêng của chúng với sắc thái ý nghĩa riêng của chúng, và thường thì sắc thái ý nghĩa này sẽ thay đổi hoàn toàn điều mà ‘tôi’ muốn làm.

“Từ góc nhìn này, ngay từ thời điểm đầu tiên của việc quan sát bản thân đã nảy sinh một mối nguy hiểm rất rõ ràng. ‘Tôi’ chính là người bắt đầu quan sát bản thân mình, nhưng ngay lập tức việc này sẽ được tiếp nhận và tiếp tục bởi ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’. Nhưng ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’ ngay từ những bước đầu đã đưa những thay đổi nho nhỏ vào quá trình quan sát bản thân này, một sự thay đổi dường như không quan trọng, nhưng trên thực tế làm thay đổi nền tảng của toàn bộ quá trình.

“Giả sử, ví dụ một người tên là Ivanov nghe được mô tả về phương pháp tự quan sát bản thân này. Anh ta được dạy rằng một người cần phải chia tách bản thân với một bên là ‘anh ta’ hay ‘tôi’ còn bên kia là ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’. Và anh ta chia tách bản thân theo đúng nghĩa đen của những gì mình được nghe. ‘Đây là tôi’, anh ta nói, ‘còn kia là ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’. Anh ta sẽ không bao giờ nói ‘Ivanov’. Anh ta cảm thấy như vậy không thoải mái, vì vậy không tránh được việc anh ta sử dụng họ hoặc tên của người khác. Hơn nữa, anh ta dùng ‘tôi’ để gọi những thứ anh ta thích ở bản thân mình hoặc những gì anh ta coi là thế mạnh, trong khi đó anh ta dùng ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’ để gọi những thứ anh ta không thích hay coi là điểm yếu. Trên cơ sở đó, anh ta bắt đầu lý luận theo nhiều cách về bản thân, đương nhiên là theo một cách sai lầm ngay từ đầu, do anh ta vốn đã lừa gạt bản thân đối với điểm quan trọng nhất và đã không sử dụng con người thật của mình, tức là anh ta không sử dụng Ivanov, mà là ‘Ouspensky’, ‘Petrov’ hay ‘Zakharov’ trong trí tưởng tượng.

“Chúng ta không thể tưởng tượng con người cảm thấy khó chịu như thế nào khi phải sử dụng tên của chính mình để nói về bản thân ở ngôi thứ ba. Anh ta cố tránh né nó bằng mọi cách có thể. Anh ta tự gọi mình bằng cái tên khác, giống như ví dụ vừa được nêu; anh ta sáng tạo ra một cái tên tự tạo cho mình, một cái tên mà chưa một ai và sẽ không một ai dùng để gọi anh ta, hoặc anh ta đơn giản tự gọi mình là ‘anh ta’, và cứ thế. Liên quan đến việc này, những người đã quen với việc tự gọi mình bằng tên hay bằng họ hay bằng tên gọi ở nhà trong các cuộc hội thoại trong tâm trí đều không phải là ngoại lệ. Khi nói tới việc quan sát bản thân, họ chọn cách tự gọi mình là ‘Ouspensky’ hay nói là ‘Ouspensky trong tôi’, như thể có thể tồn tại một ‘Ouspensky’ trong họ. Đã có khá đủ ‘Ouspensky’ cho chính Ouspensky rồi.

“Nhưng khi một người hiểu được sự bất lực của mình khi đứng trước ‘Oupensky’, thái độ của anh ta đối với bản thân và đối với ‘Ouspensky’ trong mình sẽ không còn là vô tâm hay hờ hững.

“Sự quan sát bản thân trở thành sự quan sát về ‘Ouspensky’. Người này hiểu rằng anh ta không phải là ‘Ouspensky’, rằng ‘Ouspensky’ không phải là gì ngoài tấm mặt nạ mà anh ta đeo, vai diễn mà anh ta thủ vai một cách vô thức và đáng tiếc là không thể ngừng diễn, một vai diễn thống trị anh ta và khiến anh ta nói và làm hàng nghìn điều ngu ngốc, hàng nghìn điều mà bản thân anh ta không bao giờ làm hay nói.

“Nếu anh ta thành thật với bản thân, anh ta sẽ thấy mình khuất phục trước quyền lực của ‘Ouspensky’ và đồng thời anh ta cảm thấy rằng, mình không phải là ‘Ouspensky’.

“Anh ta bắt đầu cảm thấy sợ hãi trước ‘Ouspensky’, bắt đầu cảm thấy rằng mình là ‘kẻ thù’ của anh ta. Cho dù anh ta có ý muốn làm gì, tất cả sẽ bị tiếp nhận và thay đổi bởi ‘Ouspensky’. ‘Ouspensky’ là ‘kẻ thù’ của anh ta’. Những mong muốn, sở thích, sự đồng cảm, ác cảm, ý nghĩ, ý kiến của ‘Ouspensky’ hoặc là sẽ trái với quan điểm, cảm giác và tâm trạng của chính anh ta, hoặc không hề có điểm chung với chúng. Cùng lúc, ‘Ouspensky’ là ông chủ của anh ta và anh ta là nô lệ. Anh ta không có ý chí. Anh ta không có cách nào để thể hiện những mong muốn của mình bởi tất cả những gì anh ta định làm hay nói đều sẽ do ‘Ouspensky’ thay mặt anh ta làm.

“Ở mức độ quan sát bản thân này, một người cần hiểu rằng, toàn bộ mục tiêu của anh ta là giải thoát chính mình khỏi ‘Ouspensky’. Và do trên thực tế anh ta không thể giải thoát chính mình khỏi ‘Ouspensky’, vì anh ta chính là bản thân mình, vì vậy anh ta cần phải làm chủ ‘Ouspensky’ và khiến ‘Ouspensky’  làm điều mà chính anh ta muốn làm, chứ không phải điều mà con người ‘Ouspensky’ trong thời điểm nhất định muốn làm. Từ chỗ là ông chủ, ‘Ouspensky’ cần phải trở thành kẻ nô bộc.

“Giai đoạn đầu của việc rèn luyện bản thân bao gồm việc tách bạch bản thân khỏi ‘Ouspensky’ trong tâm trí, tách bạch khỏi anh ta trong thực tế, và giữ khoảng cách với anh ta. Nhưng tâm trí cần xác định được thực tế là toàn bộ sự lo nghĩ cần phải tập trung vào ‘Ouspensky’, vì một người sẽ không thể lý giải được bản thân mình là gì. Nhưng anh ta có thể mô tả ‘Ouspensky’ với bản thân mình, và anh ta cần phải xuất phát từ điều này, cùng lúc cần nhớ rằng anh ta không phải là ‘Ouspensky’.

“Điều nguy hiểm nhất trong trường hợp này là dựa vào sự phán xét của chính bản thân. Nếu một người đủ may mắn, vào lúc này anh ta có thể có ai đó ở gần để nói cho anh ta biết mình ở đâu và ‘Ouspensky’ ở đâu. Nhưng hơn nữa anh ta cần phải tin tưởng người này, vì chắc chắn anh ta sẽ nghĩ rằng anh ta tự mình hiểu tất cả, và rằng anh ta biết anh ta ở đâu và ‘Ouspensky’ ở đâu. Và không chỉ trong mối liên hệ với bản thân, mà còn trong mối liên hệ với những người khác, anh ta sẽ nghĩ rằng mình biết và nhìn thấy những ‘Ouspensky’ của họ. Dĩ nhiên, tất cả những điều này là sự lừa dối bản thân. Ở giai đoạn này, một người không thể nhìn thấy gì, dù là trong mối liên hệ với bản thân hay với người khác. Anh ta càng tin tưởng rằng mình có thể, thì anh ta càng sai lầm. Nhưng nếu, chỉ cần anh ta có chút thành thật với bản thân và thực sự muốn biết sự thật, thì anh ta có thể tìm được một cơ sở chính xác và không thể sai để phán xét một cách đúng đắn về bản thân, và sau đó là những người khác. Nhưng cốt lõi là cần phải thành thật với bản thân. Và điều này không hề dễ dàng. Người ta không hiểu được rằng, cần phải học mới có được sự chân thành. Họ tưởng tượng rằng, việc thành thật hay không thành thật phụ thuộc vào mong muốn hay quyết định của họ. Nhưng làm sao mà một người có thể thành thật với bản thân trong khi trên thực thế anh ta thực sự không nhìn thấy những thứ đáng ra phải nhìn được ở bản thân mình? Ai đó phải chỉ ra cho anh ta. Và anh ta cần phải có một thái độ đúng đắn đối với người chỉ ra cho mình để giúp anh ta nhìn thấy những gì cần thấy. [Việc này sẽ hoàn toàn vô ích] nếu anh ta bắt đầu nghĩ rằng mình đã biết rõ hơn rồi.

“Đây là một khoảnh khắc rất quan trọng trong quá trình rèn luyện. Người nào bị lạc hướng trong thời điểm này sau đó sẽ không tài nào có thể tìm lại được nó. Cần nhớ rằng ở giai đoạn này một người không có phương thức để phân biệt giữa ‘tôi’ và ‘Ouspensky’ trong chính mình. Kể cả khi cố làm điều đó, anh ta sẽ lừa dối bản thân, hư cấu, và sẽ không bao giờ nhìn nhận được bản thân như anh ta đang là. Cần hiểu rằng, nếu không có sự trợ giúp từ bên ngoài, một người sẽ không bao giờ nhìn thấy được bản thân mình.

“Để hiểu được nguyên nhân của việc này, bạn cần phải ghi nhớ được rất nhiều điều đã được nói trước đây. Như tôi đã nói, việc quan sát bản thân khiến một người nhận thức được thực tế rằng anh ta không nhớ về bản thân mình. Việc con người không có khả năng nhớ bản thân là một trong những đặc tính chủ đạo và đặc biệt nhất, và là tác nhân của mọi thứ trong con người anh ta. Việc không nhớ bản thân thể hiện ở nhiều cách. Một người không nhớ những quyết định của mình, anh ta không nhớ những lời hứa đã đưa ra với bản thân, không nhớ mình đã nói gì hay cảm thấy thế nào một tháng, một tuần hay thậm chí là một tiếng trước. Anh ta bắt tay vào làm một việc gì đó vào sau một khoảng thời gian nhất định anh ta không còn nhớ vì sao mình lại bắt đầu. Điều này xảy ra đặc biệt thường xuyên trong việc rèn luyện bản thân. Một người chỉ có thể nhớ được lời hứa đã đưa ra với người khác với sự giúp đỡ của những mối liên hệ nhân tạo, những mối liên hệ đã được chỉ dạy cho anh ta, và chính chúng cũng được kết nối với những khái niệm nhân tạo về ‘danh dự’, ‘chân thành’, ‘nghĩa vụ’, v.v. Nhưng nói chung, có thể nói một cách thành thực rằng, nếu một người nhớ được một điều thì anh ta sẽ quên đi mười điều quan trọng và đáng để nhớ hơn. Và một người đặc biệt dễ quên những điều liên quan đến bản thân anh ta, những ‘bức ảnh trong tâm trí’ về bản thân mà có thể trước đó anh ta đã chụp. “Và điều này tước đi tính ổn định và chính xác trong quan điểm và ý kiến của anh ta. Một người không nhớ được mình đã nghĩ hay nói gì; và anh ta không nhớ mình đã nghĩ hay nói như thế nào.

“Điều này liên kết với một trong những đặc tính cơ bản của thái độ của con người đối với bản thân và những sự vật xung quanh. Cụ thể là sự đồng hóa thường xuyên của anh ta với điều mà một thời điểm nhất định thu hút sự quan tâm, suy nghĩ hay mong muốn và trí tưởng tượng của anh ta.

“‘Đồng hóa’ là một đặc tính phổ biến đến mức, vì mục đích quan sát, khó có thể phân biệt nó với những thứ khác. Con người luôn trong trạng thái đồng hóa, chỉ có đối tượng bị đồng hóa là thay đổi.

“Một người đồng hóa với một vấn đề nhỏ mà anh ta phải đối mặt, vậy là anh ta hoàn toàn quên đi mục tiêu cao cả khi bắt đầu làm việc. Anh ta đồng hóa với một ý nghĩ và quên đi những ý nghĩ khác; anh ta đồng hóa với một cảm xúc, một tâm trạng, và quên đi những ý nghĩ, cảm xúc, và tâm trạng khác ở quy mô rộng hơn. Khi rèn luyện bản thân, con người đồng hóa với những mục tiêu tách biệt, khiến họ không thể nhìn cây mà ra rừng. Vài ba chiếc cây gần với họ nhất với họ sẽ đại diện cho cả khu rừng.

“‘Đồng hóa’ là một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của chúng ta, vì nó thâm nhập khắp nơi và đánh lừa con người vào thời điểm mà anh ta thấy rằng mình đang gặp khó khăn với nó. Việc giải thoát bản thân khỏi sự đồng hóa đặc biệt khó khăn vì một người thường dễ dàng đồng hóa với những điều mà anh ta quan tâm nhất, điều mà anh ta dành thời gian, công sức và sự chú ý. Để có thể giải thoát bản thân khỏi sự đồng hóa, con người cần thường xuyên cảnh giác và không khoan nhượng với bản thân, tức là, anh ta không được sợ hãi phải nhìn tất cả những hình thức tinh tế và khó thấy của sự đồng hóa.

“Cần nhìn và nghiên cứu gốc rễ của sự đồng hóa trong bản thân. Khó khăn trong cuộc đấu tranh với sự đồng hóa còn trở nên trầm trọng hơn bởi thực tế là khi con người quan sát nó trong bản thân mình, họ coi đó là một tính tốt, gọi nó là sự ‘nhiệt tình’, ‘nhiệt huyết’, ‘đam mê’, ‘ngẫu hứng’, ‘cảm hứng’, và những cái tên khác tương tự, và họ cho rằng, chỉ có thể trong trạng thái đồng hóa họ mới tạo ra được sản phẩm tốt, cho dù là trong lĩnh vực nào. Trên thực tế dĩ nhiên đây là một ảo giác. Con người không thể làm gì một cách đúng đắn khi anh ta trong trạng thái đồng hóa. Nếu con người có thể thấy được ý nghĩa của trạng thái đồng hóa thì họ sẽ thay đổi suy nghĩ của mình. Một người trở thành sự vật, một mảnh xương thịt; anh ta mất hết những dấu nét của loài người mà mình có. Ở miền Đông nơi người ta hút thuốc hasit và các loại ma túy khác, điều thường xảy ra là một người đồng hóa với chiếc tẩu đến mức anh ta bắt đầu nghĩ rằng mình chính là chiếc tẩu đó. Đây không phải là một câu đùa mà là thực tế. Anh ta thực sự trở thành một chiếc tẩu. Đây là sự đồng hóa. Tuy nhiên, người ta không cần dùng thuốc hasit hay thuốc phiện để đồng hoá mình như thế. Hãy nhìn những người ở cửa hàng, rạp phim, nhà hàng; hay nhìn cách họ đồng hóa với ngôn từ khi họ tranh cãi về một điều gì hay cố gắng chứng minh điều gì đó, nhất là những điều mà chính họ không biết. Họ trở thành lòng tham, mong muốn, hay ngôn từ; không còn gì của bản thân họ còn sót lại.

“Đồng hóa là cản trở lớn nhất đối với việc nhớ bản thân. Một người đồng hóa với bất cứ thứ gì cũng sẽ không thể nhớ được bản thân. Để nhớ được bản thân, điều quan trọng trước tiên là không đồng hóa. Nhưng để có thể học được cách không đồng hóa, con người trước tiên cần không đồng hóa với bản thân, không được lúc nào cũng gọi bản thân là ‘tôi’. Anh ta cần nhớ rằng, có hai người trong mình, tức là ‘tôi’ ở trong anh ta, và còn một người khác mà anh ta cần đấu tranh, thống trị nếu anh ta muốn đạt được bất cứ điều gì. Vì vậy, chừng nào một người còn đồng hóa hay có thể bị đồng hóa, anh ta sẽ là đầy tớ của bất cứ thứ gì xảy ra với anh ta. Tự do trước tiên là tự do khỏi sự đồng hóa.

“Sau những hình thức khái quát về đồng hóa, chúng ta cần chú ý tới một hình thức đồng hóa đặc biệt, đó là sự đồng hóa với người khác dưới hình thức của việc lo nghĩ về họ.

“Có một số kiểu lo nghĩ khác nhau.

“Thông thường, một người đồng hóa với điều mà người khác nghĩ về mình, cách họ đối xử với mình, và thái độ họ thể hiện với mình. Anh ta luôn nghĩ rằng người khác không đủ coi trọng mình, không đủ lịch sự và khách sáo. Tất cả những điều này dằn vặt anh ta, khiến anh ta suy nghĩ và nghi ngờ và bỏ ra nhiều năng lượng cho việc suy đoán, giả định, xây dựng trong anh ta sự không tin tưởng và thái độ thù địch đối với người khác. Cách ai đó nhìn anh ta, điều ai đó nghĩ về anh ta, điều ai đó nói về anh ta – tất cả những điều này có ý nghĩa to lớn đối với anh ta.

“Và anh ta lo nghĩ không chỉ về những cá nhân tách biệt mà còn cả xã hội và những điều kiện lịch sử. Tất cả những gì làm phật lòng một người như vậy, với anh ta dường như có vẻ không công bằng, bất hợp pháp, sai trái và phi lý. Và xuất phát điểm cho sự phán xét của anh ta luôn là, những điều này có thể và cần phải thay đổi. ‘Bất công’ là một trong những từ ngữ ẩn chứa trong đó sự lo nghĩ. Khi một người tin rằng mình phẫn nộ với một sự bất công nào đó, thì với anh ta việc ngừng lo nghĩ sẽ đồng nghĩa với ‘cam chịu sự bất công’.

“Có những người có khả năng lo nghĩ không chỉ về sự bất công hay việc người khác không đủ coi trọng mình, mà còn có thể lo nghĩ về những thứ như thời tiết. Điều này có vẻ nực cười nhưng đó là thực tế. Con người có khả năng lo nghĩ về khí hậu, thời thiết nóng, lạnh, tuyết, mưa; họ có thể khó chịu vì thời tiết, bất bình và tức giận với nó. Một người có thể cá nhân hóa vấn đề như thể mọi thứ trên thế giới đã được sắp đặt một cách cụ thể để mang lại niềm vui hay trái lại khiến anh ta cảm thấy bất tiện hay không thoải mái.

“Tất cả những điều này và những thứ khác chẳng qua chỉ là một hình thức đồng hóa. Cách lo nghĩ như vậy hoàn toàn dựa trên ‘điều kiện’. Một người ‘yêu cầu’ trong tâm rằng mọi người cần nhìn thấy anh ta là một người đặc biệt đến thế nào, và họ cần thường xuyên thể hiện sự tôn trọng, kính mến, và khâm phục đối với anh ta, với trí thông minh, vẻ đẹp, sự khôn khéo, sự dí dỏm, sự tỉnh táo, sự độc đáo, và tất cả những đức tính khác của anh ta. Những điều kiện đó dựa hoàn toàn trên ý nghĩ ảo tưởng về bản thân và thường xảy ra ở những người có bề ngoài khiêm tốn nhất. Nhiều tác giả, diễn viên, nhạc sỹ, nghệ sĩ và chính khách chẳng hạn, hầu hết đều là những người bệnh. Và họ đang phải chịu căn bệnh gì? Trước hết là từ quan điểm phi thường về bản thân, và tiếp đến là những điều kiện, rồi sự lo nghĩ, tức là luôn sẵn sàng và chuẩn bị trước để tức giận trước sự thiếu hiểu biết và thiếu coi trọng.

“Còn một hình thức khác của sự lo nghĩ mà có thể làm con người hao tổn khá nhiều năng lượng. Hình thức này bắt đầu bằng việc một người bắt đầu nghĩ rằng anh ta lo nghĩ về người khác chưa đủ, rằng người kia sẽ phật ý với mình vì lo nghĩ chưa đủ. Và anh ta bắt đầu tự mình nghĩ rằng, có lẽ anh ta không nghĩ đủ về người kia, không đủ quan tâm đến người kia, và không nhượng bộ đủ với người kia. Tất cả những điều này đơn giản là sự yếu đuối. Người ta sợ hãi lẫn nhau. Nhưng điều này có thể dẫn đi rất xa. Tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp như vậy. Theo cách này, một người có thể đánh mất sự cân bằng nếu như đã từng có nó, và bắt đầu thực hiện những hành động hoàn toàn vô nghĩa. Anh ta trở nên tức giận với bản thân và cảm thấy rằng điều đó thật ngu ngốc, và anh ta không thể dừng lại, trong khi với những trường hợp như vậy mấu chốt thực sự lại chính là ‘không lo nghĩ’.

“Cũng trong trường hợp đó, có thể là tệ hơn, khi một người cho rằng, theo ý kiến của mình, anh ta ‘cần phải’ làm một điều gì đó trong khi trên thực tế anh ta không nên làm điều đó. ‘Cần phải’ hay ‘không nên’ cũng là một chủ đề khó, tức là, khó để hiểu khi nào một người thực sự ‘cần phải’ và khi nào anh ta ‘không nên’. Việc này chỉ có thể tiếp cận từ góc nhìn của ‘mục tiêu’. Khi một người có mục tiêu, anh ta ‘cần phải’  làm chỉ những gì để dẫn mình tới mục tiêu đó và anh ta ‘không nên’ làm bất cứ điều gì cản trở mình khỏi việc hướng tới mục tiêu.

“Như tôi đã nói, người ta thường có suy nghĩ rằng, nếu mình phải bắt đầu đấu tranh với việc lo nghĩ hướng nội, thì nó sẽ khiến họ trở nên ‘không chân thành’ và họ sợ điều này vì họ cho rằng nếu làm vậy họ sẽ mất đi điều gì đó, mất đi một phần của chính mình. Trong trường hợp này, một điều tương tự diễn ra nhằm đấu tranh chống lại việc thể hiện ra bên ngoài những cảm xúc tiêu cực. Khác biệt duy nhất là, trong một trường hợp con người đấu tranh với việc thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, còn trường hợp còn lại họ đấu tranh với sự định hình ở bên trong của cùng những cảm xúc đó.

“Nỗi sợ về việc mất đi sự chân thành đó tất nhiên là sự lừa dối bản thân, một trong những công thức nói dối, là nền tảng của sự yếu đuối của con người. Con người không thể ngừng đồng hóa và lo nghĩ hướng nội và anh ta không thể ngừng thể hiện cảm xúc tiêu cực, đơn giản bởi anh ta yếu đuối. Đồng hóa, lo nghĩ, và việc thể hiện cảm xúc tiêu cực là biểu hiện của sự yếu đuối, bất lực, không có khả năng kiểm soát bản thân của anh ta. Nhưng vì từ chối thừa nhận yếu điểm này với bản thân, anh ta gọi đó là ‘chân thành’ hay ‘thành thật’ và tự nhủ rằng, anh ta không muốn chống lại sự chân thành, trong khi trên thực tế anh ta không thể đấu tranh chống lại điểm yếu của mình.

Rembrandt Harmensz. van Rijn The Return of the Prodigal Son Chương 8 - Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ - P. D. Ouspensky
“Ðứa Con Phóng Ðãng Trở Về” bởi Rembrandt, 1661-1669

“Sự chân thành và thành thật trên thực tế là điều hoàn toàn khác. Cái mà một người gọi là ‘chân thành’ trong trường hợp này trên thực tế đơn giản là việc không thể kìm lại bản thân. Và sâu thẳm bên trong, người đó ý thức được việc này. Nhưng anh ta tự lừa dối mình khi nói rằng, anh ta không muốn đánh mất sự chân thành.

“Đến nay tôi đã nói về sự lo nghĩ hướng nội. Sẽ còn có thể đưa ra được nhiều ví dụ nữa. Nhưng tự các bạn sẽ phải làm điều đó, tức là, bạn cần tìm kiếm những ví dụ này khi quan sát bản thân và những người khác.

“Trái ngược với sự lo nghĩ hướng nội và một phần là phương thức để đấu tranh chống lại nó là sự lo nghĩ hướng ngoại. Sự lo nghĩ hướng ngoại được dựa trên mối quan hệ với người khác, việc này hoàn toàn khác so với sự lo nghĩ hướng nội. Nó là sự thích nghi với người khác, với tư duy của họ, với những điều kiện của họ. Bằng cách lo nghĩ hướng ngoại, một người làm được việc để giúp cuộc sống của người khác và chính anh ta trở nên dễ dàng hơn. Sự lo nghĩ hướng ngoại đòi hỏi phải có kiến thức về con người, sự hiểu biết về khẩu vị, thói quen và định kiến của họ. Đồng thời, sự lo nghĩ hướng ngoại đòi hỏi phải có sức mạnh to lớn đối với bản thân và sự kiểm soát đối với bản thân. Thông thường, một người chân thành mong muốn được thể hiện hay làm cách nào đó để người khác thấy được điều họ thực sự nghĩ về anh ta hay cảm nhận về anh ta. Và nếu anh ta là một người yếu đuối thì tất nhiên sẽ khuất phục trước mong muốn này và sau đó biện minh cho mình và nói rằng anh ta không muốn nói dối, không muốn giả tạo, mà muốn chân thành. Sau đó anh ta tự thuyết phục bản thân rằng, đó là lỗi của người kia. Anh ta thực sự muốn lo nghĩ đến người đó, kể cả nhượng bộ người đó, không tranh cãi, v.v. Nhưng người kia không hề muốn lo nghĩ đến anh ta vì vậy không thể làm gì với người đó. Điều thường xảy ra là, một người bắt đầu với một phúc lành và kết cục với một lời nguyền. Anh ta bắt đầu quyết định không lo nghĩ và sau đó đổ lỗi cho người khác vì đã không lo nghĩ đến mình. Đây là ví dụ về cách sự lo nghĩ hướng ngoại chuyển thành lo nghĩ hướng nội. Nhưng nếu một người thực sự nhớ bản thân, anh ta sẽ hiểu rằng người kia cũng là một cỗ máy cũng giống như bản thân mình. Và rồi anh ta sẽ vào vị trí của người kia, anh ta đặt mình vào đúng chỗ, và anh ta sẽ bắt đầu hiểu và cảm nhận được những điều người kia suy nghĩ và cảm nhận. Nếu làm được điều này thì sự rèn luyện sẽ trở nên dễ dàng hơn đối với anh ta. Nhưng nếu anh ta tiếp cận một người bằng những yêu cầu của chính mình, thì sẽ không thể nhận được gì ngoài những sự lo nghĩ nội tại mới. “Sự lo nghĩ hướng ngoại đúng đắn là rất quan trọng trong sự rèn luyện. Thông thường, những người hiểu rõ sự cần thiết của sự lo nghĩ hướng ngoại trong cuộc sống lại không hiểu được sự cần thiết của sự lo nghĩ hướng ngoại trong công trình rèn luyện; họ quyết định rằng, chỉ vì họ đang rèn luyện nên họ có quyền không lo nghĩ. Trong khi trên thực tế, trong việc rèn luyện, tức là, để công trình rèn luyện của một người có thể thành công, cần phải lo nghĩ hướng ngoại gấp mười lần trong cuộc sống, bởi chỉ có sự lo nghĩ hướng ngoại của anh ta mới thể hiện được sự đánh giá của anh ta về sự rèn luyện và sự hiểu biết của anh ta về sự rèn luyện; và thành công trong sự rèn luyện luôn tỷ lệ thuận với sự đánh giá và hiểu biết về nó. Nên nhớ rằng, sự rèn luyện không thể bắt đầu và tiếp tục ở cấp độ thấp hơn so với obyvatel, tức là, cấp độ thấp hơn cuộc sống bình thường. Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng mà vì một lý do nào đó rất dễ bị quên lãng. Nhưng chúng ta sẽ bàn riêng về việc này sau.”

[2] Obyvatel (tiếng Nga) chỉ một người đang hoàn thiện nhiệm vụ của một công dân bình thường trong xã hội, ví dụ như là người có gia đình và công việc bình thường. Một obyvatel có thể là người giàu hay nghèo; có thể là người tu hành hay là không theo đạo. Tuy nhiên, những người như thầy tu, bậc yogi, Fakir, và những nghệ sĩ không theo lối sống của một công dân bình thường trong xã hội không được gọi là obyvatel. 

Tác giả nói rằng “Sự rèn luyện không thể bắt đầu ở cấp độ thấp hơn một obyvatel” vì những người không đủ kiên nhẫn để hoàn thiện nhiệm vụ của một công dân bình thường không thể bắt tay vào việc vĩ đại như là tu hành và khai ngộ. Có những người đã hoàn thiện tốt nhiệm vụ của một obyvatel trước, rồi xuất gia để tu hành. Bài viết này không có ý định phê phán những người như thế. Tuy nhiên, có những nhà sư quyết định xuất gia sau khi đã thất bại trong cuộc sống của một obyvatel. Thực ra thì cuộc sống của một obyvatel rất thích hợp để tu hành theo con đường thứ tư.

G. bắt đầu một bài thuyết trình sau đây với thực tế rằng chúng ta đã quên đi sự khó khăn trong vị thế của mình.

“Bạn thường suy nghĩ một cách rất ngây ngô”, ông nói. “Bạn vốn nghĩ rằng bạn có thể làm. Để có thể loại bỏ được niềm tin này với một người là điều khó khăn hơn bất cứ điều gì. Bạn không hiểu được tính phức tạp của tổ chức của bạn và bạn không nhận thức được rằng mọi nỗ lực, bên cạnh kết quả mong muốn, nếu nó mang lại điều đó, mang đến hàng nghìn các kết quả không lường trước và thường không mong đợi, và điều quan trọng nhất mà bạn quên là, bạn không bắt đầu với khởi điểm cùng một cỗ máy mới sạch sẽ. Đằng sau bạn là nhiều năm của một cuộc sống sai trái và ngu ngốc, của việc theo đuổi những sự yếu đuối, của việc quay lưng trước những sai lầm của bản thân, của việc cố gắng tránh né những sự thật bất tiện, của việc thường xuyên lừa dối bản thân, của sự tự biện minh, của việc đổ lỗi cho người khác, v.v. Tất cả những điều này chắc chắn sẽ tác động tới cỗ máy. Cỗ máy bị bẩn, một số phần bị gỉ, và một số phần hình thành nên bộ phận nhân tạo, sự cần thiết cho những gì đã được tạo nên do cách vận hành sai trái.

“Những bộ phận nhân tạo này giờ đây can thiệp nhiều vào tất cả những ý định tốt của bạn.

“’Chúng được gọi là ‘bộ đệm’.

“‘Bộ đệm’ là thuật ngữ đòi hỏi sự giải thích đặc biệt. Chúng ta đã biết bộ đệm trên toa tàu hỏa là gì. Chúng là đồ gá làm giảm thiểu lực sốc khi các toa tàu va đập vào nhau. Nếu không có bộ đệm thì lực sốc của một toa tàu va vào toa khác sẽ rất khó chịu và nguy hiểm. Bộ đệm giảm thiểu kết quả của những cú sốc này và khiến chúng trở nên không thể nhận biết và không thể cảm nhận.

“Chính những bộ phận đó có thể thấy bên trong con người. Chúng được tạo ra, không phải do tự nhiên, mà bởi chính con người, tuy là không cố ý. Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của chúng là do sự tồn tại của nhiều mâu thuẫn bên trong con người; mâu thuẫn về ý kiến, cảm xúc, sự thông cảm, lời nói, và hành động. Nếu một người trong suốt cuộc đời cảm nhận được tất cả sự mâu thuẫn bên trong mình thì anh ta không thể nào sống và hành động một cách bình tâm như anh ta đang sống và hành động lúc này. Anh ta sẽ thường xuyên giằng xé, thường xuyên lo âu. Chúng ta không thể thấy được những cái Tôi trong nhân cách của chúng ta mâu thuẫn và thù địch với nhau đến thế nào. Nếu một người cảm nhận được tất cả những mâu thuẫn đó thì anh ta đã cảm nhận được mình thực sự là gì. Anh ta sẽ cảm thấy rằng mình bị điên. Sẽ chẳng ai cảm thấy thoải mái khi cảm nhận rằng anh ta bị điên. Hơn nữa, ý nghĩ như vậy sẽ tước đi sự tự tin của con người, làm suy yếu năng lượng của anh ta, tước đi sự ‘tự trọng’ của anh ta. Bằng một cách nào đó, anh ta cần làm chủ được ý nghĩ của mình hoặc xua đuổi nó. Anh ta hoặc là phải phá bỏ những mâu thuẫn hoặc ngừng nhìn và cảm nhận chúng. Một người không thể phá bỏ những mâu thuẫn. Nhưng nếu những ‘bộ đệm’ được tạo ra trong anh ta thì anh ta có thể ngừng cảm nhận chúng và anh ta sẽ không cảm thấy tác động từ sự va chạm của các quan điểm trái chiều, những cảm xúc trái chiều, những lời nói trái chiều.

“‘Bộ đệm’ được tạo ra một cách từ từ và dần dần. Nhiều ‘bộ đệm’ được tạo ra bởi thông qua sự ‘giáo dục’. Những bộ đệm khác được tạo ra bởi tác động thôi miên của tất cả cuộc sống xung quanh. Một người được bao quanh bởi những người sống, nói, và cảm nhận bằng ‘bộ đệm’. Bắt chước họ trong những ý kiến, hành động, và lời nói, một người vô tình tạo ra những ‘bộ đệm’ tương tự trong mình. ‘Bộ đệm’ khiến cuộc sống của con người trở nên dễ dàng hơn. Rất khó để sống nếu không có ‘bộ đệm’. Nhưng chúng ngăn cản sự phát triển bên trong của con người vì ‘bộ đệm’ được tạo ra để giảm thiểu cú sốc và chỉ có những cú sốc mới có thể đưa con người ra khỏi trạng thái mà anh ta đang sống, tức là, giúp anh ta thức tỉnh. ‘Bộ đệm’ ru một người ngủ, mang đến cho anh ta cảm giác dễ chịu và yên bình rằng tất cả rồi sẽ ổn, rằng không tồn tại sự mâu thuẫn nào và rằng anh ta có thể ngủ yên. ‘Bộ đệm’ là những bộ phận mà thông qua đó con người luôn đúng đắn. ‘Bộ đệm’ giúp một người không cảm nhận lương tâm của mình.

“’Lương tâm’ cũng là một thuật ngữ cần phải giải thích.

“Trong cuộc sống thông thường, khái niệm ‘lương tâm’ được hiểu một cách quá đơn giản. Như thể chúng ta có lương tâm. Thực ra, khái niệm ‘lương tâm’ trong lĩnh vực cảm xúc cũng giống như khái niệm về ‘tâm thức’ trong lĩnh vực trí tuệ. Và do chúng ta không có tâm thức, nên chúng ta không có lương tâm.

“Tâm thức là trạng thái mà trong đó một người cùng lúc biết tất cả những gì mà anh ta biết một cách tổng thể, và trong đó anh ta thấy được mình kém hiểu biết đến thế nào và có những mâu thuẫn nào tồn tại trong những điều mà anh ta biết.

“Lương tâm là trạng thái trong đó một người cùng lúc cảm nhận được tất cả những gì mà anh ta cảm nhận được, hoặc có thể cảm nhận một cách tổng thể. Và mọi người đều có trong mình hàng nghìn cảm giác mâu thuẫn với nhau và dao động từ nhận thức sâu thẳm ẩn chứa bên trong về sự tầm thường và đủ loại nỗi sợ của mình, cho tới những loại ngu ngốc nhất của sự kiêu ngạo, tự tin, tự mãn, và tự tán dương, việc cùng lúc cảm nhận tất cả những điều này không chỉ đau đớn mà còn thực sự không thể chịu nổi.

“Nếu một người có toàn bộ thế giới bên trong là những mâu thuẫn lại bỗng dưng cùng lúc cảm nhận được tất cả những mâu thuẫn này trong mình, nếu anh ta cùng lúc cảm thấy yêu thương tất cả những gì anh ta căm ghét và căm ghét tất cả những gì anh ta yêu thương; rằng anh ta nói dối khi anh ta nói sự thật và rằng anh ta nói sự thật khi anh ta nói dối; và nếu anh ta có thể cảm nhận được nỗi hổ thẹn và sự ghê rợn của chúng, thì đây sẽ là trạng thái được gọi là ‘lương tâm’. Một người không thể sống trong trạng thái này; anh ta hoặc phải phá hủy những mâu thuẫn hoặc phá hủy lương tâm. Anh ta không thể phá hủy lương tâm, nhưng nếu anh ta không thể phá hủy nó thì có thể ru nó ngủ, tức là, anh ta có thể tách biệt những cảm xúc về bản thân bằng những rào cản kiên cố, không bao giờ nhìn thấy chúng cùng nhau, không bao giờ cảm nhận sự không tương thích của chúng, sự phi lý của việc tồn tại của một cảm xúc bên cạnh cảm xúc kia.

“Nhưng may mắn cho con người, tức là, cho sự yên bình và giấc ngủ của anh ta, trạng thái lương tâm này rất hiếm thấy. Từ thời thơ ấu, các ‘bộ đệm’ đã bắt đầu phát triển và gia cố bên trong anh ta, tước đi của anh ta khả năng nhìn thấy những mâu thuẫn bên trong, và vì thế, với anh ta không hề có mối nguy hiểm nào từ sự thức tỉnh đột ngột. Việc thức tỉnh chỉ có thể làm được với những người theo đuổi và muốn làm điều đó, với những người sẵn sàng đấu tranh với bản thân và rèn luyện bản thân trong thời gian dài và kiên định để đạt được nó. Để làm điều này, cần phải phá hủy những ‘bộ đệm’, tức là, cần đi và gặp tất cả những nỗi khổ bên trong có liên quan tới những cảm giác mâu thuẫn. Hơn nữa, bản thân việc phá hủy những ‘bộ đệm’ đòi hỏi quá trình lâu dài và một người cần chấp nhận công việc đó với nhận thức rằng kết quả của công việc của mình sẽ là tất cả những sự khó chịu và đau khổ có thể có từ việc thức tỉnh lương tâm.

“Nhưng lương tâm chính là ngọn lửa có khả năng châm ngòi cho toàn bộ thuốc súng trong bình trưng thủy tinh được nhắc đến trước đây và tạo ra sự gắn kết mà một người ở trong trạng thái bắt đầu nghiên cứu bản thân đang không có.

“Khái niệm ‘lương tâm’ hoàn toàn không có điểm chung với khái niệm ‘đạo đức’.

“Lương tâm là một hiện tượng khái quát và thường trực. Lương tâm giống nhau với mọi người và chỉ có thể có được lương tâm khi không có ‘bộ đệm’. Từ góc nhìn của việc hiểu biết nhiều hạng mục của con người, chúng ta có thể nói rằng, có tồn tại lương tâm của một người mà trong anh ta không hề có sự mâu thuẫn. Lương tâm này không phải sự đau khổ; trái lại, nó là niềm vui với bản chất hoàn toàn mới mà chúng ta không thể hiểu nổi. Nhưng chỉ cần một khoảnh khắc thức tỉnh lương tâm trong một người có hàng nghìn cái tôi khác nhau thì chắc chắn sẽ có sự đau khổ. Và nếu những khoảnh khắc lương tâm này trở nên lâu dài hơn, và nếu một người không sợ hãi chúng mà trái lại hợp tác với chúng và cố gắng giữ và kéo dài chúng, một niềm vui tinh tế, một sự mường tượng trước về ‘tâm thức rõ ràng’ trong tương lai sẽ dần dần len lỏi vào trong những khoảnh khắc này.

“Không có gì là khái quát trong khái niệm về ‘đạo đức’. Đạo đức bao gồm những bộ đệm. Không có đạo đức khái quát. Cái được coi là đạo đức ở Trung Quốc sẽ bị coi là trái đạo đức ở châu Âu, và cái được coi là đạo đức ở châu Âu bị coi là trái đạo đức ở Trung Quốc. Cái được coi là đạo đức ở Petersburg bị coi là trái đạo đức ở Caucasus. Và cái được coi là đạo đức ở Caucasus bị coi là trái đạo đức ở Petersburg. Cái được coi là đạo đức ở một giai cấp xã hội bị coi là trái đạo đức ở một giai cấp khác và ngược lại. Đạo đức luôn luôn và ở khắp nơi đều là một hiện tượng nhân tạo. Nó bao gồm những ‘điều cấm kỵ’ khác nhau, tức là, những hạn chế, yêu cầu khác nhau, đôi khi có cơ sở hợp lý và đôi khi mất hết ý nghĩa hoặc chưa từng có ý nghĩa, được tạo ra trên cơ sở sai trái, trên nền đất mê tín và những nỗi sợ sai lầm.

“Đạo đức bao gồm những ‘bộ đệm’. Và do ‘bộ đệm’ có nhiều loại khác nhau, và do những điều kiện trong cuộc sống ở các nước khác nhau và ở các độ tuổi khác nhau hay giữa các giai cấp khác nhau trong xã hội có sự khác biệt đáng kể, vì vậy đạo đức được tạo ra bởi chúng cũng sẽ khác nhau và mâu thuẫn với nhau. Không tồn tại chuẩn mực đạo đức chung cho tất cả. Thậm chí, cũng không thể nói rằng có sự tồn tại của bất kỳ một ý tưởng chung nào về đạo đức ở một nơi như châu Âu chẳng hạn. Đôi khi người ta vẫn nói rằng đạo đức chung của châu Âu là ‘đạo đức Công giáo’. Nhưng trước hết, bản thân ý tưởng về ‘đạo đức Công giáo’ đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều cách giải thích khác nhau và nhiều tội ác khác nhau đã được biện minh bởi ‘đạo đức Công giáo’. Và thứ hai, châu Âu hiện đại có rất ít điểm chung với ‘đạo đức Công giáo’, cho dù ta có hiểu loại đạo đức này theo cách nào đi chăng nữa.

“Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu ‘đạo đức Công giáo’ đưa châu Âu tới cuộc chiến tranh đang diễn ra vào lúc này, thì chắc hẳn châu Âu đang ở rất xa so với chuẩn mực đạo đức đó,”

“Nhiều người nói rằng, họ không hiểu được khía cạnh đạo đức trong bài giảng của ông”, một người trong số chúng ta đã nói. “Và những người khác nói rằng, bài giảng của ông không hề có đạo đức.”

“Dĩ nhiên là không”, G. nói. “Người ta rất thích nói về đạo đức. Nhưng đạo đức chẳng qua chỉ là sự gợi ý đối với bản thân. Điều cần thiết là lương tâm. Chúng tôi không dạy về đạo đức. Chúng tôi dạy cách để tìm lương tâm. Người ta không hài lòng khi chúng tôi nói điều này. Họ nói rằng, chúng tôi không có tình yêu. Đơn giản bởi chúng tôi không khuyến khích sự yếu đuối hay đạo đức giả mà, trái lại, khuyến khích việc lột bỏ tất cả các loại mặt nạ. Một người mong muốn sự thật sẽ không nói về tình yêu hay Công giáo bởi anh ta biết rằng mình cách xa hai điều này đến thế nào. Những bài giảng của Công giáo là dành cho người theo Công giáo. Và người theo Công giáo là những người sống, tức là, những người làm mọi thứ theo lời dạy của Chúa Giê-su. Liệu những người nói về tình yêu và đạo đức có thể sống theo lời dạy của Chúa Giê-su không? Tất nhiên là không; nhưng sẽ luôn có những lời nói theo kiểu này, sẽ luôn có những người mà với họ lời nói quý giá hơn bất cứ thứ gì. Nhưng đây là một dấu hiệu thực sự! Người nói theo cách này là một người trống rỗng; không đáng để lãng phí thời gian dành cho anh ta.

“Đạo đức và lương tâm là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Một loại lương tâm không thể mâu thuẫn với loại lương tâm khác. Một loại đạo đức luôn có thể dễ dàng mâu thuẫn và hoàn toàn phủ nhận một loại đạo đức khác. Một người có những ‘bộ đệm’ có thể rất đạo đức. Và ‘bộ đệm’ có thể rất khác nhau, tức là, hai người đạo đức có thể coi nhau là trái đạo đức. Về quy tắc, điều này là không thể tránh khỏi. Một người càng ‘đạo đức’ bao nhiêu thì anh ta càng nghĩ những người đạo đức khác ‘trái đạo đức’ bấy nhiêu.

“Ý tưởng về đạo đức gắn liền với ý tưởng về hành vi tốt, xấu. Nhưng ý tưởng về tốt, xấu luôn khác nhau đối với những người khác nhau, luôn mang tính chủ quan trong người số một, số hai, và số ba, và chỉ gắn kết với một thời điểm hay tình huống nhất định. Một người chủ quan có thể không có khái niệm chung về tốt, xấu. Với một người chủ quan, cái xấu là tất cả những gì trái với mong muốn hay lợi ích của anh ta hay khái niệm của anh ta về cái tốt.

“Có thể nói rằng cái xấu không hề tồn tại với một người chủ quan, rằng chỉ tồn tại những khái niệm khác nhau về cái tốt. Không có ai cố ý làm điều gì xấu, chỉ để phục vụ cái xấu. Ai ai cũng đều hành động vì cái tốt theo cách hiểu của anh ta. Nhưng mọi người đều hiểu nó theo cách khác nhau. Hệ quả là, con người nhấn chìm, chém giết lẫn nhau vì cái tốt. Một lần nữa, lý do cũng vậy thôi, sự bàng quang của con người và cuộc sống chìm sâu trong giấc ngủ của họ. 

“Điều này hiển nhiên đến mức thật kỳ lạ là chưa ai từng nghĩ đến nó. Tuy nhiên, thực tế vẫn là, họ không thể hiểu điều này và mọi người đều coi cái tốt của mình là cái tốt duy nhất, còn tất cả những thứ khác là cái xấu. Sẽ là ngây ngô và vô ích nếu mong rằng con người sẽ có lúc hiểu được điều này và rằng họ sẽ hình thành được một ý tưởng chung và giống nhau về cái tốt.”

“Nhưng chẳng phải cái tốt và cái xấu bản thân chúng tồn tài tách biệt so với con người sao?” một người có mặt đã hỏi.

“Có”, G. nói, “nhưng điều này rất xa so với chúng ta và không đáng thời gian để bạn cố hiểu vào thời điểm này. Chỉ cần đơn giản là nhớ một điều. Ý tưởng vĩnh cửu duy nhất về sự tốt, xấu đối với con người được gắn kết với ý tưởng về sự tiến hóa; dĩ nhiên không phải là sự tiến hóa cơ học, mà là với ý tưởng về sự phát triển của con người thông qua những nỗ lực có ý thức, sự thay đổi trạng thái sống, việc hình thành một sự thống nhất trong anh ta, và việc tạp thành của một cái Tôi vĩnh cửu.

“Một ý tưởng vĩnh cửu về cái tốt, xấu chỉ có thể hình thành trong mối liên hệ với một mục tiêu thường trực và một sự hiểu biết thường trực. Nếu một người hiểu được rằng anh ta đang ngủ và nếu anh ta muốn thức tỉnh, thì mọi thứ giúp anh ta thức tỉnh đều là điều tốt và tất cả những gì cản trở anh ta, tất cả những gì kéo dài giấc ngủ của anh ta đều là cái xấu. Cũng theo cách đó mà anh ta có thể hiểu được cái gì là tốt, là xấu ở người khác. Cái giúp họ thức tỉnh là tốt, và cái cản trở họ là xấu. Nhưng điều này chỉ đúng với những người muốn thức tỉnh, tức là, với những người hiểu được rằng họ đang ngủ. Những người không hiểu rằng mình đang ngủ và những người không muốn thức tỉnh không thể có sự hiểu biết về cái tốt, xấu. Và do đại đa số con người không nhận thức và sẽ không bao giờ nhận thức được rằng họ đang ngủ, cái tốt, xấu không thể thực sự tồn tại với họ.

“Điều này mâu thuẫn với những ý tưởng được chấp nhận rộng rãi. Con người quen với suy nghĩ rằng, tốt và xấu là giống nhau với mọi người, và hơn hết, cái tốt, xấu tồn tại với mọi người. Tuy nhiên, trên thực tế, cái tốt, xấu chỉ tồn tại với một số ít, với những người có mục tiêu và những người theo đuổi mục tiêu đó. Từ đó, cái cản trở sự theo đuổi mục tiêu đó là xấu và cái giúp nó là tốt.

“Nhưng tất nhiên, phần lớn những người đang ngủ sẽ nói rằng, họ có mục tiêu và rằng mình đang đi đâu đó. Việc nhận thức được thực tế rằng anh ta không có mục tiêu và rằng anh ta đang không đi đến đâu là dấu hiệu đầu tiên của việc tiếp cận sự thức tỉnh trong con người hoặc việc thức tỉnh trở nên khả thi với anh ta. Sự thức tỉnh bắt đầu khi một người nhận thức được rằng anh ta không đi đến đâu và không biết phải đi đâu.

“Như đã được giải thích từ trước, có nhiều đức tính mà con người tự gán cho mình, mà trên thực tế chúng chỉ thuộc về những người có bậc phát triển cao hơn và có bậc tiến hóa cao hơn so với người số một, số hai, và số ba. Tính cá thể, một cái tôi đơn nhất và vĩnh cửu, tâm thức, ý chí, năng lực, trạng thái tự do bên trong, tất cả những điều này là đức tính mà người thường không có. Cùng trong hạng mục đó là ý tưởng về tốt, xấu, sự tồn tại của nó gắn kết với một mục tiêu thường trực, với một định hướng thường trực và một trọng tâm vĩnh cửu.

“Ý tưởng về cái tốt, xấu đôi khi gắn kết với ý tưởng về sự thật và giả dối. Nhưng cũng như cái tốt, xấu không tồn tại với người bình thường, sự thật và sự giả dối cũng vậy.

“Sự thật vĩnh cửu và sự giả dối vĩnh cửu chỉ có thể tồn tại trong một người vĩnh cửu. Nếu bản thân một người không ngừng thay đổi, thì với anh ta sự thật và giả dối cũng không ngừng thay đổi. Và nếu con người đều ở trong những trạng thái khác nhau ở một thời điểm bất kỳ, thì khái niệm của họ về sự thật cũng khác biệt như khái niệm của họ về cái tốt. Một người không bao giờ nhận ra rằng anh ta đã bắt đầu coi những gì được cho là giả dối của ngày hôm qua là sự thật ngược lại. Anh ta không nhận thấy sự chuyển biến đó cũng như anh ta không nhận thấy sự chuyển biến của những cái tôi trong mình, từ cái này sang cái khác.

“Trong cuộc sống của một người bình thường, sự thật và sự giả không có bất kỳ giá trị đạo đức nào, bởi một người không bao giờ có thể kiên định với một sự thật duy nhất. Sự thật của anh ta thay đổi. Nếu trong một khoảng thời gian nhất định mà nó không thay đổi thì đơn giản là vì nó được duy trì bởi những ‘bộ đệm’. Và một người không bao giờ có khả năng nói lên sự thật. Đôi khi ‘nó nói lên’ sự thật, đôi khi ‘nó nói lên’ sự giả dối. Hệ quả là, sự thật và sự giả của anh ta không có giá trị; cả hai đều không phụ thuộc vào anh ta, cả hai phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên. Và điều này cũng đúng khi áp dụng với lời nói của con người, ý nghĩ của anh ta, cảm xúc của anh ta, và với khái niệm của anh ta về sự thật và sự giả.

“Để có thể hiểu được mối tương quan giữa sự thật và sự giả trong cuộc sống, một người cần hiểu được sự giả dối trong bản thân mình, những lời dối trá mà anh ta đã không ngừng nói với bản thân.

“Những lời dối trá đó được tạo ra bởi ‘bộ đệm’. Để có thể phá hủy những lời dối trá bên trong con người, cũng như những lời dối trá nói với người khác một cách vô thức, những ‘bộ đệm’ cần phải bị phá hủy. Nhưng con người không thể sống thiếu ‘bộ đệm’. ‘Bộ đệm’ tự động điều khiển hành động, lời nói, suy nghĩ và cảm xúc của con người. Nếu ‘bộ đệm’ bị phá hủy thì sẽ không còn sự kiểm soát. Một người không thể tồn tại nếu không kiểm soát, mặc dù đó chỉ là kiểm soát tự động. Chỉ người có ý chí, tức là, sự kiểm soát có ý thức, thì mới có thể sống mà không có ‘bộ đệm’. Nếu một người bắt đầu phá hủy ‘bộ đệm’ của mình thì hệ quả là anh ta sẽ phải cùng lúc đó xây dựng nên một ý chí. Và do ý chí không thể được tạo ra theo yêu cầu trong khoảng thời gian ngắn, nên một người có thể đã phá hủy được ‘bộ đệm’ mà vẫn chưa có ý chí đủ mạnh mẽ. Thay đổi duy nhất mà anh ta có trong giai đoạn này là bị kiểm soát bởi một ý chí khác đã được củng cố.

“Đây là lý do vì sao trong bài thực hành trên lớp, trong đó có bài phá hủy các ‘bộ đệm’, một người cần phải sẵn sàng tuân theo ý chí của người khác chừng nào ý chí của chính anh ta chưa được phát triển đầy đủ.  Thông thường sự phục tùng ý chí người khác như vậy sẽ được tìm hiểu trước tiên. Tôi dùng từ ‘tìm hiểu’ bởi một người cần phải hiểu được vì sao sự tuân thủ đó là cần thiết và anh ta cần học cách tuân thủ. Việc thứ hai không hề dễ dàng. Một người bắt đầu việc tự tìm hiểu với mục tiêu có được sự kiểm soát đối với bản thân sẽ quen với việc tin vào những quyết định của chính mình. Kể cả thực tế là anh ta đã nhìn thấy sự cần thiết phải thay đổi, sẽ cho anh ta thấy rằng những quyết định của mình là đúng đắn và sẽ củng cố niềm tin của anh ta vào chúng. Nhưng khi bắt đầu rèn luyện bản thân, anh ta cần phải từ bỏ những quyết định của chính mình, ‘hy sinh quyết định của chính mình’, bởi nếu không, ý chí của người chỉ đạo việc rèn luyện của anh ta sẽ không có khả năng kiểm soát hành động của anh ấy.

“Trong các trường phái tôn giáo, ‘sự tuân thủ’ được yêu cầu trước tiên, tức là, sự phục tùng toàn diện và không thắc mắc mặc dù không hiểu biết. Những trường phái con đường thứ tư đòi hỏi sự hiểu biết trước tiên. Kết quả của những nỗ lực luôn tỉ lệ thuận với sự hiểu biết.

“Việc từ bỏ những quyết định của bản thân, phục tùng ý chí của người khác có thể tạo ra những khó khăn to lớn đối với một người nếu như trước đó anh ta không nhận thức được rằng, thực ra anh ta không hề hy sinh hay thay đổi bất cứ điều gì trong cuộc sống, rằng cả cuộc đời anh ta đã phải tuân theo ý chí bên ngoài mà chưa từng có bất kỳ quyết định nào của riêng mình. Nhưng một người không ý thức được điều này. Anh ta cho rằng mình có quyền tự do lựa chọn. Rất khó để anh ta từ bỏ được ảo giác rằng anh ta tự mình chỉ đạo và tổ chức cuộc sống của mình. Nhưng sẽ không thể rèn luyện bản thân mình cho đến khi anh ta giải thoát được khỏi ảo giác đó.

“Anh ta cần nhận thức rằng mình không tồn tại; anh ta cần nhận thức rằng anh ta không thể mất gì bởi anh ta không có gì để mất; anh ta cần nhận thức sự ‘trống rỗng’ của mình theo ý nghĩa đầy đủ của từ này.

“Riêng ý thức về sự trống rỗng của bản thân thôi đã có thể chế ngự được nỗi sợ về việc phục tùng ý chí của người khác. Dù điều đó có xa lạ đến đâu, nỗi sợ này thực chất là một trong những cản trở nghiêm trọng nhất trên con đường của một người. Con người sợ rằng anh ta sẽ bị buộc phải làm những điều trái với những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin của mình. Hơn nữa, nỗi sợ này ngay lập tức tạo trong anh ta ảo tưởng rằng anh ta có nguyên tắc, quan điểm và niềm tin của mình trong khi trên thực tế anh ta chưa từng có và không thể có. Một người trong cuộc sống chưa từng nghĩ đến đạo đức bỗng nhiên lo sợ rằng anh ta sẽ bị buộc phải làm điều gì đó trái đạo đức. Một người chưa từng nghĩ về sức khỏe của mình và làm mọi điều có thể để hủy hoại nó bắt đầu lo sợ rằng sẽ bị buộc phải làm điều gì đó gây tổn hại sức khỏe. Một người nói dối với mọi người, mọi nơi, trong cả cuộc đời một cách trắng trợn nhất bỗng dưng bắt đầu lo sợ rằng anh ta sẽ bị buộc phải nói dối, v.v. Tôi có biết một người say rượu đã lo sợ hơn bất cứ điều gì rằng anh ta sẽ bị ép phải uống.

“Nỗi sợ phải phục tùng ý chí của người khác thường mạnh hơn bất cứ điều gì. Một người không nhận thức được rằng việc phục tùng theo cái mà anh ta đồng ý một cách có ý thức là cách duy nhất để có được ý chí cho riêng mình.”

Lần tiếp theo, G. tiếp tục bắt đầu với câu hỏi về ý chí.

“Câu hỏi về ý chí, về ý chí của chính mình và ý chí của người khác phức tạp hơn nhiều so với cái nhìn ban đầu. Một người không có đủ ý chí để làm, tức là, để kiểm soát bản thân và mọi hành động của mình, nhưng anh ta có đủ ý chí để tuân theo người khác. Và chỉ có bằng cách này anh ta mới có thể thoát được khỏi quy luật về sự ngẫu nhiên. Không còn cách nào khác.

“Trước đây tôi đã nói về định mệnh và sự ngẫu nhiên trong cuộc sống con người. Giờ đây chúng ta sẽ phân tích chi tiết hơn về ý nghĩa của những từ này. Định mệnh cũng tồn tại nhưng không phải đối với mọi người. Đa phần con người tách biệt khỏi định mệnh của mình và chỉ sống trong quy luật về sự ngẫu nhiêu. Định mệnh là kết quả của những tác động của các hành tinh, tương ứng với kiểu người. Chúng ta sẽ bàn về kiểu người sau. Trong khi đó, bạn cần phải hiểu được một điều. Con người có thể có định mệnh tương ứng với kiểu người của mình nhưng trên thực tế anh ta không bao giờ có nó. Điều này phát sinh bởi định mệnh chỉ có quan hệ với một phần của con người, cụ thể là bản chất của con người.

“Cần hiểu rằng, con người bao gồm hai phần: bản chất và tính cách. Bản chất trong con người là cái của riêng anh ta. Tính cách trong con người là cái ‘không phải của riêng anh ta’. ‘Không phải của riêng anh ta’ nghĩa là cái đến từ bên ngoài, cái anh ta học được, hoặc phản ánh, tất cả đều là dấu vết của những ấn tượng bên ngoài còn đọng lại trong ký ức và trong các cảm giác, tất cả lời nói và cử chỉ đã học được, tất cả những cảm giác được tạo ra bằng cách bắt chước – tất cả những điều này; không phải của riêng anh ta’, tất cả đều là tính cách.

“Từ góc nhìn của tâm lý học thông thường, việc phân chia một người thành tính cách và bản chất là rất khó để lĩnh hội. Sẽ là đúng hơn nếu nói rằng sự phân chia đó không hề tồn tại trong tâm lý học.

“Một đứa trẻ nhỏ chưa có tính cách. Nó chính là những gì thực chất của mình. Nó chính là bản chất của mình. Những mong muốn, khẩu vị, yêu thích, không thích đều thể hiện bản thể vốn có của nó.

“Nhưng ngay khi cái gọi là ‘giáo dục’ bắt đầu thì tính cách cũng bắt đầu phát triển. Tính cách được tạo ra một phần bởi những ảnh hưởng cố ý của người khác, tức là, bằng ‘giáo dục’ và một phần bằng sự bắt chước không điều kiện chúng của đứa trẻ. Sự hình thành của tính cách phần lớn cũng do sự ‘kháng cự’ lại với những người xung quanh và bởi ý định giấu những người đó những gì là ‘của riêng anh ta’, hay là ‘thật’.

“Bản chất là sự thật bên trong con người; tính cách là sự giả dối. Nhưng theo tỷ lệ thìnghịch khi tính cách càng phát triển, bản chất được thể hiện ngày càng hiếm và ngày càng yếu ớt và thường thì bản chất ngừng phát triển ở độ tuổi rất sớm và không tiếp tục phát triển nữa. Thường thì bản chất của một người trưởng thành, kể cả của người tri thức và, theo nghĩa được chấp nhận của từ đó, người ‘có học’, cũng ngừng phát triển lúc năm hay sáu tuổi. Điều này có nghĩa là tất cả những gì ta nhìn thấy ở người này trên thực tế ‘không phải của riêng anh ta’. Cái là của riêng một người, tức là bản chất của anh ta, thường chỉ thể hiện qua bản năng và những cảm xúc đơn giản nhất của anh ta. Tuy nhiên, có một số trường hợp trong đó bản chất của một người phát triển song song với tính cách. Những trường hợp như vậy là những ngoại lệ rất hiếm, nhất là trong những tình huống của đời sống văn hóa. Bản chất có khả năng phát triển hơn ở những người sống gần với thiên nhiên trong điều kiện khó khăn, thường xuyên phải đấu tranh và đối mặt với hiểm nguy.

“Nhưng về quy tắc, tính cách của những người như vậy lại kém phát triển. Họ có nhiều cái của riêng họ hơn, nhưng có ít cái ‘không phải của riêng họ’, nói cách khác là, họ không được giáo dục, chỉ dẫn, họ không có văn hóa. Văn hóa tạo nên tính cách, và đồng thời cũng là sản phẩm và kết quả của tính cách. Chúng ta không nhận thức được rằng trong cả cuộc đời mình, tất cả những gì chúng ta gọi là văn minh, tất cả những gì chúng ta gọi là khoa học, triết học, nghệ thuật và chính trị, đều được tạo ra bởi tính cách con người, tức là, bởi ‘cái không phải của riêng họ’.

“Yếu tố ‘không phải của riêng họ’ khác biệt với cái ‘của riêng’ con người ở chỗ nó có thể bị đánh mất, thay đổi hay tước bỏ bởi bàn tay con người.

“Có thể thử nghiệm để xác minh mối quan hệ giữa tính cách và bản chất. Ở các trường phái phương Đông, đường lối và phương thức được biết đến với khả năng giúp phân biệt tính cách con người với bản chất của anh ta. Vì mục đích này, họ đôi khi sử dụng thôi miên, đôi khi chất hướng thần đặc biệt, đôi khi là những bài tập đặc biệt. Nếu tính cách và bản chất được con người phân chia trong một quãng thời gian nhất định bằng một trong những phương thức trên, thì hai bản ngã sẽ được hình thành trong anh ta, chúng dùng những giọng nói khác nhau, có khẩu vị, mục tiêu, sở thích hoàn toàn khác nhau, và một trong hai bản ngã này thường là ở mức độ của một đứa trẻ nhỏ. Nếu tiếp tục thử nghiệm này, ta có thể đưa một trong hai bản ngã này vào giấc ngủ, hoặc bài thử nghiệm có thể bắt đầu bằng cách ru ngủ tính cách hoặc bản chất. Một số chất hướng thần nhất định có tính năng ru ngủ tính cách mà không ảnh hưởng tới bản chất. Và trong một khoảng thời gian nhất định sau khi sử dụng chất hướng thần này, tính cách con người sẽ biến mất, và chỉ còn lại bản chất của anh ta. Và điều xảy ra là, một người với những ý tưởng khác biệt và được đề cao, đầy sự thông cảm và ác cảm, tình yêu, lòng hận thù, sự gắn bó, lòng yêu nước, thói quen, khẩu vị, mong muốn, niềm tin, bỗng dưng lại rất trống rỗng, không có suy nghĩ, không có cảm xúc, không có niềm tin, không có quan điểm. Tất cả những gì trước đây khiến anh ta lay động giờ đây làm cho anh ta hoàn toàn bàng quan. Đôi khi anh ta thấy bản chất nhân tạo hay giả tưởng của những tâm trạng thông thường của mình, hay những lời nói to tát của mình, đôi khi anh ta đơn giản là quên đi chúng như thể chúng chưa từng tồn tại. Những thứ mà anh ta trước đây sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình giờ đây với anh ta thật vô lý và vô nghĩa và không đáng quan tâm. Tất cả những gì anh ta tìm thấy trong bản thân mình là một số ít những khuynh hướng và khẩu vị theo bản năng. Anh ta thích đồ ngọt, anh ta thích hơi ấm, anh ta không thích cái lạnh, anh ta không thích ý nghĩ về công việc, hay trái lại anh ta thích ý tưởng về những cử động vật lý. Và tất cả chỉ có vậy.

“Đôi khi, dù rất hiếm, và đôi khi những lúc ít mong đợi nhất, bản chất thể hiện sự trưởng thành đầy đủ và phát triển đầy đủ trong một con người, kể cả trong những trường hợp tính cách chưa phát triển, và trong trường hợp này bản chất gắn kết tất cả những gì nghiêm túc và thật của một người.

“Nhưng điều đó rất hiếm khi xảy ra. Theo quy tắc, bản chất của con người hoặc là nguyên thủy, hoang dã hoặc ấu trĩ, hoặc đơn giản là ngu ngốc. Sự phát triển của bản chất phụ thuộc vào sự rèn luyện bản thân.

“Một khoảnh khắc quan trọng trong quá trình rèn luyện bản thân là khi một người bắt đầu phân biệt được giữa tính cách và bản chất của mình. Cái tôi thực sự của con người chỉ có thể phát triển từ bản chất của anh ta. Có thể nói rằng, tính cá thể của một người là bản chất của anh ta, đã trưởng thành, chín chắn. Nhưng để cho phép sự trưởng thành của bản chất, trước tiên cần phải làm suy yếu áp lực thường xuyên của tính cách lên nó, bởi những cản trở đối với sự trưởng thành của bản chất đều chứa đựng trong tính cách.

‘Nếu chúng ta lấy một người trung bình có văn hóa, chúng ta sẽ thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, tính cách của anh ta là yếu tố chủ động trong con người anh ta, trong khi bản chất của anh ta là yếu tố bị động. Sự trưởng thành bên trong con người không thể bắt đầu chừng nào trật tự này không được thay đổi. TÍnh cách phải trở nên bị động và bản chất phải trở nên chủ động. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu các ‘bộ đệm’ được loại bỏ hoặc suy yếu, bởi ‘bộ đệm’ là vũ khí chính mà tính cách được trợ giúp để khuất phục bản chất.

“Như đã nói trước đây, trong trường hợp những người không có văn hóa, bản chất thường được phát triển cao hơn so với người có văn hóa. Dường như họ đạt đến gần khả năng trưởng thành hơn, nhưng trên thực tế điều này không đúng, bởi tính cách của họ phát triển không đầy đủ. Để có sự trưởng thành bên trong, để rèn luyện bản thân, cần có sự phát triển nhất định về tính cách cũng như sức mạnh nhất định của bản chất. Tính cách bao gồm những ‘hồ sơ’ và ‘bộ đệm’ là kết quả của những hoạt động của các trung tâm. Một tính cách chưa phát triển có nghĩa là đã không có những ‘hồ sơ’, tức là, không có kiến thức, không có thông tin, không có vật liệu làm cơ sở cho sự rèn luyện bản thân. Khi không có lượng kiến thức nhất định, không có một lượng nguyên liệu ‘không phải của riêng anh ta’, một người không thể bắt đầu rèn luyện bản thân, anh ta không thể bắt đầu nghiên cứu bản thân, anh ta không thể bắt đầu đấu tranh với những thói quen cơ học của mình, đơn giản vì không có lý do hay động lực để làm những điều đó.

“Điều này không có nghĩa là tất cả các con đường đều đã khép lại với anh ta. Con đường của thầy tu và con đường của nhà sư không đòi hỏi sự phát triển trí tuệ và vẫn còn rộng mở với anh ta. Nhưng những phương pháp và phương thức khả thi đối với một người phát triển về trí tuệ sẽ là bất khả thi với anh ta. Do đó, sự tiến hoá đối với một người có văn hoá và không văn hoá là khó như nhau. Một người có văn hóa sống xa thiên nhiên, xa rời những điều kiện sinh tồn tự nhiên, trong những điều kiện nhân tạo của cuộc sống, phát triển nhân cách của anh ta bằng cách đánh đổi bản chất của mình. Một người ít văn hóa, sống trong những điều kiện bình thường và tự nhiên hơn, phát triển bản chất bằng cách đánh đổi tính cách của mình. Một sự khởi đầu thành công trong rèn luyện bản thân đòi hỏi diễn ra đồng thời sự phát triển cân bằng của tính cách và bản chất. Điều này sẽ bảo đảm cao nhất cho thành công. Nếu bản chất kém phát triển, sẽ cần phải có giai đoạn dài để chuẩn bị và việc này sẽ là vô nghĩa nếu bản chất con người bị thối nát bên trong hay nếu nó phát sinh những dị tật không thể sửa chữa. Những điều kiện kiểu này xảy ra khá thường xuyên. Sự phát triển bất thường của tính cách thường cản trở sự phát triển của bản chất ở giai đoạn đầu, khiến bản chất trở thành một thứ nhỏ bé biến dạng. Từ thứ nhỏ bé biến dạng, không thể đạt được thêm điều gì.

“Hơn nữa, thường thì bản chất sẽ chết đi bên trong con người trong khi tính cách và cơ thể của anh ta vẫn còn sống. Một tỷ lệ lớn những người chúng ta gặp trên đường phố của một thị trấn lớn là những người trống rỗng bên trong, tức là, họ thực ra đã chết.

“Rất may cho chúng ta là chúng ta không nhìn thấy và không biết điều đó. Nếu ta biết có bao nhiêu người thực ra đã chết và có bao nhiêu người chết đó điều khiển cuộc sống của chúng ta, thì ta sẽ phát điên trong cơn hoảng hốt. Và quả thực người ta thường phát điên vì phát hiện ra điều gì đó về bản chất này mà không được chuẩn bị một cách đúng đắn từ trước, tức là, họ nhìn thấy cái mà lẽ ra họ không được nhìn. Để có thể nhìn mà không gặp nguy hiểm thì một người cần phải đang ở trên con đường. Nếu một người không thể làm gì mà nhìn thấy sự thật thì anh ta chắc chắn sẽ phát điên. Chỉ là điều này hiếm khi xảy ra. Thông thường mọi thứ được sắp đặt để một người không thể nhìn thấy quá sớm. Tính cách chỉ nhìn thấy cái mà nó muốn thấy và cái không can thiệp vào đời sống của nó. Nó không bao giờ nhìn thấy cái nó không muốn. Điều này vừa tốt vừa không tốt. Nó tốt nếu một người muốn ngủ, không tốt nếu anh ta muốn thức tỉnh.”

“Nếu bản chất chịu ảnh hưởng của định mệnh, như thế có phải là so với sự ngẫu nhiên định mệnh luôn tốt hơn cho con người?” một người có mặt đã hỏi. “Và định mệnh có thể đưa con người đến sự rèn luyện?”

“Không, nó không hề có nghĩa như vậy”, G. trả lời. “Định mệnh chỉ tốt hơn sự ngẫu nhiên ở chỗ ta có thể xét đến nó, có thể biết nó từ trước; có thể chuẩn bị cho cái ở trước mắt. Còn với sự ngẫu nhiên, một người không biết được gì. Nhưng định mệnh cũng có thể không thoải mái hoặc khó khăn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, có các cách để cô lập bản thân khỏi định mệnh. Bước đầu tiên là phải tránh khỏi các quy luật chung. Cũng như sự tồn tại của sự ngẫu nhiên cá thể, cũng có sự ngẫu nhiên chung hay ngẫu nhiên tập thể. Sự ngẫu nhiên tập thể và định mệnh tập thể được điều chỉnh bởi các quy luật chung. Nếu một người muốn tự mình tạo ra cá thể, trước tiên anh ta cần phải giải thoát bản thân khỏi những quy luật chung. Quy luật chung không phải là nghĩa vụ của con người; anh ta có thể giải thoát bản thân khỏi nhiều quy luật nếu anh ta giải thoát được mình khỏi những ‘bộ đệm’ và sự tưởng tượng. Tất cả những điều này gắn kết với sự giải phóng khỏi tính cách. Tính cách sống nhờ vào trí tưởng tượng và sự giả dối. Nếu sự giả dối mà con người đang sống ở bên trong giảm đi và trí tưởng tượng giảm đi, tính cách sẽ sớm bị suy yếu và con người sẽ bắt đầu bị kiểm soát bởi định mệnh hoặc một thứ khác do ý chí người khác kiểm soát; điều này sẽ dẫn dắt anh ta cho đến khi ý chí của riêng anh ta được hình thành, có khả năng chịu đựng cả sự ngẫu nhiên, và khi cần thiết là định mệnh.”

Những bài thuyết trình trên kéo dài trong giai đoạn vài tháng. Có thể thấy, không cách nào tái lập các bài thuyết trình theo đúng trình tự bởi G. thường xuyên đề cập đến hai mươi chủ đề khác nhau trong một buổi tối. Nhiều điều được nhắc lại, nhiều điều phụ thuộc vào những câu hỏi của những người có mặt, nhiều ý tưởng được gắn kết chặt chẽ đến mức chúng ‘chỉ có thể được phân biệt một cách nhân tạo.

Vào lúc này, một số loại người nhất định đã bắt đầu thể hiện thái độ tiêu cực đối với công việc của chúng tôi. Ngoài sự thiếu vắng “tình yêu” nhiều người đã rất căm phẫn và đòi bồi thường tiền. Trong việc này, rất đặc thù là những người căm phẫn không phải là người gặp khó khăn trong việc trả tiền, mà là những người mà với họ số tiền được yêu cầu chỉ là một khoản vặt.

Những người không thể trả tiền hoặc chỉ có thể trả rất ít luôn hiểu rằng họ không thể trông chờ vào việc không làm gì mà vẫn có gì, và rằng công trình của G., hành trình của ông tới Petersburg, và thời gian mà ông và những người khác đã dành ra cho công việc đều tốn tiền. Chỉ có những người có tiền mới không hiểu và không muốn hiểu điều này.

“Liệu điều này có nghĩa là chúng ta phải trả tiền để được vào Vương quốc Thiên đường?” họ nói. “Người ta không trả tiền và cũng không yêu cầu thứ đó. Giê-su đã nói với môn đồ của mình rằng: ‘Đừng mang theo ví hay túi’, còn anh thì đòi một nghìn rúp. Có thể có ngành kinh doanh tốt từ việc này đấy. Giả dụ anh có một trăm thành viên. Như thế là đã có một trăm nghìn rồi, và nếu có hai trăm, ba trăm thì sao? Ba trăm nghìn một năm là khoản tiền rất tốt.”

G. luôn mỉm cười khi tôi nói về những câu chuyện như vậy.

“Đừng mang theo ví hay túi! Và cũng không cần mang theo vé tàu sao? Tiền khách sạn? Ở đây bạn có thể thấy được sự giả tạo và đạo đức giả. Không, kể cả khi chúng ta không hề cần tiền thì vẫn phải trả các khoản tiền này. Nó giúp ta loại bỏ được những người vô dụng. Không có gì bộc lộ con người tốt hơn thái độ của họ đối với đồng tiền. Họ sẵn sàng lãng phí bao nhiêu tiền cũng được cho những mộng mơ cá nhân nhưng không hề trân trọng giá trị lao động của người khác. Tôi phải làm việc cho họ và cho không họ tất cả những gì họ chiếu cố lấy đi từ tôi. ‘Làm sao để có thể buôn bán kiến thức? Lẽ ra phải miễn phí’. Chính là vì lý do này mà ta cần phải thu tiền. Một số người không thể vượt qua được rào cản này. Và nếu họ không vượt qua được, thì có nghĩa là họ sẽ không vượt qua được những rào cản khác. Hơn nữa, còn có những vấn để khác. Rồi bạn sẽ thấy.”

Những vấn để khác đều rất đơn giản. Nhiều người thực sự không có khả năng trả tiền. Và mặc dù về nguyên tắc G. đặt ra câu hỏi hết sức nghiêm khắc, nhưng trên thực tế ông chưa từng từ chối ai vì lý do là họ không có tiền. Và sau đó chúng tôi phát hiện ra rằng ông thậm chí đã hỗ trợ nhiều học sinh của mình. Những người trả một nghìn rúp không chỉ trả cho bản thân mà còn cho cả những người khác.



Gửi phản hồi