Nhớ bản thân

☰ Tiếng Anh: self-remembering, self-observation
☰ Tiếng Việt: Nhớ đến chính mình, nhớ đến bản thể, quan sát bản thể, tự quan sát

Trong chương 7 cuốn “Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ”, P. D. Ouspensky có nói rằng “Để thực sự có thể quan sát được bản thân, trước hết một người cần phải nhớ được bản thân”. Theo ông, đặc tính của việc nhớ bản thân là phân chia sự chú ý. Ông đưa ra mô tả chi tiết dưới đây về việc nhớ bản thân.

Có một lần, khi đang nói chuyện với G., tôi đã hỏi liệu ông có cho rằng có thể đạt được trạng thái “thiên tâm”, không phải chỉ trong giây lát mà lâu dài hơn hay không. Tôi hiểu “thiên tâm” theo nghĩa là một trạng thái ý thức cao hơn mà con người có thể đạt được, theo cách mà trước đây tôi đã viết trong cuốn sách Tertium Organum của mình.

“Tôi không biết cái mà cậu gọi là ‘thiên tâm’”, G. nói, “nó là một thuật ngữ mơ hồ, không rõ ràng; bất kỳ ai đều có thể dùng nó để gọi bất cứ thứ gì mà anh ta thích. Đa phần, cái được gọi là ‘thiên tâm’ chỉ đơn giản là một ảo giác, là sự mơ mộng có tính liên đới được kết nối với sự hoạt động tăng cường của trung tâm cảm xúc. Đôi khi nó gần chạm ngưỡng trạng thái Định [tiếng Bắc Phạn: Samadhi], nhưng thông thường nó chỉ là một trải nghiệm cảm xúc chủ quan ở cấp độ của những giấc mơ. Nhưng thậm chí khi gạt những điều này sang một bên, trước khi có thể bàn về ‘thiên tâm’, ta cần phải định nghĩa được một cách khái quát ý thức là gì”.

“Cậu định nghĩa ý thức là gì?”

“Ý thức được coi là không thể định nghĩa”, tôi nói, “và quả thực, làm sao có thể định nghĩa nếu nó là một phẩm chất bên trong? Với những phương thức thông thường trên tay, không thể nào chứng minh được sự hiện hữu của ý thức ở một người khác. Chúng ta chỉ biết về sự tồn tại của nó ở chính mình”.

“Tất cả là nhảm nhí”, G. nói, “sự ngụy biện khoa học tầm thường. Đã đến lúc cậu vứt bỏ nó rồi. Điều cậu nói chỉ có một thứ là đúng: rằng cậu chỉ có thể biết về sự tồn tại của ý thức ở chính mình. Lưu ý là tôi nói rằng cậu có thể biết, vì cậu chỉ có thể biết nó khi cậu có nó. Và khi cậu không có nó, cậu có thể biết rằng mình không có nó, không phải tại thời điểm đó, mà là sau này. Ý tôi là khi nó quay trở lại, cậu có thể thấy rằng nó đã không ở đó trong một thời gian dài, và cậu có thể tìm hoặc nhớ lại khoảnh khắc khi nó biến mất và khi nó xuất hiện lại. Cậu cũng có thể xác định được những khoảnh khắc khi cậu đến gần hơn với ý thức và khi cậu rời xa hơn khỏi ý thức. Nhưng với việc quan sát ở chính mình sự xuất hiện và biến mất của ý thức, chắc chắn cậu sẽ thấy một thực tế mà lúc này cậu không thấy hay thừa nhận, và đó là những khoảnh khắc của ý thức rất ngắn và được ngăn cách bởi những quảng thời gian dài của sự vô thức, của sự hoạt động của cơ thể vật chất theo một cách máy móc. Từ đó cậu sẽ thấy rằng cậu có thể suy nghĩ, cảm nhận, hành động, nói, làm mà không ý thức về nó. Và nếu cậu học được cách nhìn vào bản thân trong những khoảnh khắc của sự ý thức và những giai đoạn dài của sự vô thức, thì cậu tuyệt đối cũng có thể nhìn được ở người khác khi họ có ý thức về điều họ đang làm và khi họ không có ý thức.”

“Sai lầm chủ yếu của cậu đến từ việc suy nghĩ rằng cậu luôn có ý thức, và nói chung là, hoặc là ý thức luôn hiện hữu hoặc là nó không bao giờ hiện hữu. Trên thực tế ý thức là một thuộc tính luôn thay đổi. Nhưng ý thức và những mức độ ý thức khác nhau cần phải được cảm nhận trong bản thân bằng trực giác, vị giác. Không một định nghĩa nào có thể giúp cậu trong trường hợp này và không thể nào có được một định nghĩa chừng nào cậu không hiểu được cái mà mình cần định nghĩa. Và khoa học, triết học không thể định nghĩa được ý thức bởi chúng muốn định nghĩa nó ở nơi mà nó không tồn tại. Cần phân biệt được giữa ý thức và khả năng ý thức. Chúng ta chỉ có khả năng ý thức và sự thoáng qua hiếm hoi của nó. Vì vậy chúng ta không thể định nghĩa được ý thức là gì”.

Tôi không thể khẳng định rằng những gì được nói về ý thức trở nên rõ ràng với tôi ngay tức khắc. Nhưng một trong những buổi nói chuyện sau đó đã giải thích được cho tôi những nguyên tắc được dùng làm cơ sở cho những lập luận này.

Một lần, lúc bắt đầu một cuộc họp, G. đã đặt một câu hỏi và yêu cầu tất cả những ai có mặt phải lần lượt trả lời. Câu hỏi đó là “Điều quan trọng nhất mà ta nhận thấy khi quan sát bản thân là gì?”

Một số người có mặt nói rằng, khi tìm cách quan sát bản thân, điều họ cảm thấy đặc biệt mạnh mẽ là một dòng chảy không ngừng của những suy nghĩ mà họ thấy không thể nào ngăn lại được. Những người khác nói về sự khó khăn trong việc phân biệt được công việc của một trung tâm với việc của trung tâm khác. Rõ ràng tôi đã không hiểu đúng câu hỏi, hoặc là tôi đã trả lời một câu hỏi khác do tôi đã tự nghĩ ra, bởi tôi đã trả lời rằng, điều ấn tượng nhất với tôi là tính liên kết của một thứ với thứ khác trong hệ thống, tính toàn vẹn của hệ thống, như thể nó là một “sinh vật”, và ý nghĩa quan trọng mới có của từ “biết”, bởi nó không chỉ bao hàm ý tưởng về việc biết điều này hay điều kia, mà là mối liên hệ giữa thứ này với tất cả những thứ khác.

Hiển nhiên G. không hài lòng với câu trả lời của chúng tôi. Tôi vốn đã bắt đầu hiểu được ông trong những hoàn cảnh như vậy và tôi thấy rằng ông kỳ vọng ở chúng tôi những chỉ dấu hay cái gì đó nhất định mà chúng tôi đã nói không trúng hay đã không hiểu.

“Không ai trong các cậu nhận ra được điều quan trọng nhất mà tôi đã chỉ ra cho các cậu”, ông nói. “Tức là, không ai trong các cậu nhận ra rằng các cậu không nhớ được bản thân mình”. (Ông đặc biệt nhấn mạnh những từ này). “Các cậu không cảm nhận bản thân mình; các cậu không có ý thức về bản thân mình. Với các cậu, ‘nó quan sát’ cũng giống như ‘nó nói’ ‘nó nghĩ’, ‘nó cười’. Các cậu không cảm nhận: tôi quan sát, tôi nhận thấy, tôi nhìn thấy. Mọi thứ vẫn là ‘được nhận thấy’, ‘được thấy’… Để thực sự có thể quan sát được bản thân, trước hết một người cần phải nhớ được bản thân” (Một lần nữa ông lại nhấn mạnh những từ này). “Hãy cố nhớ bản thân mình khi các cậu quan sát bản thân và sau đó nói kết quả cho tôi. Chỉ những kết quả đó mới có giá trị được bổ trợ bởi việc nhớ bản thân. Nếu không, bản thân các cậu không tồn tại trong những quan sát của mình. Trong trường hợp đó thì việc quan sát của các cậu còn có ý nghĩa gì?”

Những lời nói đó của G. đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi chợt nhận ra rằng chúng chính là mấu chốt đối với những gì trước đó ông đã nói về ý thức. Nhưng tôi đã quyết định là sẽ không đưa ra bất kỳ kết luận gì, thay vào đó cố gắng nhớ bản thân trong khi quan sát bản thân mình.

Những lần cố gắng đầu tiên đã cho thấy việc đó khó đến thế nào. Những nỗ lực để nhớ bản thân đã không mang lại kết quả gì, ngoại trừ việc cho tôi thấy rằng trên thực tế chúng ta không bao giờ nhớ bản thân mình.

“Cậu còn muốn gì nữa?” G. nói. “Đây là một nhận xét rất quan trọng. Những người biết được điều này” (ông nhấn mạnh vào những từ này) “sẵn đã biết được rất nhiều rồi. Vấn đề nằm hoàn toàn ở chỗ không ai biết nó. Nếu cậu hỏi một người rằng anh ta liệu có nhớ được bản thân anh ta không, thì đương nhiên anh ta sẽ trả lời là có. Nếu cậu nói với anh ta rằng anh ta không thể nhớ được bản thân thì anh ta hoặc là sẽ tức giận với cậu, hoặc là sẽ cho rằng cậu là một kẻ ngu ngốc. Toàn bộ cuộc sống được dựa trên điều này, toàn bộ sự tồn tại của loài người, toàn bộ sự mù quáng của loài người. Nếu một người thực sự biết được rằng anh ta không thể nhớ bản thân, thì anh ta đã gần hiểu được Bản thể của mình”.

Tất cả những gì G. nói, tất cả những gì chính tôi suy nghĩ, và nhất là tất cả những nỗ lực để nhớ được bản thân đã cho tôi thấy, đã nhanh chóng thuyết phục tôi rằng tôi phải đối mặt với một vấn đề hoàn toàn mới mà cho đến nay khoa học và triết học chưa gặp phải.

Nhưng trước khi đưa ra kết luận, tôi sẽ mô tả những lần tôi đã cố để nhớ bản thân mình.

Ấn tượng đầu tiên là những nỗ lực để nhớ bản thây hay có ý thức về bản thân, tự nhủ với bản thân, tôi đang đi, tôi đang làm, và không ngừng cảm nhận cái Tôi này, đã ngăn chặn sự suy nghĩ. Khi tôi cảm nhận cái Tôi, tôi đã không thể suy nghĩ hay nói gì; thậm chí những cảm nhận của giác quan cũng trở nên nhẹ hơn. Hơn nữa, một người chỉ có thể nhớ về bản thân theo cách này trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Trước đó tôi đã thử một vài thí nghiệm về ngừng suy nghĩ được đề cập trong các cuốn sách về thực hành Yoga. Ví dụ, sự mô tả như vậy có trong cuốn sách From Adam’s Peak to Elephanta của Edward Carpenter, mặc dù mô tả đó rất khái quát. Và những nỗ lực ban đầu của tôi để nhớ bản thân, những thí nghiệm đầu tiên của tôi, đã gợi nhớ tôi về chính những điều đó. Thực ra nó gần như giống hệt nhau, chỉ có khác biệt duy nhất là với việc ngừng những suy nghĩ, sự chú ý của tôi đã hoàn toàn hướng tới nỗ lực ngăn chặn các suy nghĩ, còn với việc nhớ bản thân, sự chú ý được phân chia, một phần của nó hướng tới cùng nỗ lực đó, và phần còn lại tới sự cảm nhận về bản thân.

Nhận xét cuối cùng này đã cho phép tôi đi đến một định nghĩa chắc chắn về việc “nhớ bản thân”, và dù có thể nó rất không hoàn thiện nhưng trên thực tế nó đã rất hữu ích.

Tôi đang nói về việc phân chia sự chú ý, đây là đặc tính của việc nhớ bản thân.

Tôi đã thể hiện nó với bản thân mình theo cách sau:

Khi tôi quan sát thứ gì đó, sự chú ý của tôi hướng tới đối tượng tôi đang quan sát – một đường thẳng với một đầu mũi tên:

Fig01 IMG 0833 Nhớ bản thân

Khi mà cùng lúc ấy tôi cố gắng nhớ bản thân, sự chú ý của tôi vừa hướng đến sự vật được quan sát và vừa hướng đến bản thân tôi. Đầu mũi tên thứ hai xuất hiện trên đường thẳng:

Fig02 IMG 0834 Nhớ bản thân

Sau khi định nghĩa được điều này, tôi thấy rằng vấn đề nằm ở chỗ hướng sự chú ý về phía bản thân mà không làm suy yếu hay đánh mất sự chú ý hướng tới một thứ khác. Hơn nữa, cái “thứ khác” này có thể là hiện tượng bên trong tôi hay có thể là hiện tượng bên ngoài tôi.

Hai lần thử đầu tiên nhằm phân chia sự chú ý đã cho tôi thấy được tiềm năng của nó. Cùng lúc, tôi đã thấy rõ được hai điều:

Thứ nhất, tôi thấy rằng việc nhớ bản thân từ phương pháp này không hề có điểm chung với sự “cảm nhận bản thân” hay “phân tích bản thân”. Nó là một trạng thái mới mẻ, thú vị, với một hương vị vừa quen thuộc, vừa kỳ lạ.

Và thứ hai, tôi nhận ra rằng những khoảnh khắc nhớ bản thân thực tế có xảy ra [một cách tự nhiên] trong cuộc sống, mặc dù rất hiếm. Chỉ có việc cố ý tạo ra những khoảnh khắc này mới khiến nó cảm thấy khác thường. Thực ra tôi đã khá quen thuộc với nó từ khi còn nhỏ. Chúng có thể đến ở những bối cảnh mới, bất ngờ, chẳng hạn như ở một nơi mới, ở giữa những người mới gặp khi du lịch, khi mà bất chợt một người nhìn bản thân mình và nói: Lạ thật! Tôi và nơi này; hay trong những khoảnh khắc đầy cảm xúc, trong những giây phút hiểm nguy, vào thời điểm cần phải giữ bình tĩnh, khi một người nghe được giọng nói của chính mình và nhìn thấy, quan sát được bản thân mình từ bên ngoài.

Tôi thấy khá rõ ràng, những ký ức xưa nhất của tôi về cuộc sống, trong trường hợp của tôi là những ký ức từ rất sớm, đều là những khoảnh khắc của sự nhớ bản thân. Nhận xét này đã khiến tôi nhận ra rất nhiều điều. Tức là, tôi nhận ra rằng tôi thực sự chỉ có thể nhớ được những khoảnh khắc trong quá khứ mà ở đó tôi nhớ về bản thân mình. Còn với những khoảnh khắc khác, tôi chỉ có thể nhớ được là nó có xảy ra. Tôi không có khả năng tái hiện chúng một cách hoàn toàn để trải nghiệm lại chúng thêm lần nữa. Nhưng những khoảnh khắc mà ở đó tôi nhớ bản thân đều rất sống động và không hề có sự khác biệt với hiện tại. Tôi vẫn dè chừng chưa muốn đưa ra kết luận. Nhưng tôi đã có thể thấy rằng tôi đã chạm đến ngưỡng của một phát kiến vô cùng vĩ đại. Tôi vốn vẫn sững sờ trước sự yếu kém và không đầy đủ của trí nhớ con người. Có quá nhiều thứ đã biến mất. Vì một lý do nào đó, sự bất thường lớn nhất của cuộc sống đối với tôi nằm ở điều này. Ta trải nghiệm nhiều để làm gì khi mà sau đó ta lại quên đi? Hơn nữa, điều này cũng có nét gì đó mang tính thoái hóa. Một người cảm nhận điều gì đó mà với anh ta nó rất to tát, anh ta nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ quên nó đi; một hay hai năm trôi qua – và nó không còn gì sót lại. Giờ đây tôi đã hiểu rõ vì sao điều này xảy ra và vì sao nó là tất yếu. Nếu ký ức của chúng ta chỉ duy trì sức sống của những khoảnh khắc của việc nhớ bản thân, thì có thể thấy rõ tại sao trí nhớ của chúng ta lại tồi tệ đến vậy.

Tất cả những điều này là thứ tôi nhận ra vào những ngày đầu. Sau đó, khi tôi bắt đầu học được cách phân chia sự chú ý, tôi thấy rằng việc nhớ bản thân đã tạo ra những cảm giác tuyệt vời, theo một cách tự nhiên, tức là tự thân chúng, chỉ đến với chúng ta một cách hiếm hoi và trong những điều kiện hết sức hạn chế. Vì vậy, chẳng hạn, vào lúc đó tôi vốn thường rất thích đi lang thang ở St. Petersburg vào ban đêm và “cảm nhận” những ngôi nhà, con phố. St. Petersburg chứa đầy những trực quan kỳ lạ đó. Những ngôi nhà, nhất là những ngôi nhà cũ kỹ, rất sống động, tôi gần như đã nói chuyện với chúng. Không hề có yếu tố “tưởng tượng” ở đây. Tôi không hề nghĩ về điều gì, tôi chỉ đơn giản là đi bộ trên đường và cùng lúc cố gắng nhớ bản thân và nhìn xung quanh; những trực quan tự nó đã đến.

Sau này tôi tiếp tục khám phá được những điều không ngờ theo cùng cách đó. Nhưng tôi sẽ nói về nó sau.

Đôi khi việc nhớ bản thân không được thành công; vào những lúc khác đi cùng với nó là những quan sát kỳ lạ.

Có một lần tôi đi dọc đường Liteiny đến Nevsky, và bất chấp mọi nỗ lực, tôi không thể duy trì sự chú ý đối với việc nhớ bản thân. Những tiếng động, sự di chuyển, mọi thứ đã khiến tôi sao nhãng. Cứ mỗi phút tôi lại mất đi mạch chú ý, tìm lại được nó, rồi lại tiếp tục đánh mất. Cuối cùng tôi cảm nhận điều gì đó như một sự khó chịu kỳ quặc trong mình và đã rẽ sang con phố bên tay trái sau khi đã quyết tâm duy trì sự chú ý tới thực tế là tôi muốn nhớ bản thân ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó, bằng bất cứ giá nào, cho tới khi tôi đi đến con đường tiếp theo. Tôi đã đi tới Nadejdinskaya mà không đánh mất sự chú ý, ngoại trừ trong những khoảnh khắc ngắn ngủi. Sau đó tôi lại rẽ sang hướng Nevsky và nhận ra rằng, ở những con phố yên tĩnh, tôi có thể bảo đảm không đánh mất dòng suy nghĩ một cách dễ dàng hơn, vì vậy tôi muốn thử thách bản thân ở những con phố ồn ào hơn. Tôi đã đến được Nevsky mà vẫn nhớ bản thân, và đã bắt đầu trải nghiệm được trạng thái cảm xúc kỳ lạ của sự bình yên nội tại và sự tự tin, là những thứ xuất hiện sau nhiều nỗ lực to lớn như vậy. Ở ngay đầu đường Nevsky là một tiệm thuốc lá, nơi họ sản xuất loại thuốc lá của tôi. Khi ấy vẫn còn nhớ bản thân, tôi đã quyết định liên lạc với tiệm đó để đặt mua một ít thuốc lá.

Hai tiếng sau tôi tỉnh giấc ở Tavricheskaya, là một nơi rất xa. Tôi đi taxi tới xưởng in. Cảm giác của sự tỉnh giấc là rất rõ rệt. Tôi gần như có thể nói rằng mình đã hồi tỉnh. Tôi lập tức nhớ được mọi thứ. Tôi đã đi dọc phố Nadejdinskaya như thế nào, tôi đã nhớ bản thân ra sao, tôi đã nghĩ đến thuốc lá thế nào, và với suy nghĩ này tôi dường như biến mất và chìm vào giấc ngủ sâu thế nào.

Cùng lúc ấy, khi đang đắm chìm trong giấc ngủ đó, tôi đã tiếp tục thực hiện những hành động liên tục và thiết thực. Tôi đã rời tiệm thuốc lá, về căn hộ của tôi ở phường Liteiny, gọi điện cho xưởng in. Tôi đã viết hai lá thư.

Và rồi tôi lại rời khỏi nhà. Tôi đi bộ ở lề trái đường Nevsky hướng tới Gostinoy Dvor với ý định đi đến Offitzerskaya. Sau đó tôi đổi ý vì lúc đó đã muộn. Tôi đã bắt taxi và đi tới Kavalergardskaya đến xưởng in. Và trên đường, khi đang lái xe dọc Tavricheskaya, tôi bắt đầu cảm thấy sự khó chịu kỳ lạ, như thể tôi đã quên mất điều gì đó – Và bất chợt tôi nhớ ra rằng mình đã quên mất việc nhớ bản thân.

Tôi đã kể lại những quan sát và suy luận của mình với những người trong nhóm của tôi, cũng như với các bạn văn chương của mình và những người khác.

Tôi kể với họ rằng đây là trọng tâm của toàn bộ hệ thống và của toàn bộ công trình rèn luyện bản thân; và giờ đây việc rèn luyện bản thân không còn chỉ là những lời nói sáo rỗng mà là một thực tế có thật với ý nghĩa quan trọng mà nhờ nó tâm lý học trở nên chính xác và cùng lúc trở thành một ngành khoa học thiết thực.

Tôi đã nói rằng tâm lý học của châu Âu và phương Tây nói chung đã bỏ qua một thực tế có tầm quan trọng to lớn, đó là, chúng ta không nhớ về bản thân mình; rằng chúng ta sống và hành xử và lý luận trong những giấc ngủ sâu, không phải như một phép ẩn dụ mà là một thực tế tuyệt đối. Và rằng, cùng lúc đó, chúng ta có thể nhớ bản thân nếu có đủ cố gắng, rằng chúng ta có thể tỉnh giấc.

Tôi đã bàng hoàng trước sự khác biệt giữa sự hiểu biết của những người trong nhóm của tôi với những người ngoài nhóm. Những người thuộc nhóm của tôi hiểu, tuy không phải cùng lúc, rằng chúng tôi đã chứng kiến điều “kỳ diệu”, và rằng nó là thứ gì đó “mới mẻ”, một thứ chưa từng tồn tại ở bất cứ nơi đâu.

Những người khác không hiểu điều này; họ quá xem nhẹ nó và đôi lúc họ còn chứng minh cho tôi thấy rằng những giả thuyết đó trước đây đã từng tồn tại.

A. L. Volinsky là người tôi từng gặp thường xuyên và trao đổi rất nhiều từ năm 1909, tôi rất coi trọng những ý kiến của ông, ông thấy rằng ý tưởng về việc “nhớ đến bản thân” không phải là thứ gì ông chưa từng biết đến.

“Đây là sự tổng giác”, ông nói với tôi. “Cậu đã đọc Logic của Wundt chưa? Ở đó cậu sẽ thấy định nghĩa mới nhất của ông về sự tổng giác. Nó chính là cái mà cậu đã kể đến. ‘Sự quan sát đơn giản’ chính là nhận thức [perception]. ‘Sự quan sát với sự nhớ đến bản thân’ như cậu nói, là sự tổng giác [apperception]. Tất nhiên Wundt đã biết đến nó”.

Tôi không muốn tranh luận với Volinsky. Tôi đã đọc sách của Wundt. Và tất nhiên những gì Wundt đã viết hoàn toàn không phải là cái tôi đã nói với Volinsky. Wundt đã đến rất gần với ý tưởng này, nhưng những người khác cũng đã đến gần không kém và cuối cùng đều đã đi theo con đường khác. Ông đã không nhìn ra được tầm quan trọng của ý tưởng ẩn đẳng sau những suy nghĩ của ông về những hình thức nhận thức khác nhau. Và do không thấy được tầm quan trọng của ý tưởng đó, đương nhiên ông đã không thấy được vị trí trung tâm mà ý tưởng về sự vắng bóng ý thức và ý tưởng về việc tạo ra ý thức đó một cách tự nguyện cần phải có trong tư duy của chúng ta. Chỉ có điều tôi thấy khá lạ là Volinsky đã không thấy được điều này, kể cả khi tôi đã chỉ nó ra cho ông.

Sau đó tôi tin chắc rằng ý tưởng này đã bị che khuất bởi một tấm màn bất khả xâm phạm đối với nhiều người vốn rất thông minh – và phải rất lâu sau tôi mới hiểu được vì sao lại như vậy.

Bài viết ở trên được trích từ những trang đầu tiên trong chương 7 của sách “Hành trình Tìm kiếm Điều Kỳ diệu“. Hãy xem trang này để đọc phần còn lại.


Samael Aun Weor viết rất nhiều về việc nhớ đến chính mình trong các bối cảnh khác nhau của công việc rèn luyện Gnosis. Thầy cũng đưa ra nhiều ví dụ cụ thể để hiểu về nhớ bản thân hoặc cần phải làm gì, quan sát gì hay ý thức về cái gì. Dưới đây, chúng tôi trích dẫn một số đoạn để làm rõ hơn ý này.

Con người bị mê hoặc không nhớ đến chính mình. Chúng ta phải tự nhớ đến chính mình trong từng khoảnh khắc. Chúng ta cần phải tự nhớ đến chính mình trước sự hiện diện của mọi hình tướng có thể mê hoặc chúng ta. Chúng ta hãy dừng lại trước mỗi hình tướng và hãy tự hỏi: Tôi đang ở đâu? Có lẽ tôi đang ở trong cõi vật chất? Có lẽ tôi đang ở trong cõi Cảm xúc? Sau đó hãy nhảy một chút với ý định trôi nổi trong bầu không khí xung quanh. Sẽ hợp lý nếu chúng ta nổi lên bởi vì chúng ta đang ở bên ngoài cơ thể vật chất. Kết quả sẽ là sự thức tỉnh của Tâm thức. Mục tiêu của câu hỏi này tại mỗi khoảnh khắc, tại mỗi thời điểm, là khắc sâu nó vào tiềm thức để sau đó nó hoạt động trong những lúc ngủ, trong những lúc mà cái Tôi đang ở bên ngoài cơ thể vật chất.

(Samael Aun Weor, Tâm Lý Học Cho Sự Chuyển Hóa Triệt Để)


Chúng ta phải biết cách chú tâm mà không đồng nhất [bản thân với đối tượng]. Khi chúng ta chú ý đến một cái gì đó hoặc ai đó và chúng ta quên đi chính mình, thì kết quả là sự thôi miên và mê ngủ của tâm thức.

Hãy quan sát cẩn thận một người xem phim: anh ta đang ngủ mê, phớt lờ mọi thứ và phớt lờ bản thân mình; Anh ta trống rỗng bên trong và trông giống như đang mộng du; anh ta mơ mộng về bộ phim và về người nhân vật chính của bộ phim mà anh ta đang xem. […]

Khi chúng ta phân chia sự chú tâm ra ba phần: chủ thể, đối tượng, nơi chốnđó chính là sự chú tâm có ý thức.

Khi chúng ta không mắc lỗi đồng nhất bản thân với sự vật, con người và ý tưởng, thì chúng ta sẽ tiết kiệm năng lượng sáng tạo; đây là cách chúng ta đẩy nhanh sự thức tỉnh của tâm thức ở bên trong chúng ta.

(Samael Aun Weor, Fundamentals of Gnostic Education)


Ví dụ như, một người đang tuyệt vọng về một vấn đề tình cảm, kinh tế, hay chính trị nào đó thì hẳn là đã quên mất chính bản thân mình…

Một người như thế, nếu anh ấy dừng lại một chút, nếu anh ấy quan sát tình huống và cố nhớ đến chính mình và rồi nỗ lực tìm hiểu nguyên nhân tâm lý của thái độ của mình…

Nếu anh ta suy ngẫm một chút, nghĩ rằng mọi thứ rồi sẽ trôi qua, rằng cuộc sống chỉ là ảo tưởng, thoáng qua, và rằng cái chết sẽ biến tất cả mọi phù hoa thành tro bụi…

Nếu anh ta hiểu rằng vấn đề của mình, xét tận gốc gác, cũng chỉ là nhất thời, là một ngọn lửa thoáng qua chóng tàn, anh ta sẽ nhanh chóng ngỡ ngàng nhận ra rằng mọi thứ đã thay đổi…

Việc chuyển hóa các phản ứng máy móc có thể được thực hiện qua việc tranh luận tư duy và tự suy ngẫm một cách sâu sắc về Bản thân…

(Samael Aun Weor, Chuyển Hóa Các Ấn Tượng Tâm Lý, Chương 3)


Tự quan sát bên trong bản thân mình là một phương tiện thiết thực để đạt được sự thay đổi triệt để.

Biết và quan sát là hai việc khác nhau. Nhiều người nhầm lẫn việc quan sát bản thân với việc biết. Biết rằng mình đang ngồi trên một chiếc ghế trong phòng chờ không có nghĩa là chúng ta đang quan sát chiếc ghế đó.

Tại một thời điểm nào đó chúng ta biết rằng mình đang rơi vào trạng thái tiêu cực, có lẽ chúng ta gặp vấn đề gì đó hoặc lo lắng về việc này hay việc kia, hoặc rơi vào tình trạng bất an hoặc mất tự tin, v.v. nhưng không có nghĩa là chúng ta đang quan sát những trạng thái đó.

Bạn có cảm thấy khó chịu với ai đó không? Bạn có không thích ai đó không? Tại sao? Bạn nói rằng bạn biết người đó rồi… Làm ơn, hãy quan sát nó đã! Việc biết không bao giờ giống với việc quan sát; đừng nhầm lẫn…

Quan sát bản thân là việc chủ động một trăm phần trăm. Nó là một phương tiện để thay đổi chính mình, trong khi việc biết thì không, nó thụ động. (Đọc thêm về Quan sát bản thân).

(Samael Aun Weor, Chương 21, Tâm Lý Học Cho Sự Chuyển Hóa Triệt Để)


Gửi phản hồi