Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Hôn Nhân Hoàn Hảo
Có một số nghi lễ hắc ám được lưu truyền từ những thời đại cổ xưa nhất trong lịch sử. Các nữ phù thủy xứ Thessaly từng thực hiện những nghi lễ ở nghĩa trang hoặc trong các hầm mộ để triệu gọi các bóng ma của người đã khuất. Vào ngày giỗ của người thân, họ tụ họp bên mộ phần trong nghĩa trang và, giữa tiếng gào thét ghê rợn, họ chích vào ngực mình cho máu chảy ra. Máu là phương tiện để các vong linh sử dụng nhằm hiện hình trong thế giới vật chất.
Trong sử thi Odyssey (Ô-đi-xê), điểm đạo đồ vĩ đại Homer đã kể về một nghi lễ do một phù thủy thực hiện trên đảo Calypso, nơi nữ thần Circe độc ác cai trị. Vị tư tế đã cắt cổ con vật tế và đổ máu vào trong một cái hố, rồi gọi hồn nhà tiên tri thành Thebes. Homer kể rằng nhà tiên tri đó đã đến theo tiếng gọi và có thể hiện thân hoàn toàn nhờ có máu. Nhà tiên tri thành Thebes đã nói chuyện riêng với Ulysses và cho anh ta nhiều lời tiên đoán.

Tác giả thông thái của cuốn Zarathustra đã nói: “Hãy viết bằng máu và bạn sẽ học được rằng máu chính là tâm linh.”1 Goethe cũng từng thốt lên qua lời nhân vật Mephistopheles của mình rằng: “Đây là một chất lỏng rất đặc biệt.”
Bữa Tiệc Ly

Bữa Tiệc Ly là một nghi lễ kỳ diệu có sức mạnh vô cùng to lớn. Nó rất giống với nghi lễ cổ xưa của Hội Huynh đệ Máu. Truyền thống của hội huynh đệ này kể rằng nếu một nhóm người cùng hòa máu của họ trong một cốc rồi uống, thì họ sẽ vĩnh viễn gắn kết với nhau qua máu. Cơ thể cảm xúc của những người này sẽ được gắn kết mật thiết đến muôn đời. Người Do Thái cũng gán cho máu những đặc tính rất đặc biệt.
Bữa Tiệc Ly là một nghi lễ máu. Mỗi sứ đồ đều nhỏ vài giọt máu vào cốc của mình, rồi họ đổ những giọt máu này vào chiếc ly của Chúa Giêsu. Đấng Đáng Kính cũng đã nhỏ giọt máu hoàng gia của mình vào chiếc ly đó. Như vậy, máu của Chúa Giêsu Kitô đã hòa lẫn với máu của các môn đệ trong chiếc chén thánh.
Truyền thống kể lại rằng Chúa Giêsu cũng đã ban cho các môn đệ những phần xác thịt vô cùng nhỏ của mình để ăn.
Cũng vậy, Chúa Giêsu cầm một cái bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra rồi đưa cho họ và nói:
“Bánh này là thân thể tôi, được hiến dâng cho anh em. Hãy tiếp tục làm việc này để nhớ đến tôi”. Sau bữa ăn tối, ngài cũng cầm ly, làm như vậy và nói: “Ly này là hiệp ước mới, được lập bằng huyết tôi được đổ ra vì anh em.”
(Lu-ca 22:19-20)
Bằng cách này, hiệp ước đã được ký kết. Mọi hiệp ước đều được ký bằng máu. Cơ thể cảm xúc của Chúa Giêsu Kitô đã gắn kết, hòa làm một với các môn đệ và với toàn thể nhân loại thông qua hiệp ước máu. Đấng Đáng Kính chính là Đấng Cứu Thế. Nghi thức máu này cổ xưa như chính sự Vĩnh Hằng. Tất cả các Avatar vĩ đại đều đã thực hiện nghi lễ này từ thời xa xưa. Vị Chúa tể vĩ đại của Atlantis cũng đã thực hiện một Bữa Tiệc Ly với các môn đệ của Ngài.
Nghi thức máu này không phải là sáng kiến của chân sư [Giêsu] thiêng liêng. Đó là một nghi lễ vô cùng cổ xưa, là nghi lễ máu của các Avatar vĩ đại.2
Bất kể là trong giáo phái hay tín ngưỡng nào, trường phái hay tôn giáo nào, mọi lễ Thánh Thể3 của Gnosis đều có liên quan và gắn kết mật thiết với Bữa Tiệc Ly của Đấng Kính Yêu thông qua hiệp ước máu.
Giáo hội Kitô-giáo Gnosis nguyên thủy thiêng liêng vẫn bảo tồn bí mật về các nghi lễ nguyên thủy mà các sứ đồ đã thực hiện. (Chúng tôi có vinh dự được là thành viên của giáo hội này.) Đó là những nghi lễ mà các tín đồ Kitô giáo đã thực hiện khi tụ họp trong các hầm mộ ở thành phố Rôma vào thời hoàng đế Nero. Đó cũng là những nghi lễ của giáo phái Essene,4 một đoàn phái khiêm tốn gồm những điểm đạo đồ vĩ đại, trong đó có cả Chúa Giêsu Kitô. Đây chính là những nghi lễ nguyên thủy của các tín đồ Kitô giáo cổ xưa.
Những nghi lễ này có sức mạnh. Toàn bộ khoa học huyền bí của Đại Bí Ẩn5 được ẩn chứa trong đó. Khi cử hành nghi lễ, chúng ta trì tụng những câu thần chú có sức mạnh thăng hoa năng lượng tình dục lên trái tim. Đấng Kitô nội tại ngự trong đền thờ trái tim. Khi năng lượng tình dục được thăng hoa lên trái tim và hòa quyện cùng lực thiêng của Đấng Kitô nội tại, một niềm hạnh phúc lớn lao khai mở cánh cửa dẫn vào các cõi siêu việt.
Các nghi lễ của chúng ta được lặp lại trên cả bảy cõi của đại vũ trụ. Mỗi nghi lễ thiết lập một kênh kết nối bí mật từ thế giới vật chất, xuyên qua toàn bộ bảy cõi vĩ đại, đến thế giới của Ngôi lời Thái dương. Các nguyên tử Kitô từ Ngôi lời Thái dương đi xuống qua kênh này và tích tụ trong bánh mì và rượu vang. Chính nhờ sự hóa thể mà bánh và rượu trở thành thịt và máu của Đức Kitô. Khi ăn bánh và uống rượu, các nguyên tử Kitô lan tỏa khắp thân thể và thấm nhập vào các cơ thể nội tại, đánh thức sức mạnh thái dương trong chính chúng ta.
Các Sứ đồ đã uống máu của Đức Kitô và đã ăn thịt của Đức Kitô.

Năng Lượng Tình Dục và Nghi Lễ
Trong tác phẩm “La Zarza de Horeb”6 của bác sĩ Adoum hay còn gọi là Magus Jefa,7 có một đoạn mô tả thánh lễ Misa đen ở thời Trung cổ. Bác sĩ Adoum trích dẫn đoạn này từ tác phẩm của Huysmans. 8 Đoạn mô tả này thú vị đến nỗi chúng tôi không thể không chia sẻ với quý độc giả. Dưới đây là đoạn trích dẫn:
“Theo thông lệ, một linh mục sẽ hành lễ. Ông ta cởi bỏ toàn bộ y phục, sau đó khoác lên bộ áo lễ thông thường. Trên bàn thờ là một phụ nữ khoả thân, đó thường là người có điều muốn cầu xin.9
Có hai phụ nữ khoả thân phụ lễ; đôi khi là hai thiếu nữ, và các em này nhất định phải khoả thân. Những người dự lễ có thể mặc quần áo hoặc khoả thân tùy theo ý thích cá nhân. Linh mục thực hiện các nghi thức của buổi lễ, trong khi những người dự lễ theo dõi với những cử chỉ tục tĩu. Bầu không khí dần dần tích tụ năng lượng cho đến khi đạt tới đỉnh cao của trạng thái tiếp dẫn. Mọi yếu tố đều hòa cùng môi trường: sự im lặng, bóng tối, sự tập trung. Bầu khí quyền lúc này có sức hút mạnh, khiến người dự lễ dễ dàng tiếp xúc với các tinh linh.
Nếu trong nghi lễ này, người phụ nữ nằm trên bàn thờ tập trung suy nghĩ vào một ham muốn, thì năng lượng có thể thực sự được dẫn truyền. Sự dẫn truyền này khiến đối tượng của ham muốn đó bị ám ảnh. Đó chính là mục tiêu của người phụ nữ này. Ngay trong hôm đó hoặc vài ngày sau, người ta chứng kiến điều cô ta mong muốn trở thành hiện thực, và họ cho rằng đó là kết quả từ sự hào phóng của Satan. Tuy nhiên, môi trường nạp đầy năng lượng này luôn có một khía cạnh bất lợi: nó khiến hệ thần kinh trở nên căng thẳng và có thể gây ra một cơn cuồng loạn ở một số người tham dự, đôi khi lan thành một cuộc kích động tập thể.
Không có gì lạ khi thấy những người phụ nữ có lúc phát điên và xé rách quần áo, còn những người đàn ông thì buông thả hỗn loạn. Chẳng mấy chốc, hai hoặc ba phụ nữ thậm chí còn ngã vật xuống đất trong những cơn co giật dữ dội. Đó đơn thuần là những người đồng cốt bị hôn mê. Người ta nói rằng những phụ nữ này bị vong nhập, và mọi người xung quanh đều tỏ ra hài lòng.

Chuyện của Huysmans do bác sĩ Adoum ghi lại kết thúc ở đây. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể nhận thấy cách người ta lạm dụng các nghi lễ và năng lượng tình dục để thực hiện những hành vi tà ác khủng khiếp. Rõ ràng là trong một nghi lễ như vậy, trạng thái siêu kích thích thần kinh mang tính dục vọng sẽ kích hoạt dữ dội một dạng năng lượng tâm trí được bão hòa bởi năng lượng sáng tạo. Kết quả của một nghi lễ như thế chính là hiện tượng ma thuật.
Mọi nghi lễ đều liên quan đến máu và tinh dịch. Nghi lễ là một thanh gươm hai lưỡi: nó bảo vệ và ban sức sống cho những ai thanh khiết và đức hạnh, nhưng lại gây thương tổn và hủy diệt những kẻ ô uế và tăm tối. Nghi lễ còn mạnh hơn cả thuốc nổ và dao găm.
Trong một nghi lễ, chúng ta làm việc với năng lượng hạt nhân. Năng lượng hạt nhân là một món quà từ Thượng Đế — nó có thể chữa lành cũng như hủy diệt. Vì vậy, mọi đền thờ cử hành lễ Thánh Thể Gnosis thực sự là một nhà máy năng lượng hạt nhân.
Các pháp sư hắc ám ở Atlantis cũng đã sử dụng những nghi lễ tương tự, kết hợp với năng lượng tình dục. Hậu quả của sự lạm dụng này đã khiến lục địa Atlantis chìm xuống biển, mặc dù lục địa này từng có một nền văn minh cực kỳ phát triển.

Năng lượng tính dục có liên hệ mật thiết với bốn yếu tố tự nhiên. Tất cả các nghi lễ đen và các thánh lễ đen đều để lại những hậu quả tai hại trong tự nhiên. Giờ đây chúng ta đã hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của Atlantis.
Năng lượng tình dục giống như điện; nó hiện diện khắp nơi. Đó là năng lượng trong các hạt electron. Năng lượng ấy tuôn chảy trong hạt nhân của mỗi nguyên tử và ở trung tâm của các tinh vân. Không có năng lượng này thì cũng không thể có các hành tinh trong vũ trụ vô hạn. Đây chính là năng lượng sáng tạo của Logos thứ ba.10 Cả pháp sư trắng lẫn pháp sư đen đều làm việc với năng lượng này. Pháp sư trắng thực hành nghi lễ trắng, còn pháp sư đen thực hành nghi lễ đen.
Bữa Tiệc Ly của Đấng Cứu Thế Kính Yêu là một truyền thống vô cùng cổ xưa, nguồn gốc của nó đã bị lãng quên trong màn đêm của các thế kỷ. Thánh lễ đen và tất cả các nghi lễ đen của các pháp sư hắc ám đều khởi nguồn từ một quá khứ tối tăm cổ xưa. Trong mọi thời đại luôn có hai dạng nghi lễ: một thuộc về ánh sáng và một thuộc về bóng tối.
Nghi lễ chính là phép thuật thiết thực. Các pháp sư đen vô cùng căm ghét Thánh Thể. Những pháp sư bóng tối luôn biện minh cho sự thù ghét của họ đối với nghi lễ bánh và rượu bằng đủ cách. Đôi khi họ áp đặt lên sách Phúc Âm những cách diễn giải kỳ quái theo huyễn tưởng của riêng mình. Chính tiềm thức đã phản bội họ. Họ tìm mọi cách để bãi bỏ Bữa Tiệc Ly. Họ thù ghét Bữa Tiệc Ly của Đấng Đáng Kính.
Học trò cần phải cảnh giác và tỉnh táo trước hạng người nguy hiểm này. Bất kỳ ai thù ghét nghi lễ của Bữa Tiệc Ly đều là pháp sư đen. Ai từ chối bánh và rượu vang trong lễ Thánh Thể Gnosis thì thực chất là đang từ chối chính thịt và máu của Đức Kitô. Những người như thế đều là pháp sư đen.
Giáo Hội Gnosis
Có bốn con đường vô cùng quan trọng mà mọi cuộc Hôn Nhân Hoàn Hảo cần phải biết:
- Con đường của Fakir
- Con đường của thầy tu
- Con đường của Yogi
- Con đường của người cân bằng
Phong trào Kitô giáo Gnosis phổ quát có trường học và có tôn giáo.
- Con đường của Fakir được trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, qua việc học cách sống ngay thẳng.
- Con đường của thầy tu nằm trong giáo hội của chúng ta, nơi có các bí tích, các nghi lễ và đời sống tu viện.
- Con đường của Yogi liên quan đến thực hành tâm linh – chúng ta có các bài thực hành tâm linh, những bài tập đặc biệt để khai mở các năng lực tiềm ẩn trong con người.
- Con đường thứ tư là con đường của người khôn ngoan.11 Chúng ta sống con đường này qua thực hành, trong sự cân bằng hoàn hảo. Chúng ta học thuật luyện kim đan và Kabbalah. Chúng ta nỗ lực làm tan rã cái tôi tâm lý.
Chúng tôi không phải thành viên của Giáo hội Công giáo La Mã. Giáo hội La Mã chỉ đi theo con đường của thầy tu. Chúng tôi thực hành cả bốn con đường. Trong tôn giáo Gnosis có con đường của thầy tu, với các Giáo trưởng, Tổng giám mục, Giám mục và Linh mục. Vì vậy, chúng tôi không thuộc về Giáo hội La Mã. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không chống lại bất kỳ tôn giáo, trường phái hay giáo phái nào. Nhiều linh mục của Giáo hội La Mã đã gia nhập vào hàng ngũ của chúng tôi.
Nhiều người từ khắp các tổ chức đã tham gia vào Phong trào Gnosis. Giáo hội Gnosis là một hệ thống hết sức toàn diện. Trên con đường của Fakir, chúng tôi học cách sống ngay thẳng. Trên con đường của thầy tu, chúng tôi phát triển đời sống cảm xúc. Trên con đường của Yogi, chúng tôi thực hành các bài tập tâm linh nhằm đánh thức những năng lực huyền bí tiềm ẩn trong con người. Trên con đường của người cân bằng, chúng tôi rèn luyện phép luyện kim đan và Kabbalah, đồng thời nỗ lực tan rã cái tôi.
Giáo hội Gnosis là giáo hội siêu việt. Giáo hội này tồn tại ở trong các cõi siêu việt. Chúng tôi cũng có nhiều đền thờ ở thế giới vật chất. Hơn nữa, chúng tôi đã mở hàng ngàn Lumisial12 Gnosis – nơi thành viên cử hành các nghi lễ thiêng liêng và nghiên cứu giáo lý huyền bí của Đấng Cứu Thế Đáng Kính.13 Đừng quên rằng phong trào Gnosis vừa là một trường học, vừa là một tôn giáo.
Chúa Giêsu Kitô là một người theo Gnosis. Điều này đã được chứng minh một cách rõ ràng. Đấng Cứu Thế là một thành viên tích cực của trường phái Essene, trường phái của những nhà thần bí không bao giờ cắt tóc hay cạo râu. Giáo hội Gnosis là Giáo hội Kitô giáo nguyên thủy chân chính, với vị giáo hoàng đầu tiên là thánh Phêrô – ngài là một điểm đạo đồ Gnosis. Phaolô thành Tarsus cũng là thành viên của giáo hội này. Ông theo trường phái Nazarene. Nazarene là một trường phái Gnosis khác. Giáo hội Kitô giáo nguyên thủy là gốc rễ huyền học chân chính, từ đó đã tách ra nhiều trường phái Kitô giáo mới như Công giáo La Mã, Tin Lành, Cơ Đốc Phục Lâm, Giáo hội Armenia, v.v.
Chúng tôi đã quyết tâm công bố nguồn gốc đích thực của Kitô giáo: đó chính là Gnosis. Đây là Giáo hội Kitô giáo nguyên thủy. Đại giáo trưởng Basilides cũng thuộc giáo hội này. Ông là một nhà luyện kim đan nổi tiếng, đã để lại một cuốn sách bằng chì gồm bảy trang. Theo chân sư Krumm‑Heller, cuốn sách này vẫn được lưu giữ tại bảo tàng Kircher ở Vatican. Các nhà khảo cổ học không thể hiểu được cuốn sách này vì đó là sách của khoa học huyền bí. Basilides là môn đồ của thánh Ma‑thi‑ơ.14
Công giáo La Mã ngày nay không phải là Công giáo đích thực. Công giáo chân chính và đúng đắn là Công giáo Kitô Gnosis nguyên thủy. Giáo phái La Mã hiện tại chỉ là một trường phái đi lệch khỏi Công giáo Gnosis nguyên thủy. Đây chính là lý do căn bản khiến chúng tôi hoàn toàn tách mình khỏi giáo phái La Mã.
15Giáo hội Công giáo Kitô Gnosis nguyên thủy từng có những vị thánh như Saturninus thành Antioch – một nhà Kabbalah nổi tiếng, Simon Magus16 – đáng tiếc là ông đã đi lệch đường, Carpocrates – người sáng lập một số tu viện Gnosis tại Tây Ban Nha, Marcion thành Ponto, Thánh Thomas, Valentin, Thánh Augustin – bậc thầy vĩ đại của các đại bí ẩn, Tertullian, Thánh Ambrosius, Irenaeus, Hippolytus thành Roma, Epiphanius, Clement thành Alexandria, Máccô – bậc thầy Gnosis vĩ đại đã bảo tồn Lễ Thánh Thể của Gnosis và truyền lại những giáo pháp phi thường về con đường của năng lượng tình dục thông qua mười hai cổng hoàng đạo trong cơ thể con người. Ngoài ra còn có Cerdo, Empedocles, Thánh Jerome cùng nhiều vị thánh khác thuộc Giáo hội Công giáo Kitô Gnosis nguyên thủy, mà giáo phái La Mã hiện nay đã đi lệch khỏi truyền thống đó.
Bí Tích

Trong Giáo hội Gnosis chúng tôi có lễ Báp-tem,17 bí tích Thánh Thể với bánh mỳ và rượu vang, bí tích Hôn Phối, bí tích Hòa Giải – là những buổi trò chuyện thân mật giữa thầy và trò – và cuối cùng là bí tích Xức Dầu Sau Cùng.18
Lễ thành hôn Gnosis trong nhà thờ siêu việt thật sự rất đặc biệt. Trong bí tích này, người phụ nữ mặc áo tràng của nữ tư tế Gnosis và sau đó được gả làm vợ cho người chồng. Các thánh sư cử hành nghi lễ, và người vợ được nhận với lời cam kết sẽ không tà dâm.
Đức Kitô
Giáo hội Gnosis thờ Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu. Giáo hội Gnosis biết rằng Chúa Giêsu đã hiện thân Đức Kitô, và đó là lý do vì sao chúng ta tôn thờ Ngài. Đức Kitô không phải là một cá nhân phàm trần hay thần thánh. Đức Kitô là danh hiệu được trao cho mọi bậc chân sư đã hoàn toàn khai ngộ bản thể. Đức Kitô là Quân Đoàn của Ngôi Lời,19 là chính Ngôi Lời – vượt lên trên thân xác, linh hồn và tâm linh. Bất kỳ ai hiện thân được Ngôi Lời đều chính thức nhận danh hiệu “Kitô”. Đức Kitô chính là Ngôi Lời. Mỗi người trong chúng ta cần hiện thân Ngôi Lời trong chính xác thịt của mình.
Khi Ngôi Lời trở thành xác thịt trong ta thì chúng ta sẽ nói bằng Ngôi Lời của Ánh Sáng. Hiện nay đã có một số chân sư hiện thân được Đức Kitô. Ở Ấn Độ huyền bí, bậc Yogi Kitô Babaji,20 còn gọi là Babaji bất tử, vẫn còn sống sau hàng triệu năm. Kuthumi,21 đại chân sư của trí tuệ, cũng đã hiện thân Đức Kitô. Sanat Kumara, người sáng lập hội điểm đạo đồ vĩ đại của Bạch Hội Quán, cũng là một Đức Kitô sống. Trong quá khứ, đã có nhiều người hiện thân Đức Kitô. Hiện tại, đã có một số người hiện thân Đức Kitô. Trong tương lai, sẽ có nhiều người nữa hiện thân Đức Kitô. Giăng Báp-tít cũng là một Đức Kitô sống. Sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và các chân sư khác đã hiện thân Đức Kitô nằm ở cấp bậc: Chúa Giêsu là điểm đạo đồ Thái Dương cao nhất của vũ trụ.
Phục Sinh
Chân sư tối cao Giêsu vĩ đại hiện vẫn đang sống trong cơ thể vật chất mà Ngài đã phục sinh từ cõi chết. Ngài hiện đang sống tại Shambhala, một vùng đất bí mật ở miền Đông Tây Tạng. Cùng với bậc đại chân sư tối cao là nhiều vị chân sư phục sinh khác đang sống và làm việc trong Công Trình Vĩ Đại của Đức Cha.
Lễ Thánh Thể
Trong trạng thái định, vị linh mục của giáo lý bí mật sẽ lĩnh hội được chất liệu Kitô. Họ sử dụng phép thần thông để truyền năng lượng của chính mình vào bánh và rượu. Từ đó, họ đánh thức chất liệu Kitô tiềm ẩn trong bánh và rượu, nhằm thực hiện những phép màu cần thiết cho việc đánh thức các năng lực Kitô trong các cơ thể nội tại.
Lễ Phục Thiêng
Trong các đại giáo đường Gnosis, linh mục Gnosis thường mặc ba loại lễ phục giống như của linh mục Công giáo: áo dòng (cassock), áo lễ trắng bên trong (rochet) và áo lễ ngoài (chasuble).


Ba loại lễ phục này vốn thuộc về Giáo hội Công giáo Kitô Gnosis nguyên thủy. Ngoài áo lễ, linh mục còn đội mũ lễ (bonete). Ba lớp áo được mặc chồng lên nhau, tượng trưng cho thể xác, linh hồn và tâm linh — hay tương ứng với cõi vật chất, cõi cảm xúc và cõi tâm linh. Chiếc mũ là biểu tượng cho con người. Khi giảng pháp, linh mục đội mũ để biểu thị rằng những lời được thuyết giảng chỉ là ý kiến cá nhân.
Trong các đền Lumisial của Gnosis, linh mục mặc một áo choàng màu xanh da trời với dây lưng trắng buộc ngang eo. Họ cũng đi dép. Các nữ tư tế Isis trong đền thờ (Lumisial Gnosis) chỉ đội một tấm voan trắng trùm đầu. Đơn giản vậy thôi.
Trước đây, chúng tôi đã từng yêu cầu những người dự lễ mặc áo của riêng mình — một chiếc áo giống như lễ phục mà bản thể nội tâm của họ mặc, tương ứng với cấp độ tâm linh của mỗi người. Tuy nhiên, sau đó chúng tôi buộc phải chấm dứt tập tục này do nhiều người lạm dụng, tự cho mình là những điểm đạo đồ cao cấp, đã mặc những áo choàng lộng lẫy và tự đặt cho mình những pháp danh hoa mỹ. Hơn nữa, điều này làm nảy sinh lòng kiêu ngạo. Trong nghi lễ, có người khi thấy mình mặc áo tương ứng với một cấp bậc nào đó thì liền sinh lòng tự phụ và coi thường những người ở cấp độ tâm linh thấp hơn.
Bàn Thờ Làm Lễ
Bàn thờ lễ phải được làm bằng đá. Hãy nhớ rằng chúng ta đang làm việc với Viên Đá Triết Học – tức là tình dục. Bàn thờ cũng tượng trưng cho Đất Triết Học. Chén thánh – bao gồm phần chân, thân và phần chén – tượng trưng cho đóa hoa. Biểu tượng này mang ý nghĩa rằng tinh chất Kitô của Mặt Trời đi vào tử cung của Trái Đất, làm cho hạt giống nảy mầm, lúa trổ bông, và cuối cùng kết trái – đó chính là hạt lúa mì.

Sau khi ra hạt thì phần còn lại chết đi. Toàn bộ sức mạnh Kitô của Mặt Trời được kết tinh trong hạt lúa mì. Quá trình tương tự cũng xảy ra với rượu vang: Mặt Trời làm cho quả nho chín, và toàn bộ sức mạnh Kitô của Mặt Trời được chứa đựng trong quả nho ấy. Trong Lễ Thánh Thể Gnosis, toàn bộ sức mạnh Kitô Thái Dương được giải phóng khỏi bánh và rượu vang. Sau đó, những sức mạnh đó hoạt động trong cơ thể chúng ta để Kitô-hóa chúng ta.
Lễ Hiển Linh
Lễ Hiển Linh là sự hiện thân, sự mặc khải, hoặc sự thăng thiên của Đức Kitô trong chúng ta. Theo thầy Krumm Heller, nhà thần học vĩ đại Dietrich đã từng nói:
“Để đạt được sự kết nối hay hợp nhất với Đấng Thiêng Liêng như mong muốn, chúng ta cần đi theo bốn con đường:
- Đón nhận Đức Chúa (Bí tích Thánh Thể)
- Hợp nhất trong tình yêu (Phép tình dục)
- Tình yêu hiếu thảo (Cảm nhận mình là con của Đức Cha)
- Chết và phục sinh.
Học trò Gnosis sống trọn vẹn theo bốn con đường này.
Pretor
Trong các cõi siêu việt có một nhà thờ Gnosis – đó chính là giáo đường của linh hồn. Tại giáo đường này, các nghi lễ được cử hành vào sáng thứ Sáu và Chủ Nhật, hoặc bất cứ khi nào cần thiết để mang lại lợi ích cho nhân loại. Nhiều môn đồ xuất hồn tham dự lễ “Pretor”22 trong cơ thể cảm xúc. Ngoài ra, còn có một số “vận động viên” của khoa học Jinn mang theo cả cơ thể vật chất đến dự lễ Praefor. Tại đó, tất cả các môn đồ đều có diễm phúc được nhận bánh và rượu thánh.
Chìa khóa để chủ động xuất hồn trong cõi cảm xúc
Chìa khóa để xuất hồn ở cõi cảm xúc rất đơn giản: chỉ cần chìm vào giấc ngủ trong khi niệm thầm câu thần chú đầy sức mạnh PHA-RA-ÔN. Câu chú này được chia ra làm ba âm: PHA, RA, ÔN.
Khi đã đạt tới trạng thái chuyển tiếp giữa thức và ngủ, hướng sâu vào bên trong bằng cách tự quan sát với ý thức tỉnh táo. Sau đó, hãy nhẹ nhàng nhảy ra khỏi giường, đồng nhất hoàn toàn với tâm linh mềm mại và linh hoạt.
Trong cơ thể cảm xúc, học trò có thể đến tham dự “Pretor”. Những người chưa tạo ra được cơ thể cảm xúc Kitô-hóa phải chịu nhiều gian nan, vì họ phải trải qua hàng ngàn thử thách và quá trình rèn luyện gian khổ mới học được cách xuất hồn. Ngược lại, những người đã tạo ra cơ thể cảm xúc Kitô-hóa trong các kiếp trước thì có thể rời khỏi thể xác vật chất một cách dễ dàng.
Chìa khóa để đưa cơ thể vật chất vào trạng thái Jinn
Hãy tập trung vào chân sư Oguara.23 Trong khi chìm vào giấc ngủ, hãy trì niệm lời cầu nguyện sau:
“Con tin vào Đức Kitô, con tin vào Oguara, Babaji, Mataji24 và các bậc thầy của khoa học Jinn. Xin hãy đưa con ra khỏi giường với cơ thể vật chất. Xin dẫn con đến nhà thờ Gnosis với cơ thể vật chất trong trạng thái Jinn.”
Hãy đọc lời cầu nguyện này hàng nghìn lần. Chìm vào giấc ngủ trong khi đang đọc lời cầu nguyện ấy. Khi cảm thấy buồn ngủ nhiều hơn là tỉnh táo, khi cảm thấy cơ thể trở nên yếu ớt và uể oải, khi đã bị giấc ngủ xâm chiếm và bắt đầu mơ, thì hãy đứng dậy, ra khỏi giường, nhưng vẫn giữ chặt trạng thái ngủ như một người keo kiệt giữ chặt lấy kho báu của mình.
Tất cả sức mạnh đều nằm ở trạng thái ngủ. Vào thời khắc này, những lực lượng mạnh mẽ sẽ hoạt động để nâng cao mức rung động của cơ thể vật chất bằng cách tăng tốc chuyển động của các nguyên tử lên đến mức khó tin. Khi ấy, cơ thể vật chất sẽ nhập vào trạng thái Jinn và đi vào siêu không gian. Nếu nhảy lên với ý định lơ lửng trong không trung, bạn sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng mình có thể bay. Trong trạng thái này, chúng ta trở nên vô hình đối với thế giới vật chất và có thể đến tham dự lễ “Pretor”.
Khi cơ thể vật chất bắt đầu nhập vào trạng thái Jinn, nó sẽ trông như bị bơm phồng lên, từ dưới lên trên, bắt đầu từ mắt cá chân. Nói đúng hơn thì cơ thể vật chất không thực sự phồng lên, mà là do các lực từ cõi cảm xúc thâm nhập vào, làm cho cơ thể trông như bị phồng lên.
Thông tin chung về các nghi lễ Gnosis
Đối với các tín đồ phàm tục của Giáo hội La Mã, khi vị chủ lễ Công giáo rời bên Bức thư để đi sang bên Phúc Âm,25 điều đó tượng trưng cho hành trình của Đức Kitô từ Hêrôđê26 sang đến Philatô.27 Tuy nhiên, đối với các linh mục Gnosis, đó là sự chuyển di từ thế giới này sang thế giới khác sau khi chết.
Bốn mùa
Linh mục Gnosis mặc một loại lễ phục khác nhau trong mỗi mùa. Trong cõi cảm xúc có các thiên thần thay phiên nhau trong công việc giúp đỡ nhân loại. Rafael vào mùa xuân, Uriel vào mùa hè, Michael vào mùa thu, Gabriel vào mùa đông. Tất cả các thiên thần này đều tham dự các nghi lễ Gnosis để giúp đỡ chúng ta.
Kinh Lạy Cha
Ghi chú của dịch giả:
phần này nói về Kinh Lạy Cha. Phiên bản Kinh Lạy Cha của nhà thờ Gnosis là như sau:
Lạy Cha chúng con ở trên trời.
Nguyện danh Cha được tôn vinh,
vương quốc Cha được đến, ý Cha được nên,
dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực siêu việt,
và tha tội lỗi chúng con, như chúng con tha thứ cho người có lỗi với chúng con.
Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi điềm dữ.Hãy đọc bài viết này để tìm hiểu thêm.
Trong các lời cầu nguyện, “Kinh Lạy Cha” là lời nguyện có sức mạnh lớn nhất. Đây là một lời cầu nguyện huyền diệu với năng lực vô biên. Trí tưởng tượng, linh cảm và trực giác là ba con đường thiết yếu dẫn đến điểm đạo.
Thầy Huiracocha có nói như sau:
Trước hết, cần phải thấy thế giới tâm linh ở bên trong; sau đó, cần lắng nghe Ngôi Lời – hay còn gọi là Thần Ngữ – để cơ thể tâm linh có thể sẵn sàng đón nhận trực giác. Ba Ngôi này được ẩn chứa trong ba câu đầu tiên của Kinh Lạy Cha:
- “Nguyện danh Cha được tôn vinh”: đó chính là Ngôi Lời thiêng liêng, là Danh hiệu vĩ đại của Đức Chúa, là thần ngữ Sáng tạo.
- “Vương quốc Cha được đến”: tức là, khi trì niệm thần ngữ, khi xướng đọc các câu thần chú, vương quốc nội tâm của các bậc thầy thiêng liêng sẽ đến với chúng ta.
- “Ý Cha được nên, dưới đất cũng như trên trời.”: Đây chính là sự hợp nhất với Đức Chúa Cha, nơi mọi sự đều được hoàn tất.
Thầy Krumm-Heller nói rằng, ba lời nguyện này tạo thành một lời khẩn cầu trọn vẹn; và nếu một ngày nào đó đạt được ước nguyện, thì chúng ta sẽ trở thành thánh thần – và khi ấy, không còn cần cầu xin điều gì nữa.
Giáo hội Gnosis giữ gìn toàn bộ giáo lý bí truyền của Đấng Cứu Thế Đáng Kính. Đây là tôn giáo của hạnh phúc và vẻ đẹp. Giáo hội Gnosis là cội nguồn nguyên thủy của Công giáo La Mã và mọi trường phái thờ phụng Đức Kitô khác. Giáo hội Gnosis là giáo hội duy nhất vẫn còn gìn giữ giáo lý bí mật mà Đức Kitô đã truyền miệng cho các môn đồ của mình.
Chúng tôi không chống lại bất kỳ tôn giáo nào. Chúng tôi xin mời tất cả mọi người từ các truyền thống tôn giáo thiêng liêng, những người tôn thờ Đức Chúa, hãy đến và tìm hiểu giáo lý bí mật của chúng tôi.
Đừng quên rằng trên thế gian này có cả nghi thức của ánh sáng và của bóng tối. Chúng tôi là những người gìn giữ các nghi lễ bí mật của Đấng Cứu Thế Đáng Kính.
Chúng tôi không coi thường hay đánh giá thấp bất kỳ tôn giáo nào. Mọi tôn giáo đều là những viên ngọc quý xâu trên sợi chỉ vàng của Đấng Thiêng Liêng. Chúng tôi chỉ khẳng định rằng Gnosis là ngọn lửa nguyên thủy, nơi bắt nguồn của mọi tôn giáo trong vũ trụ. Thế thôi.
Ghi chú
- “Zarathustra” chỉ tác phẩm “Zarathustra đã nói như thế” (tiếng Đức: Also sprach Zarathustra) của Friedrich Nietzsche. Sách này đã phát hành bản dịch tiếng Việt. ↩︎
- Avatar trong tiếng Phạn là “hiện thân”. Ở mọi thời đại, có một vị thầy đưa ra một giáo lý để hướng dẫn quá trình phát triển tâm linh của con người ở thời đại đó. Trong bối cảnh này, đó là ý nghĩa của từ “Avatar”. ↩︎
- Lễ Thánh Thể (tiếng Anh: Unction), bắt nguồn từ tiếng Latinh unctionem, có nghĩa là “xức dầu”. Từ “lễ Thánh Thể” thường được hiểu là lễ xức dầu thánh; trong ngữ cảnh này, nó chỉ nghi lễ trong đó người ta chuẩn bị thức ăn và thức uống được ban phước, rồi dùng chúng. Thánh thể còn gọi là Eucharist, Tiệc thánh, Lễ Bẻ Bánh, là lễ ăn bánh thánh và nước nho (hay là rượu vang) trong các trường phái Kitô giáo. Lễ này có nguồn gốc từ đạo Do Thái. Bên cạnh đó, những nghi thức ăn bánh và uống rượu hoặc nước hoa quả cũng có mặt trong nhiều tôn giáo khác. Ví dụ về nghi lễ này có prasad của đạo Ấn, kiddush của người Do Thái, ganapuja/tsog/tsok (lễ cúng dường) của đạo Phật. Ai cũng có thể tự dùng thức ăn và nước uống đã được ban phước tại nhà, kể cả khi họ không thuộc một tôn giáo, giáo hội hay đền thờ nào. Thầy Samael Aun Weor có dạy cách làm lễ Thánh Thể tại nhà trong các sách “The Major Mysteries”, “Secret Notes of a Guru”, “The Seven Words”, và “Tarot & Kabbalah”. ↩︎
- Essenes là một giáo phái Do Thái huyền học xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 2 TCN, nổi bật với đời sống tách biệt, tuân thủ nghiêm ngặt luật Torah, sở hữu chung tài sản, và thực hành thanh tẩy tâm linh thường xuyên. Theo các sử gia cổ như Josephus, Philo và Pliny the Elder, Essenes sống trong các cộng đồng biệt lập như Qumran gần Biển Chết. Họ được xem là giữ vai trò then chốt trong truyền thống huyền học Do Thái và có ảnh hưởng gián tiếp đến tư tưởng Kitô giáo sơ khai. Xem thêm. ↩︎
- Đại Bí Ẩn (tiếng anh: Great Arcanum) chỉ phép tình dục thiêng. Đọc thêm. ↩︎
- La Zarza de Horeb (Tiếng Việ: Bụi Gai Hô-rếp): Tiêu đề của tác phẩm này đề cập đến Xuất Ai Cập Ký 3:1-5 trong Kinh Thánh. Đọc thêm. ↩︎
- Magus Jefa là pháp danh của Jorge Elías Francisco Adoum (March 10, 1897 – May 4, 1958), sinh ra ở Lebanon và định cư ở Ecuador. Ông làm bác sĩ thảo dược, dịch sách từ tiếng Ả-rập và viết hơn 40 tác phẩm về huyền học và Hội Tam Điểm. ↩︎
- Tác phẩm của Huysmans: Bác sĩ Adoum không nói cụ thể đó là tác phẩm nào của Huysmans. Nội dung trong đoạn này giống chủ đề của tác phẩm “Là Bas” của J.K. Huysmans. Tuy nhiên, dịch giả đã không tìm thấy câu chuyện này trong tác phẩm đó. ↩︎
- “Người có điều muốn cầu xin” (tiếng Pháp: demandatrice) – dịch theo nghĩa đen thì từ này là “nữ cầu xin”. Dịch giả Gnosis VN không hiểu rõ ý nghĩa trong bối cảnh này. Tuy nhiên, ở đoạn tiếp theo chúng ta thấy rằng với nghi thức này phụ nữ trên bàn có thể cầu xin điều gì đó và mong muốn sẽ thành sự thật. Bản gốc của tác phẩm này ghi “demandatriz”. Hình như đó là phiên âm tiếng Tây Ban Nha của từ “demandatrice”. ↩︎
- Logos thứ ba là Đức Thánh Linh. Đọc thêm. ↩︎
- Người khôn ngoan (tiếng Anh: Sly Man): Đây là cụm từ của G. I. Gurdjieff và P. D. Ouspensky. Đọc thêm. ↩︎
- Lumisial: nghĩa là “một nơi của ánh sáng”. Đây là đền thờ của truyền thống Gnosis. ↩︎
- Đấng Cứu Thế Đáng Kính chỉ Chúa Giêsu. ↩︎
- Basilides thành lập một trường phái Kitô giáo Gnosis ở thế kỷ thứ 2. Ông nói rằng ông đã học giáo pháp đó từ Sứ Đồ Ma-thi-ơ, là tông đồ của Chúa Giêsu. ↩︎
- Marcion thành Ponto – hay con gọi là Marcion thành Sinope ↩︎
- Simôn Magus – Hãy tham khảo công vụ 8:4-24 (Kinh Thánh) ↩︎
- Bí tích báp-tem là nghi lễ rửa tội. Đọc thêm. ↩︎
- Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân (hay còn gọi là “Xức Dầu Sau Cùng” — Extreme Unction) là một trong bảy bí tích dành cho những người đang trong tình trạng bệnh nặng, già yếu, hoặc nguy tử. Bí tích này không chỉ nhằm cầu xin ơn chữa lành thân xác, mà còn để ban ơn tha tội, củng cố đức tin và chuẩn bị linh hồn cho sự ra đi. Đọc thêm. ↩︎
- Quân đoàn của Ngôi lời – từ này chỉ “Elohim Sabbaoth” (trong đạo Do Thái), đội quân hay là quân đoàn các nam nữ thần. “Quân đoàn của Ngôi Lời là một thuật ngữ có liên quan chặt chẽ đến bí ẩn của Âm thanh và Lời nói, như một hiệu ứng và hậu quả của nguyên nhân.” (Trích “Giáo lý Bí nhiệm” của H. P. Blavatsky, Tập 1, đoạn IV) ↩︎
- Babaji là giáo hoàng của trường phái Vedanta của thầy Yogananda, tác giả của sách “Tự truyện của một Yogi”. Danh hiệu “Babaji” có nghĩa là “Đức Cha”. Mặc dù trong bối cảnh này, tác giả đang nói về Babaji trong sách của Yogananda, danh hiệu này được sử dụng với rất nhiều thầy tâm linh Ấn Độ. ↩︎
- Koot Humi hoặc là K.H., là một trong những bậc thầy bí mật đứng sau Hội Thông Thiên Học. ↩︎
- Pretor – dịch giả không tìm được từ này trong từ điển tiếng Tây Ban Nha, cũng không thấy ở bất kỳ chỗ nào ngoài sách của Samael Aun Weor. Dịch giả Glorian.org cho rằng từ này bị đánh vần sai, và từ đúng là “Praefor” (Tiếng Latin). Chúng tôi nghi ngờ kết luận này vì từ này không chỉ xuất hiện ở sách này mà ở nhiều sách khác của thầy Samael và từ này được đánh vần giống nhau trong tất cả các sách đó. ↩︎
- Oguara là bậc thầy chuyên giúp học trò học cách du hành trong trạng thái Jinn. ↩︎
- Babaji, Mataji – Thầy Yogananda kể chuyện về hai bậc chân sư này trong sách “Tự truyện của một Yogi”. ↩︎
- Từ bên bức thư sang bên phúc âm: Khi làm lễ ở nhà thờ, linh mục có truyền thống đứng ở bên phải của bàn thờ khi đọc các sách Phúc Âm và đứng ở phía trái khi đọc sách Bức thư (tiếng Anh: epistle). Vì thế cho nên bên phải của nhà thờ Công giáo được gọi là “bên phúc âm” và bên trái được gọi là “bên bức thư”. “Bên trái” tức là phía tay trái của các khán giả, chứ không phải là tay trái của linh mục. ↩︎
- Hêrôđê – Herod Antipas (sinh trước năm 20 TCN – chết năm 39 sau Công nguyên): Ngày nay, ông được biết đến rộng rãi nhờ các thông tin từ Kinh Thánh Tân Ước về vai trò của ông trong các sự kiện dẫn đến vụ hành quyết Giăng Báp-tít và Chúa Giêsu. ↩︎
- Philatô – (Phongxiô Philatô hay Bôn-xơ Phi-lát (tiếng Latinh: Pontius Pilatus) là tổng trấn thứ năm của tỉnh La Mã Judaea từ năm 26 tới năm 36 sau Công nguyên, và nổi tiếng về phiên tòa xử Giêsu bị đóng đinh vào thập giá, theo trình thuật của các sách Phúc Âm. ↩︎
