✏ Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Chuyển Hoá Ấn Tượng Tâm lý
Tiêu đề của bản gốc: La Organización De La Psiquis Y La Intuición (bài giảng).
Lời mở đầu
Chúng ta bắt đầu cuộc thảo luận ở đây. Cuộc thảo luận này có thể được gọi là “Trực giác”. Trước hết, phải bắt đầu từ phần nền tảng: con người. Chúng ta đã đến từ đâu? Chúng ta đang đi đến đâu? Chúng ta đang sống vì mục đích gì? Chúng ta sống để làm gì? Vì sao chúng ta ở đây? Để ý rằng, ở đây chúng ta có rất nhiều câu hỏi cần được làm rõ và giải đáp.
Một đứa trẻ được sinh ra, và nó được cho không một cơ thể vật chất; điều này là hiển nhiên. Cơ thể vật chất này thật phi thường. Nó có khoảng 15 tỷ tế bào thần kinh phục vụ cho đứa trẻ, và hoàn toàn miễn phí.
Tâm trí Giác quan
Khi một đứa trẻ lớn lên, bộ phận tâm trí liên quan đến giác quan của nó sẽ được mở rộng dần dần. Tâm trí giác quan này học thông tin thông qua tri giác từ giác quan bên ngoài. Sau đó, tâm trí giác quan sử dụng thông tin từ chính những tri giác đó để phát triển những khái niệm về bản chất [của mỗi thứ]. Vì thế cho nên nó sẽ không bao giờ có khả năng biết gì về Thực tế [1]. Các quá trình lý luận của nó đều chủ quan; chúng di chuyển trong một vòng luẩn quẩn: vòng tròn của những tri giác cảm quan bên ngoài; đây là điều hiển nhiên.
[1] Không bao giờ biết gì về Thực tế – với tâm trí của giác quan thì chúng ta có thể biết được mình cảm thấy thế nào khi nhìn vào một vật thể nào đó nhưng tâm trí của giác quan không có cách nào để biết cảm nhận của bản thân mình là đúng hay sai. Giống như một người muốn biết một túi gạo nặng mấy cân: họ có thể đọc số trên cán cân nhưng họ không biết cán cân của họ đúng hay sai. Sẽ tốt hơn nếu họ mua thêm một cán cân thứ hai để so sánh nhưng cả hai cán cân đều có thể sai cho nên chúng ta vẫn không thể gọi đó là nguồn thông tin “khách quan”. Khi đối tượng quan sát chỉ là túi gạo thì thông tin mang tính “chủ quan” là đủ. Tuy nhiên, khi mình muốn đặt những câu hỏi quan trọng hơn như “tôi sống để làm gì?” hoặc “tình yêu là gì?” thì một nhận xét chủ quan có thể dẫn chúng ta đi sai đến nỗi lãng phí cả đời với những công việc không có giá trị đích thực. Để thoát ra khỏi trạng thái “chủ quan” này, chúng ta sẽ phải tìm cách sử dụng một loại trí tuệ cao hơn. Đó là lý luận khách quan của Bản thể.
Giờ thì các bạn sẽ hiểu rõ ràng hơn một chút về bản chất của cái được gọi là lý luận chủ quan. Nhưng hơn thế nữa chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa lý luận chủ quan và lý luận khách quan.
Hiển nhiên là một đứa trẻ phải trải qua tất cả cấp bậc của quá trình giáo dục: mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học. Các tổ chức giáo dục này cung cấp thông tin để nuôi dưỡng lý trí chủ quan ấy. Nhưng thực sự không một trường lớp nào có thể cung cấp cho một đứa trẻ, thiếu niên hay thanh niên, thông tin chính xác về những thực tế vượt ra ngoài thời gian, về cái gọi là Thực tại.
Quả thật, những suy đoán của lý trí chủ quan luôn dẫn đến thuyết duy lý trí, đến lĩnh vực phi lý của chủ nghĩa không tưởng, hoặc trong trường hợp tốt nhất, dẫn đến những ý kiến đơn giản và chủ quan. Nhưng lý luận chủ quan sẽ không bao giờ dẫn đến được trải nghiệm đích thực của Thực tại vượt ra ngoài thời gian hay cái gọi là Sự thật.
Tuy nhiên, thật là hổ thẹn khi lý trí khách quan luôn bị bỏ quên và không nhận được bất kỳ sự hướng dẫn nào vì không có trường lớp nào dạy nó. Chắc chắn là các quá trình lý luận của lý trí khách quan mới đưa chúng ta đến với các định đề chính xác và hoàn hảo.
Khi một đứa trẻ luôn được giáo dục một cách chủ quan ngay từ đầu thì đối với nó sẽ không có một hình thức hướng dẫn nào cao cấp hơn. Tất cả thông tin từ giác quan đưa những vấn đề liên quan đến trường học, gia đình, v.v. đến với tâm chủ quan (hay còn gọi là tâm trí Giác quan) của thanh thiếu niên. Thật đáng tiếc vì đó chỉ là những chủ đề mang tính thực nghiệm và chủ quan.
Lúc ban đầu, đứa trẻ vẫn chưa mất đi khả năng cảm thấy sửng sốt. Rõ ràng, nó nhìn bất kỳ hiện tượng nào đều với sự sửng sốt tuyệt vời: một món đồ chơi đẹp đẽ đánh thức sự sửng sốt này trong nó, và nó chơi đùa với món đồ đó. Khả năng sửng sốt này biến mất khi đứa trẻ lớn dần lên, khi mà tâm trí giác quan của nó tiếp nhận thông tin từ trường học. Cuối cùng đến thời điểm mà đứa trẻ trở thành thanh niên và đánh mất hoàn toàn khả năng sửng sốt này.
Thật không may, thông tin mà ta nhận được từ các trường đại học, trung học và các trung tâm giáo dục chỉ phục vụ cho việc nuôi dưỡng tâm trí của giác quan, không gì khác. Theo cách này, với những hệ thống giáo dục hiện có của các trường trung học, cao đẳng, và đại học này, điều duy nhất chúng ta có thể thực sự đạt được là dựng lên cho mình một tính cách giả tạo.
Chúng ta nên nhớ rằng, trên thực tế, kiến thức được nghiên cứu trong các ngành khoa học nhân văn sẽ không bao giờ phục vụ cho việc hình thành Con người Tâm lý. Nhân danh sự thật, chúng tôi phải nói rõ ràng rằng những chủ đề hiện đang được nghiên cứu trong các viện đào tạo không có bất kỳ mối liên hệ nào với các phần của Bản thể chúng ta. Do đó, những chủ đề này chỉ nhằm mục đích:
- Thứ nhất: Bóp méo kiến thức về năm trung tâm xử lý [2] của cỗ máy cơ thể.
- Thứ hai: Làm chúng ta mất đi khả năng ngạc nhiên.
- Thứ ba: Phát triển tâm trí giác quan.
- Thứ tư: Hình thành một tính cách giả bên trong.

[2] Năm trung tâm xử lý:
1. Trung tâm sinh dục.
Đọc thêm Trung tâm sinh dục.
2. Trung tâm bản năng.
3. Trung tâm vận động.
4. Trung tâm cảm xúc.
5. Trung tâm lý trí.
Vì vậy, chúng ta cần hiểu rõ rằng tâm trí giác quan không thể tạo ra bất kỳ sự thay đổi triệt để nào bên trong chúng ta. Chúng ta cũng cần hiểu rằng cho dù tâm trí giác quan có vẻ được giáo dục tốt đến đâu đi nữa thì nó cũng không bao giờ có thể kéo ta ra khỏi trạng thái tự động và máy móc của con người trên khắp thế giới.
Động vật trí năng (hay còn gọi là con người thú tính) khác với con người tâm lý đích thực. [Hai loại con người này] thực sự là hoàn toàn khác nhau.
Con người Tâm lý
Chúng ta được sinh ra với một cơ thể vật chất tuyệt vời, nhưng chúng ta thực sự cần tạo ra nhiều hơn thế. Tạo nên một cơ thể vật chất không khó vì chúng ta được thừa hưởng nó, nhưng để tạo nên một con người tâm lý thì vô cùng khó khăn. Chúng ta không cần rèn luyện bản thân để tạo nên một cơ thể vật chất, nhưng hiển nhiên là chúng ta cần rèn luyện bản thân để tạo ra một con người tâm lý.
Vì vậy, để tạo ra con người tâm lý, một con người đích thực, theo nghĩa hoàn chỉnh nhất của từ này, chúng ta cần tổ chức lại tâm vì hiện tại nó đang ở tình trạng mất trật tự.
Thầy Gurdjieff nói rằng “một cỗ máy không có tâm lý”. [3] Thầy phải phản đối thầy ấy về vấn đề này. Tâm lý thực sự có tồn tại trong những cỗ máy hữu cơ mà chúng ta gọi nhầm là “con người”. Nhưng sự thực là những cỗ máy này không có tổ chức. Nếu chúng ta muốn tạo ra con người đích thực, con người tâm lý, thì việc tổ chức lại tâm lý của loài “động vật trí năng” là điều cấp bách và không thể trì hoãn.
[3] Một cỗ máy không có tâm lý – Câu này xuất hiện trong sách “Psychological Commentaries on the Teachings of Gurdjieff and Ouspensky, Vol. 5” của Maurice Nicoll
Vì vậy, chúng ta phải phân biệt giữa động vật trí năng, bị gọi nhầm là con người, với con người tâm lý chân xác và đích thực. Nếu chúng ta muốn tạo nên một con người như thế thì chúng ta cần phải rèn luyện bản thân. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh nội tâm luôn xảy ra ở bên trong bởi tâm trí giác quan là thiên địch của tâm trí cao cấp.
Tâm trí giác quan đồng nhất bản thân [4] với tất cả mọi tình huống. Ví dụ, ngay bây giờ hãy tưởng tượng mình đang ở một bữa tiệc thịnh soạn và đồng nhất bản thân với những món ăn ở đó. Khi đó ta sẽ biến thành một kẻ háu ăn. Nếu ta đồng nhất bản thân với rượu thì cuối cùng ta sẽ trở thành con sâu rượu. Nếu trước mặt ta là một người khác giới quyến rũ, thú vị và chúng ta đồng nhất bản thân mình với người đó thì cuối cùng ta sẽ tà dâm với họ, hoặc đơn giản là ta sẽ biến thành kẻ ngoại tình. Chúng ta không thể tạo ra con người tâm lý trong những hoàn cảnh này theo cách như vậy.
[4] Đồng nhất bản thân với đối tượng – Hiếm khi có ai chú ý đến một đối tượng và không bị đồng nhất với nó. “Đồng nhất” ở đây có nghĩa là mình không phân chia ý thức để có thể vừa chú ý vào đối tượng và chú ý vào bản thân mình cùng một lúc. Bản chất của con người chính là ý thức, mà không phải là cơ thể hay là cảm xúc hay là suy nghĩ. Vì thế cho nên khi ý thức vào đâu thì bản thân mình đang ở đó. Khi một người nhìn vào đối tượng và không để dành một phần của ý thức để chú ý đến bản thân thì toàn bộ ý thức của họ đi vào trong đối tượng. Việc đó được gọi là “bị đồng nhất với đối tượng”.
Sự rèn luyện bản thân một cách chân chính là không bao giờ để bản thân bị đồng nhất với bất kỳ hoàn cảnh nào. Chúng ta phải quan sát bản thân trong mỗi lúc, mỗi khoảnh khắc. Từ sự rèn luyện chân chính này, khuynh hướng muốn tạo nên con người tâm lý sẽ xuất hiện trong chúng ta.
Có một số người bị lầm đường lạc lối. Có những giáo hội, trường phái, nhóm tu, hội quán, tôn giáo và môn phái có ý định tổ chức lại tâm lý con người bằng một vài châm ngôn vàng nhất định. Họ cố gắng sống theo một vài châm ngôn đó trong mọi tình huống của cuộc sống để đạt được một trạng thái mà họ gọi là “sự thanh tẩy” hoặc “sự thánh thiện”. Phân tích tất cả các điều này là việc làm cấp thiết.
Hiển nhiên là không có loại châm ngôn đạo đức hay tôn giáo nào có thể lấy làm khuôn mẫu cho tất cả các sự kiện trong đời. Ví dụ một câu châm ngôn, kể cả những câu được viết theo lý trí cao cấp [như các câu trong tác phẩm] của Ouspensky chẳng hạn, sẽ không bao giờ thực sự tạo ra được một vũ trụ mới [5] hay một thế giới tự nhiên mới. Sẽ thật ngớ ngẩn nếu chúng ta hoàn toàn tuân theo một châm ngôn nhằm mục đích tổ chức lại tâm của mình. Hiển nhiên điều này có nghĩa là chúng ta đang tự biến mình thành nô lệ.
[5] Vũ trụ mới – con người được gọi là “tiểu vũ trụ” (microcosm). “Vũ trụ mới” xuất hiện khi chúng ta tổ chức lại tâm của mình.
Vì vậy, chúng ta cần suy ngẫm về những danh mục đạo lý và quy tắc đạo đức đang được coi như những châm ngôn vàng.
Tất cả các quy tắc hay châm ngôn này không bao giờ chuyển hóa được ai. Đó là điều rõ ràng. Hơn nữa, có những yếu tố mà chúng ta cần phân tích trước khi có thể bắt tay vào công việc tổ chức lại tâm.
Lấy ví dụ một lời biểu lộ tình cảm, dù có phong phú thế nào đi nữa vẫn có thể sai hoặc tệ hơn là sai một cách cố ý.
Theo đó, để cố gắng đạt được sự chuyển hóa bên trong bản thân, chúng ta phải trở nên biệt lập hơn một chút. Thầy không có ý là phải trở nên ích kỷ: chúng ta phải hiểu rõ điều này. Chúng ta phải học cách suy nghĩ tốt hơn, suy nghĩ một cách độc lập và hoàn hảo hơn, bởi vì những câu nói thần thánh, những châm ngôn vàng, những cách ngôn được cả thế giới tưởng là hoàn hảo sẽ không bao giờ dùng được làm khuôn mẫu đo lường để đạt đến sự chuyển hóa đích thực hay để tổ chức lại tâm.
Vấn đề cốt lõi là tổ chức lại nội tâm của mình, và chúng ta phải bỏ lại phía sau mọi sự duy lý chủ quan để đến được gốc rễ của vấn đề. Đối mặt với những sai lầm của chính mình, không biện minh cho chúng, không cố trốn chạy khỏi chúng. Đừng nghĩ đến việc bào chữa cho những sai lầm đó. Chúng ta cần trở nên nghiêm túc hơn trong việc phân tích. Chúng ta phải sáng suốt hơn, thấu hiểu hơn.
Nếu chúng ta thực sự không tìm cớ để trốn tránh [các khuyết điểm của bản thân], chúng ta có thể rèn luyện bản thân và tổ chức con người tâm lý. Lúc đó chúng ta sẽ không còn là những động vật trí năng như trước nữa.
Điều căn bản là tự quan sát tâm lý của mình. Việc tự quan sát chính mình từng giây từng phút thực sự là cần thiết.
Mục đích của việc tự quan sát là gì? Nó nhằm phát hiện ra các dạng khiếm khuyết tâm lý khác nhau của chúng ta. Tuy nhiên, chúng phải được phát hiện ngay tại trận, bằng cách quan sát chúng một cách trực tiếp và sáng suốt, không lẩn tránh, không biện minh, không có bất kỳ sự tránh né nào.
Khi một khiếm khuyết được phát hiện, khi đó và chỉ khi đó chúng ta mới có thể hiểu được nó, và khi ta cố gắng để hiểu nó, ta phải, thầy nhắc lại, ta phải nghiêm khắc với chính mình. Có nhiều người, khi họ cố gắng để hiểu một khiếm khuyết nào đó thì họ biện minh cho nó, hoặc trốn tránh nó, hoặc cố gắng che giấu nó khỏi chính bản thân mình. Thật là ngớ ngẩn!
Có một số anh chị em trong trường phái Gnosis khi phát hiện ra một khuyết điểm nào đó ở bản thân thì họ sẽ bắt đầu bằng việc dựa vào các lý thuyết trong tâm trí để phân tích. Họ dựng lên các suy đoán trong tâm trí. Điều này rất nghiêm trọng, bởi vì – như thầy đã nói và bây giờ thầy nhắc lại lần nữa – những suy đoán của tâm trí chủ quan đơn thuần sẽ đẩy họ vào chủ nghĩa không tưởng; điều này là hiển nhiên.
Vì vậy, muốn hiểu được một khiếm khuyết thì chúng ta phải loại bỏ những suy đoán chủ quan, và để loại bỏ được những suy đoán ấy, ta cần trực tiếp quan sát khiếm khuyết. Quan sát kỹ là cách duy nhất để bỏ đi thói quen hay suy đoán của mình.
Một khi đã hoàn toàn hiểu được một khiếm khuyết tâm lý trong mọi cấp độ của tâm trí, chúng ta có thể phá vỡ và làm tan rã khiếm khuyết đó, biến nó thành tro bụi, thành cát bụi vũ trụ. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng bản thân tâm trí không bao giờ có thể biến đổi bất kỳ khiếm khuyết nào. Bản thân tâm trí có thể gán cho một khiếm khuyết nào đó với những cái tên khác nhau, chuyển nó từ cấp độ này sang cấp độ khác, che giấu khiếm khuyết đó khỏi chính mình hoặc che giấu nó khỏi những người xung quanh. Tuy nhiên, tâm trí không bao giờ có thể làm tan rã một khiếm khuyết.
Thầy đã giảng ở đây nhiều lần rằng chúng ta cần một sức mạnh vượt trội hơn cả tâm trí, một sức mạnh có thể thực sự làm tiêu biến mọi khiếm khuyết tâm lý. May mắn thay, sức mạnh này tồn tại sâu thẳm bên trong tâm chúng ta. Rõ ràng thầy đang nhắc đến Stella Maris, Đức Trinh nữ của Biển cả. Cô ấy là một biến thể từ Bản thể chúng ta. Nếu chúng ta tập trung vào biến thể của sức mạnh nội tâm mà các nền văn minh gọi là Isis, là Tonantzin, hay Diana, v.v. [6], thì chúng ta sẽ được trợ giúp. Và rồi, khiếm khuyết trong tâm lý có thể tan biến thành bụi vũ trụ.
[6] Isis (Ai Cập), Tonantzin (Aztec), Diana (La Mã) là các tên gọi khác nhau của Đức Mẹ Thần Thánh. Khi nhập định và trong lúc mơ, tâm trí chúng ta có thể nhân cách hóa những khía cạnh cao cấp của Bản thể mà ban ngày chúng ta không biết đến. Thông thường thì khía cạnh nữ tính của Bản thể sẽ hiển thị trong giấc mơ với một hình dáng dịu dàng và nữ tính, làm chúng ta cảm thấy được yêu thương. Hình dáng này có thể biến đổi để phù hợp với bối cảnh văn hóa của từng người. Ví dụ: những người theo Phật giáo hay thấy Đức Mẹ với hình dáng của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và đối với tín đồ Kitô giáo thì là Đức Mẹ Maria, v.v.

Khi một cấu trúc tâm lý, hiện thân sống động của một khiếm khuyết nào đó, đã được tan rã, có một thứ được giải phóng: thứ ấy được gọi là Tinh chất [hay còn gọi là Phật tính]. Hiển nhiên là bên trong mỗi cấu trúc tâm lý, có một phần tinh chất hoặc tâm thức sống động tồn tại và bị đóng kín trong đó. Thế nên khi một khiếm khuyết bị phá vỡ thì phần tinh chất đã bị đóng kín trong đó sẽ được giải phóng.
Mỗi 1% Phật tính được giải phóng thì tâm thức chắc chắn sẽ được tăng thêm 1%. Tương tự như vậy, khi các cấu trúc tâm lý bị phá vỡ thì phần tâm thức thức tỉnh sẽ được nhân lên, và khi toàn bộ mọi cấu trúc tâm lý đã được tiêu biến thành tro bụi thì tâm thức cũng sẽ hoàn toàn thức tỉnh.
Điều chúng ta mong muốn là đạt đến sự tỉnh thức tuyệt đối, và chúng ta có thể làm được điều này nếu đi đúng đường. Nếu không chúng ta sẽ không thể nào đạt được sự tỉnh thức đó. Rõ ràng là như thế.
Trong mọi trường hợp, khi những yếu tố tâm lý không mong muốn ở bên trong được tiêu giảm, thì các Siddhi hay còn gọi là các loại siêu năng lực sẽ nở rộ trong tâm chúng ta, và sự Khai sáng tuyệt đối sẽ đến khi chúng ta đạt được sự Đoạn diệt Phật giáo. [7]
[7] Sự Đoạn diệt của Phật giáo – khi các cái Tôi tâm lý (được Phật giáo gọi là “hành” hay là saṃskāra) đã chết hết.
Từ “Đoạn diệt của Phật giáo” này gây ra phiền phức cho rất nhiều tổ chức giả bí truyền, giả huyền bí. Từ này không làm chúng ta khó chịu mà lại làm chúng ta hài lòng, vì điều ta mong mỏi chính là giải phóng tâm thức 100%.
Nhiều người muốn đạt đến sự khai sáng; nhiều người cảm thấy cay đắng, nhiều người đau khổ trong bóng tối, nhiều người trải qua những hoàn cảnh khó khăn của cuộc đời.
Chúng ta ao ước được khai sáng, nhưng sự khai sáng đó phải có mục đích. Mục đích của sự khai sáng chính là Dharmadatu (Pháp giới). Những người ở đây sẽ thấy từ tiếng Phạn này rất lạ tai. Dharmadatu xuất phát từ từ gốc “Dharma” (Pháp).
Ba yếu tố
Bất kỳ ai đều có thể làm tan rã những thành phần tâm lý không mong muốn ở bên trong, nhưng nếu chỉ dựa vào việc này thôi thì không thể đạt đến sự khai sáng toàn diện. Bởi vì còn có một yếu tố khác nhập cuộc. Đó là yếu tố thứ ba của cuộc cách mạng tâm thức: sự hy sinh vì nhân loại.
Nếu chúng ta không hy sinh bản thân mình vì nhân loại, thì việc đạt đến khai sáng tuyệt đối là không thể, bởi vì – thầy nhắc lại – mục tiêu của sự khai sáng là Pháp giới (Dharmadhatu).
Rõ ràng là việc làm tan rã cái Tôi sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta. Đúng chính xác là thế: nếu chúng ta tạo nên những cơ thể hiện sinh cao cấp của Bản thể thì việc đó cũng có lợi cho chúng ta. Không thể chối cãi rằng nếu chúng ta hy sinh bản thân mình cho đồng loại thì chúng ta sẽ được đền đáp. Tất cả những điều này đều hiển nhiên.
Vì vậy, để được khai sáng tuyệt đối, chúng ta cần tiến hành với ba yếu tố cho cuộc cách mạng của tâm thức:
- Sinh ra: nghĩa là tạo ra những cơ thể hiện sinh cao cấp của Bản thể;
- Chết đi: nghĩa là cái Tôi được tan rã hoàn toàn;
- và hy sinh cho nhân loại.
Đây là ba yếu tố cho cuộc cách mạng của Tâm thức.
Dù sao đi nữa, như thầy đã nói với các bạn, chúng ta cần biết cách rèn luyện bản thân mình. Trước hết, chúng ta cần tổ chức con người tâm lý bên trong. Trước khi đạt đến sự khai sáng tuyệt đối, Con người tâm lý phải được sinh ra ở bên trong, và con người này được sinh ra khi tâm của ta được tổ chức. Chúng ta cần sắp xếp lại tâm trong mình ngay bây giờ và ở đây.
Năng lượng và việc tạo ra các Cơ thể Hiện sinh Cao cấp
Nếu làm đúng cách, chúng ta sẽ tổ chức được tâm. Ví dụ, nếu ta không phí phạm năng lượng của trung tâm cảm xúc, nếu không phí phạm năng lượng của tâm trí, hay năng lượng của trung tâm lý trí, hay [năng lượng của trung tâm] vận động – bản năng – sinh dục [8], thì với khoản năng lượng dự trữ này, hiển nhiên chúng ta tạo ra hay rồi sẽ tạo ra, hình thành nên cơ thể tâm lý thứ hai: đây là cơ thể cảm xúc, có tên là Eidolon. [9]
[8] Trung tâm vận động – bản năng – sinh dục – Trong thực thế, tuy là ba trung tâm nhưng chúng hoà hợp với nhau và hoạt động cùng nhau.
[9] Eidolon (Tiếng Phạn: Kama-Rupa) – là cơ thể chúng ta sử dụng trong giấc mơ. Ở bối cảnh này thầy đang nói về cơ thể cảm xúc dương [Tiếng Anh: Solar Astral Body]. Tất cả chúng ta đã có cơ thể cảm xúc âm ngày từ lúc sinh ra nhưng chúng ta sẽ phải rèn luyện để tạo ra cơ thể cảm xúc dương. Cả hai loại cơ thể cảm xúc đều tiếp tục tồn tại trong một khoảng thời gian sau khi cơ thể vật chất đã chết đi nhưng loại dương tồn tại lâu hơn nhiều.
Đương nhiên, nếu chúng ta giải phóng chính mình ra khỏi tâm trí giác quan, thì thực tế ta sẽ tiết kiệm được năng lượng của tâm trí. Với năng lượng lý trí đó, chúng ta có thể nuôi dưỡng cơ thể tâm lý thứ ba hay còn gọi là Tâm trí Riêng biệt [10].
[10] Tâm trí Riêng biệt – đó là cơ thể Tư tưởng Dương (Tiếng Anh: Solar Mental Body).
Khi thầy tuyên bố phản đối tâm trí giác quan, thầy muốn các anh chị em hiểu rõ rằng thầy vẫn phải công nhận rằng nó hữu ích, rằng chúng ta cần sống trong trạng thái hoàn toàn cân bằng, vừa biết cách điều khiển tâm trí cao cấp và vừa biết cách điều khiển tâm trí giác quan. Nếu một người không biết cách điều khiển tâm trí giác quan, thì họ sẽ quên rằng mình vẫn cần phải trả tiền thuê nhà và cần ăn uống để tồn tại, họ sẽ quên rằng mình vẫn cần ăn mặc tử tế chứ không lang thang trên đường trong bộ dạng cẩu thả, không hoàn thành các nghĩa vụ trong cuộc sống của mình. Vì vậy, tâm trí giác quan là cần thiết, nhưng ta cần biết cách vận hành nó một cách thông minh, cân bằng hơn. Nghĩa là tâm trí cao cấp và tâm trí giác quan phải được cân bằng với nhau trong cuộc sống.
Có một số người chỉ tập trung vào tâm trí cao cấp. Ví dụ một vài ẩn sĩ sống trong các hang động của dãy Himalaya, họ quên rằng mình còn có tâm trí giác quan. Thật ngớ ngẩn khi loại bỏ tâm trí này một cách không cần thiết. Chúng ta cần duy trì hoạt động của tâm trí giác quan ở trạng thái cân bằng để có thể hoàn tất các nghĩa vụ của mình trong cuộc sống.
Đồng nhất với đối tượng
Cuộc đấu tranh giữa tâm trí cao cấp và tâm trí giác quan thật khủng khiếp. Chúng ta hãy nhớ lại lúc Đấng Ki-tô nhịn ăn trên sa mạc. Một con quỷ đã hiện lên trước mặt ngài và nói: “Tất cả các vương quốc trên thế giới sẽ được ban cho ngươi, nếu ngươi quỳ xuống và tôn sùng ta”. [11] Nói cách khác, đó chính là tâm trí giác quan đang cám dỗ Ngài.
[11] Đấng Ki-tô nhịn ăn trên sa mạc – câu chuyện này được ghi lại ở Ma-thi-ơ 4:1-11.
Tâm trí cao cấp trả lời rằng, “Hỡi quỷ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng ngươi phải thờ phụng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi”.
Chúa Giê-su không bao giờ để tâm trí giác quan chi phối mình, nhưng điều này không có nghĩa tâm trí giác quan là vô dụng, mà ý là nó cần phải được kiểm soát. Nó phải đồng hành cùng tâm trí cao cấp trong trạng thái cân bằng hoàn hảo.
Khi chúng ta phấn đấu hướng đến việc tổ chức con người tâm lý, hiển nhiên một cuộc đấu tranh kinh hoàng sẽ xảy ra giữa hai loại tâm trí: cuộc đấu giữa tâm trí cao cấp hay còn gọi là tâm lý, và với tâm trí giác quan. Tâm trí giác quan không muốn dính líu đến bất cứ điều gì liên quan đến tâm trí cao cấp. Tâm trí giác quan khoái chí khi nó được đồng nhất với một cảnh tượng dâm ô hoặc với một sự kiện đau khổ trên đường phố, hoặc khi nó được đồng nhất với một ly rượu, v.v., và tâm lý [cao cấp] thì kịch liệt chống lại điều đó. Thầy sẽ minh họa điều này bằng một ví dụ.
Thầy đang đi trên một chiếc xe hơi; có một người khác đang lái chiếc xe đó. Bọn thầy đang đi ở làn đường bên trái, và ở làn bên phải có một người phụ nữ đang lái một chiếc xe khác. Đột nhiên cô ấy đổi hướng với ý định rẽ vào một siêu thị ở bên trái đường. Đương nhiên là khi đang lái ở làn bên phải thì cô ấy phải chuyển làn trước khi rẽ vào siêu thị. Nếu siêu thị ở bên phải đường, thì cô ấy đã có thể rẽ phải mà không có vấn đề gì. Nhưng không may là siêu thị ở bên trái và chiếc xe của bọn thầy đang đi làn đường bên trái.
Xe của cô ấy chỉ bị hư hại nhỏ không quá nghiêm trọng. Nhưng đây mới là phần thú vị của câu chuyện: người phụ trách lái chiếc xe của thầy nhận ra rằng vụ tai nạn này không phải lỗi của anh ta, và đúng không phải lỗi của anh ta thật, anh ta không có lỗi khi đâm vào chiếc xe đối diện đã đột ngột bẻ lái. Dĩ nhiên, anh ta đã khẳng định điều đó với người phụ nữ trong câu chuyện. Nhưng người phụ nữ này cứ khăng khăng rằng cô ta đúng. Tất nhiên, điều này rõ ràng quá vô lý; bất kỳ viên cảnh sát giao thông nào hẳn sẽ loại bỏ yêu cầu đòi bồi thường của cô ấy ngay lập tức.
Tuy vậy, cô ấy kiên quyết gọi điện thoại cho công ty bảo hiểm để dàn xếp vấn đề. Sau vài giờ, công ty bảo hiểm không đến, còn người phụ nữ này vẫn khăng khăng đòi nhận một khoản thanh toán 300 pesos [12] khoản đó tương đương với chi phí sửa chữa cho chiếc xe mà chính cô ấy làm hỏng.
[12] Pesos là đơn vị tiền tệ của Mexico. Giá trị của 300 pesos năm 1975 tương ứng với 1,8 triệu VND năm 2021.
Những người cùng đi trên xe với thầy và người lái xe rõ ràng đều rất bức xúc, và mặc dù mọi người trong xe của thầy thừa tiền để trả cho cô ấy nhưng họ cũng không đời nào làm vậy. Họ đã giận dữ đến vậy đấy. Về phần mình, thầy quyết định không đồng nhất bản thân mình với tình huống này, bởi vì kỷ luật tâm lý của chúng ta, môn nhu đạo tâm lý của chúng ta, dạy rằng trong những tình huống như vậy thì ta không được đồng nhất. Hiển nhiên là thầy đã tuân theo môn nhu đạo tâm lý đó và giữ được bình tĩnh.
Thời gian vẫn cứ thế trôi qua. Mọi người đã đợi hai tiếng đồng hồ và có thể phải đợi lâu hơn nữa vì nhân viên bảo hiểm không đến. Cuối cùng, người phụ nữ này đến gần thầy – một cách rất kính trọng, vì cô ấy thấy rằng thầy là người duy nhất bình thản, những người còn lại đều rất ầm ĩ. Cô ấy nói: “Anh ạ, anh chỉ cần đưa tôi 300 pesos là việc này sẽ được giải quyết. Tôi đang lãng phí thời gian của mình. Thực ra thì tất cả chúng ta đều đang lãng phí thời gian của mình”.
“Nhưng nếu chị quan sát vị trí của hai chiếc xe, chị sẽ thấy rằng khi nãy chị đang đi từ làn bên phải, và nếu chị muốn rẽ trái thì chị đã phải chuyển sang làn bên trái; tuy vậy, chị định rẽ từ làn phải vào siêu thị trong khi làn bên trái đang có xe. Chị không thể rẽ như vậy được. Bất kỳ viên cảnh sát giao thông nào cũng sẽ bác bỏ yêu cầu của chị”.
“Chúng ta đang phí phạm thời gian của mình làm gì hả anh khi mà nhân viên bảo hiểm không thèm đến đây?”
“Được rồi, cầm lấy 300 pesos của chị và hãy lên đường bình an. Việc này đến đây là kết thúc. Hãy đi đi”.
Hiển nhiên những người khác đều phản đối; họ không chỉ rất phẫn nộ với người phụ nữ này mà còn phẫn nộ với thầy. Họ đã ở trong tình trạng như thế đấy, và họ không thể làm gì khác hơn là phản đối. Họ đã hoàn toàn đồng nhất với sự kiện đó và tất nhiên họ cho rằng thầy là một kẻ ngu ngốc, v.v. và v.v. và những lời chửi mắng khác nữa. Tất nhiên, một người trong số những hành khách trên xe đã trực tiếp lại gần những người phụ nữ kia để xúc phạm họ – bởi vì có nhiều người trên chiếc xe kia, người phụ nữ lái xe và những người đi cùng của cô ấy. Thầy đến gần và nói với cô ấy, “Đi đi, thượng lộ bình an và đừng để ý đến những lời lăng mạ của họ”.
Thế là người phụ nữ này rất vui vẻ rời đi và từ xa vẫy chào thầy một lần cuối, rồi chiếc xe dần biến mất trên phố phường tấp nập. Bọn thầy có thể đã phải đợi đến ba, bốn, sáu tiếng đồng hồ, thậm chí cả buổi chiều, và rất có thể bọn thầy đã phải ở đó đến tối chỉ để đợi nhân viên bảo hiểm đến cho một vụ dàn xếp vớ vẩn.
Thực sự chuyện không có gì nghiêm trọng. Xe cô ấy chỉ bị hư hại rất nhẹ; dù những hành khách trên chiếc xe của thầy có tiền thì họ cũng không đời nào sẵn sàng trả tiền cho cô. Họ đã bị đồng nhất với cảnh tượng đến mức rõ ràng là họ không muốn bị cầm đằng chuôi. Chắc chắn thầy đã cứu họ thoát khỏi rất nhiều vấn đề và những tiểu tiết khó chịu. Thậm chí thầy có thể đã giúp họ khỏi ra tòa; thầy đã tránh cho họ hàng nghìn hành động ngu xuẩn, những vụ cãi cọ ác liệt. Nhưng họ đã quá đồng nhất với sự kiện này đến mức không nhận ra điều tốt mà thầy đã làm cho họ. Con người là như vậy đấy.
Vì vậy, các bạn thân mến, trong thực tế, các bạn phải thực sự hiểu rằng việc đồng nhất bản thân với những hoàn cảnh luôn đem lại vấn đề. Thật ngớ ngẩn khi đồng nhất bản thân với hoàn cảnh, hoàn toàn ngớ ngẩn, bởi vì việc đó làm lãng phí năng lượng. Nếu ta để cho bản thân mình bị cuốn vào những lần cơn giận bùng lên, những cơn thịnh nộ kinh hoàng, và những cơn cáu kỉnh vô lý thì chúng ta lấy năng lượng đâu để tổ chức cơ thể cảm xúc? Tất cả những điều này là do chúng ta đồng nhất mình với các hoàn cảnh.
Ta lấy sức lực nào để tạo nên một tâm trí độc lập cho bản thân, nếu ta thực sự phung phí năng lượng trí óc vào những việc ngu xuẩn, như sự kiện mà thầy đã kể?
Sự hình thành cơ thể thứ hai đòi hỏi chúng ta phải tiết kiệm năng lượng cảm xúc, còn sự hình thành cơ thể thứ ba (còn có thể gọi là cơ thể lý trí hoặc tâm trí độc lập) làm chúng ta hiểu được sự cần thiết phải tiết kiệm năng lượng của trung tâm lý trí.
Và giờ, nếu chúng ta thực sự không học được cách gạt bỏ những ác cảm máy móc, nếu chúng ta luôn đầy ác ý với đồng loại của mình, thì chúng ta lấy năng lượng nào để tạo ra cơ thể tâm lý thứ tư (là cơ thể ý chí tỉnh thức)?
Chúng ta cần tạo ra tất cả các cơ thể cao cấp đó nếu chúng ta thực sự muốn tạo ra, hình thành hoặc xây dựng nên con người tâm lý bên trong bản thân mình.
Chúng ta biết rõ rằng khi một người đã sở hữu cơ thể vật chất, và có một cơ thể thứ hai thuộc loại cảm xúc và tâm lý, một cơ thể thứ ba thuộc loại lý trí độc lập, và cuối cùng là một cơ thể thứ tư của ý chí tỉnh thức, thì người đó có thể tiếp nhận các yếu tố tinh thần để chuyển hóa bản thân thành một con người đích thực. Điều này là chắc chắn. Nhưng thực sự, nếu một người phung phí các năng lượng của trung tâm vận động, sinh lực, năng lượng tình cảm, lý trí và ý chí bằng việc đồng nhất bản thân với mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, thì rõ ràng người đó sẽ không bao giờ tổ chức được các cơ thể tâm lý. Các cơ thể này là vô cùng cần thiết để con người có thể hiện ra bên trong mỗi chúng ta.
Vì vậy, khi thầy nói đến việc tổ chức lại tâm, mọi người cần hiểu rằng chúng ta phải biết cách điều khiển và sử dụng các năng lượng đó. Chúng ta không được đồng nhất bản thân, cũng không được quên mất bản thân, để không lãng phí năng lượng của mình một cách ngu ngốc. Khi ta quên mất bản thân thì ta đồng nhất mình [với các đối tượng], và khi đồng nhất rồi thì ta không thể hình thành nên tâm: ta không thể sắp xếp tâm ở bên trong mình một cách thông minh vì ta đang phung phí các năng lượng một cách ngu ngốc. Chúng ta cần hiểu điều này ngay lập tức, hỡi các anh chị em thân mến.
Do đó, một con người đích thực là người đã tiết kiệm các năng lượng của mình và dùng năng lượng đó để tạo ra các cơ thể hiện sinh cao cấp của Bản thể. Một con người đích thực là người đã nhận được các thành phần tinh thần và tâm linh của mình. Con người hoàn hảo là người đã tan rã hết mọi yếu tố tâm lý phi nhân tính. Con người thực sự là người đã hình thành nên con người nội tại trong mình, thế chỗ cho những yếu tố không mong muốn đó. [13]
[13] Những yếu tố không mong muốn – là những cái Tôi được Phật giáo gọi là “hành” hay là “saṃskāra”.
Vì thế, con người nội tại mới là quan trọng. Con người nội tại này nhận được đền đáp theo quy luật tối cao, bởi vì con người nội tại này đã thức tỉnh và đã tan rã cái Tôi. Đây chính là con người chân chính đích thực, người đã hy sinh chính mình cho đồng loại. Hiển nhiên là họ đã đạt đến sự khai sáng bằng cách này.
Vậy, tạo ra con người là bước khởi đầu; đó là điều cơ bản và có thể đạt được bằng cách tổ chức lại tâm. Nhưng nhiều người chỉ bận tâm đến việc phát triển các phép thần thông hay còn gọi là các siddhi hạ cấp, thay vì chuyên tâm vào việc tổ chức lại cái tâm bên trong chính họ. Điều này thật ngớ ngẩn. Chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu? Từ việc tổ chức lại tâm? Hay từ việc phát triển các phép thần thông hạ cấp? Chúng ta mong muốn điều gì? Chúng ta phải thận trọng khi phân tích, thận trọng với những khao khát của mình. Nếu tìm kiếm thần thông thì chúng ta chỉ đang lãng phí thời gian của mình một cách thảm hại. Thầy tin rằng việc tổ chức lại nội tâm mới là nền tảng, đây là điều cơ bản.
Nếu các bạn hiểu được điều này và rèn luyện bản thân mình, thì các bạn sẽ có thể hình thành nên tâm, và rồi con người đích thực, con người chân chính sẽ được sinh ra bên trong bạn.
Trực giác
Các bạn phải hiểu điều này. Thay vì tìm kiếm các phép thần thông hạ cấp hay còn gọi là các Siddhi hạ cấp như đã nói, tốt hơn hết là chúng ta nên [hướng vào] việc tạo ra tâm.
Có một sức mạnh siêu việt được sinh ra bên trong bất kỳ con người nào đã từng thực sự nỗ lực rèn luyện bản thân. Thầy muốn nhấn mạnh rằng thầy đang nói đến trực giác, và thầy nói điều này để các bạn đừng mơ tưởng đến thần thông nữa. Nhưng trực giác là gì? Chúng ta đã được nghe rằng năng lực này liên quan đến tuyến tùng. Thầy không phủ nhận điều này. Nhưng điều quan trọng là ta cần giải thích các chức năng của nó.
Chúng ta nên định nghĩa trực giác như thế nào? Đó là sự nhận thức trực tiếp về sự thật mà không phải mòn mỏi chọn lựa. Đó đúng là một cách định nghĩa nhưng thầy thấy nó còn rất sơ khai. Các trường phái giả bí truyền và giả huyền bí tầm thường đều sử dụng định nghĩa này. Chúng ta cần phân tích sâu hơn về vấn đề này.
Trực giác là gì? Đó là khả năng viên dung. Có thể Hegel đã cố gắng định nghĩa nó với khái niệm tính phổ quát cụ thể [concrete universal] của mình, nhưng thầy nghĩ tốt hơn là nên định nghĩa nó bằng triết lý Trung Quốc của người da vàng.
Có một nữ hoàng Trung Quốc đã không hiểu rõ lắm về vấn đề trực giác này. Một nhà thông thái đã giải thích cho bà rằng đó là khả năng viên dung. Định nghĩa này đúng, nhưng bà ta không hiểu được. Thế là nhà thông thái thắp một ngọn nến và đặt nó ở giữa sảnh, và đặt thêm mười cái gương ở xung quanh. Rõ ràng là ngọn lửa của cây nến đó được phản chiếu qua một cái gương, rồi ngọn lửa phản chiếu đó được phản chiếu qua một cái gương khác, và cái gương này tiếp tục phản chiếu nó lên một cái gương khác nữa, và tiếp tục như thế. Vậy là họ nhận ra rằng mười cái gương này đang cùng phản chiếu ánh sáng lên nhau. Một màn trình diễn kỳ diệu được hình thành, với ánh sáng thâm nhập lẫn nhau. Thế là nữ hoàng hiểu ra. Đó chính là khả năng trực giác. [14.5]
[14.5] Đọc câu chuyện về Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên và lâu đài gương của thầy Pháp Tạng ở đây.
Nếu một người đã đạt đến sự đoạn diệt của Phật giáo, nếu họ thành công trong việc tạo ra các cơ thể hiện sinh cao cấp của Bản thể, nếu họ đúng là một con người thực sự theo nghĩa siêu việt nhất của từ này, thì đương nhiên họ sẽ có được khả năng viên dung.
Chúng ta hãy nhớ lại rằng con người được bao hàm trong vũ trụ. Nói cho dễ hiểu là một người là một phần của tổng thể. Trong con người tiểu vũ trụ có rất nhiều thứ, tuy nhiên tổng thể của người đó cũng chính là là một phần của toàn thể.

Ví dụ: chúng ta biết rằng bên trong Ayocosmos hay còn gọi là thế giới vô hạn là Đại vũ trụ [Macrocosmos]. Đại vũ trụ của chúng ta là Dải Ngân Hà. Trong đó chứa đựng cái gì? Trong đó là vũ trụ thứ cấp [Deuterocosmos], là hệ Mặt Trời. Bên trong vũ trụ thứ cấp chứa đựng Mặt Trời và Trái Đất hay còn gọi là vũ trụ trung gian [Mesocosmos]. Tương tự như vậy, bên trong vũ trụ trung gian chứa đựng Tiểu vũ trụ (là con người), và trong Tiểu vũ trụ (con người) chứa đựng sự sống của vũ trụ cấp ba [Tritocosmos] vô cùng nhỏ bé. [14]
[14] Ayocosmos, Macrocosmos, Deuterocosmos: Đọc thêm tại Ain Soph Aur
Trong một vũ trụ có một vũ trụ khác, và trong vũ trụ đó lại có một vũ trụ khác nữa, và chúng ta có tổng cộng bảy vũ trụ [15], cái này nằm trong cái kia. Vì thế, bên trong chúng ta có một vũ trụ cấp thấp hơn. Đó chính là vũ trụ cấp ba Tritocosmos, và [bên ngoài có] một vũ trụ cấp cao hơn. Hiển nhiên rằng đó là vũ trụ trung gian Mesocosmos. Nghĩa là, chúng ta nằm ở giữa một vũ trụ cao hơn và một vũ trụ thấp hơn. Chúng ta cũng có quan hệ rất gần gũi với cha mẹ chúng ta vì họ sinh ra ta. Tương tự, chúng ta lại sinh ra con cháu của ta. Tất cả chúng ta, người này đều có ở trong người kia.
[15] Bảy vũ trụ – Theo Gurdjieff, bảy vũ trụ là:
1. Protocosmos – Hạt giống của vũ trụ chưa được hình thành – Ain Soph Aur (trong tính không).
2. Ayocosmos – Toàn thể vũ trụ.
3. Macrocosmos – Thiên hà.
4. Deuterocosmos – Hệ Mặt Trời.
5. Mesocosmos – Hành tinh.
6. Microcosmos – Con người.
7. Tritocosmos – Thế giới vi mô: tế bào, các loại hạt nguyên tử, v.v.
Các bạn thân mến, chắc chắn rằng các giai đoạn phát triển của một thế giới bất kỳ (giai đoạn sinh ra, giai đoạn phát triển và giai đoạn chết đi) luôn được phản chiếu ở bên trong con người đích thực vì người ta đã đạt đến sự đoạn diệt của Phật giáo. Vì thế, Con người này có thể nói, “Tôi biết lịch sử của cả hành tinh này”. Cả Đại kiếp (Mahamanvantara) có thể được phản chiếu trong cái móng tay của một con người đích thực, và nó sẽ được phản chiếu một cách chính xác đến nỗi vị Phật này sẽ không bỏ qua bất cứ điều gì.
Tất cả những gì có thể xảy ra trong một quốc gia đều có thể được phản chiếu lại trong tâm của một con người đã đạt được sự đoạn diệt Phật giáo: nó sẽ được phản chiếu với mức độ chính xác và chi tiết đến mức con người này sẽ không bỏ qua đến cả sự kiện tầm thường nhất.
Vì thế, các bạn hãy tự suy luận và rút ra định nghĩa từ những gì thầy đã nói. Rồi các bạn sẽ hiểu thế nào là trực giác hay còn gọi là khả năng viên dung.
Nếu chúng ta đạt được sự phản chiếu của lịch sử cả Ngân hà này bên trong bản thân ta, liệu ta có thể bỏ qua điều gì đó liên quan đến nó không? Đương nhiên là không. Các anh chị em thân mến, cả Ngân hà cùng với mọi quy luật của nó có thể được phản chiếu lại trong tâm của chúng ta một cách vô cùng tự nhiên, như ngọn nến trong ví dụ của thầy gắn liền với mười cái gương để minh họa cho câu chuyện của vị nữ hoàng nọ.
Tất cả mọi sinh vật đều có thể được phản chiếu trong tâm của một vị Phật Quán thế. Vì thế thì đương nhiên là thông qua phương tiện của trực giác vị này sẽ đạt được khả năng mà chúng ta gọi là toàn tri.
Ta có thể đạt được sự khai sáng, nhưng các bạn thân mến, đừng quên rằng khai sáng có những quy luật của nó. Lý do tồn tại của sự khai sáng là Dharmadhatu, hay nói cách khác là Pháp giới.
