✏ Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Yoga giấc mơ
Dịch từ bài giảng “Edad Media y Esoterismo Gnóstico”
Lời mở đầu
Chúng ta thật may mắn khi được sống trong một thời đại mà chúng ta có thể công khai thảo luận các chủ đề huyền học, dưới ánh sáng của ban ngày hay trong bóng tối của ban đêm.
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng được như vậy. Lấy ví dụ thời Trung cổ với tòa thẩm giáo nổi tiếng mà một số người quy cho Giáo Hoàng Gregory IX hoặc Thánh Domingo. Dù thế nào thì tòa thẩm giáo cũng thật kinh khủng.
Điều đó không có nghĩa là thời Trung cổ không có huyền học. Thực ra thời Trung cổ đã có huyền học và huyền học thời đó rất lớn mạnh.
Hãy nhớ đến Philippus Theophrastus Bombastus von Hohenheim (còn được biết đến với tên Aureolus Paracelsus) và cả bác sĩ Faustus, một tu sĩ và pháp sư nổi tiếng. Đây là ba học trò của bậc thầy Trithemius vĩ đại đáng kính. Vị thầy đó là trưởng tu viện, đã từng dạy huyền học ngay ở trong một tu viện thời Trung cổ. Điều kỳ diệu là ông đã không bị đưa lên giàn hỏa thiêu.




Như vậy, ngay trong các tu viện, huyền học vẫn tồn tại song song với các tòa thẩm giáo khủng khiếp và những giàn hỏa thiêu của nhà thờ Roma hay nhà thờ Công giáo. Thời đó, không ai có thể công khai nói về huyền học như bây giờ. Nếu ai đó làm như vậy, họ sẽ bị kết án là “dị giáo” hoặc “phù thủy” và sẽ bị thiêu sống giữa quảng trường công cộng.
Tòa Thẩm giáo thời Trung cổ thường tuyên án tử hình mà không có bằng chứng
Đã có rất nhiều lời bàn luận về tòa thẩm giáo. Hãy điểm qua tất cả những thông tin này một chút nhằm mục đích minh họa.
Người ta kể rằng, vào thế kỷ XV, con gái của một bá tước đêm nào cũng bị bắt cóc bởi một tổ chức phù thủy và bị đưa đến buổi lễ Sa-bat [của một hội phù thủy]. Đó là thời Giáo hội Công giáo châm lửa các giàn thiêu với những cơn cuồng nộ kinh hoàng khiến hàng ngàn người bị buộc tội phù thủy đã bị thiêu sống. Thật là một bi kịch, phải không?
Rất nhiều người đã viết về tòa thẩm giáo, tòa án dị giáo. Trong đó, không ít tác giả đã tỉ mỉ vạch trần những cuộc tra tấn thẩm giáo kinh hoàng. Có một tác giả từng viết: “Vì những người bị buộc tội phù thủy khi bị ném xuống nước không chìm mà lại nổi, người ta tin rằng ma quỷ đã giúp họ. Do đó, họ phải chịu những hình thức tra tấn khác. Một số thẩm phán dị giáo còn khuyến nghị rằng bất kỳ người phụ nữ hay đàn ông nào khi đã bị buộc tội là phù thủy thì đều phải chịu hình phạt bị trói vào cọc bằng dây cáp với hai tay buộc ra sau và cơ thể treo lơ lửng trên dây”.
Thử nghĩ xem sự đày đọa đó nghĩa là gì: tay họ bị trói sau lưng và họ còn bị trói vào cọc thiêu bởi một sợi dây cáp. Nạn nhân phải cảm thấy đau đớn khủng khiếp nhường nào!
Như vậy, vị thẩm phán dị giáo đó khẳng định rằng: “đây là một hệ thống tuyệt vời, bởi vì kẻ bị buộc tội, khi rơi vào tình cảnh này, sẽ tự mình—bằng ma thuật và sự trợ giúp của ma quỷ—quay trở lại để đứng trên cọc thiêu. Và khi đó, họ sẽ ‘hát lên’, tức là thú nhận tội ác của mình.”
Tòa thẩm giáo cũng lan đến Thổ Nhĩ Kỳ, dù phần lớn người Thổ theo đạo Hồi. Ở đó, một số tác giả viết về thẩm giáo đã mô tả rằng: “lột móng tay của những người bị buộc tội phù thủy, đóng đinh vào đó để họ đau đớn tột cùng, đưa họ đến tháp hành hình hoặc ném xuống hố sâu, thiêu cháy bàn chân của họ, v.v. Tất cả những hình phạt này được coi là một phần của công lý thiêng liêng.” Hãy suy ngẫm về tội ác đó, về mức độ tàn bạo và man rợ của tòa thẩm giáo.
Vào thời đó, họ đã cáo buộc một linh mục tội nghiệp chỉ vì phạm sai lầm khi thú nhận rằng, trong khoảng 40 năm, ông đã có quan hệ tình dục với một nữ quỷ. Mặc dù vị linh mục già đã ngoài 90 tuổi, nhưng ông vẫn bị lôi ra thiêu sống trên cọc.
Một vị tu sĩ khác, chỉ vì có người nói rằng: “ông luôn có một nữ quỷ vô hình đồng hành và đã quan hệ tình dục với nữ quỷ đó trong nhiều năm”, đã bị kết án dựa trên lời cáo buộc ấy. Kết quả là ông đã bị thiêu sống trên giàn hỏa thiêu khủng khiếp của tòa thẩm giáo.
Trong số những hành động “vì đức tin” của tòa thẩm giáo, có một chuyện được kể lại như sau: “Ở Đức, có một người nọ khi đang đi ngang một bãi cỏ xuyên qua rừng, tình cờ gặp một nhóm người đang làm lễ Sa-bát. Những người này thấy mình bị phát hiện, lập tức chìm vào trục thứ tư và biến mất [1]. Tuy nhiên, họ để lại trên mặt đất một cái cốc, trên đó có ghi tên của nhiều người nổi tiếng.”
[1] Trục thứ tư chỉ trạng thái Jinn, trong đó một vật thể hoặc thân thể có thể được đưa vào chiều không gian thứ tư để biến mất khỏi cõi vật chất và xuất hiện ở nơi khác. Xem thêm: https://gnosisvn.org/2017/01/20/trang-thai-jinn/.
Tất nhiên, không thể khác được – chiếc cốc đó liền bị giao nộp cho tòa thẩm giáo và những người có tên trên đó bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Người ta nói rằng giáo hoàng Silvestrô và giáo hoàng Lêôn Cả đều đã bị coi là phù thủy, v.v.

Nhìn chung, những ngọn lửa thiêu của tòa thẩm giáo đã bùng lên khủng khiếp và vô cùng điên loạn.
Chúng ta không phủ nhận sự tồn tại của nhiều hội phù thủy, nhưng nhiều người cũng đã bị thiêu sống vì “dị giáo”. Nhiều học trò Gnosis cũng đã bị thiêu sống. Trong đó có những người Albigense đã bị thiêu trên cọc và nhiều cộng đồng huyền học khác. Các Hiệp sĩ Đền Thánh cũng đã bị phán là “dị giáo”, là “phù thủy” và rồi bị bức hại. Nhưng, hội hiệp sĩ này vẫn tiếp tục hoạt động một cách bí mật.
Trong những câu chuyện được kể vào thời Trung cổ, có một chuyện nói rằng ma quỷ xuất hiện trước các mụ phù thủy trong hình dạng của một con dê đực hoặc một con mèo đen hay một bóng ma. Kẻ nào thờ phụng ma quỷ thì sẽ có quyền tham gia vào buổi lễ của hội phù thủy đó.
Ngày nay, trong thế kỷ 20 này (vốn được coi là thế kỷ ánh sáng, mặc dù không liên quan gì đến ánh sáng), chuyện về phù thủy có vẻ không còn hợp thời nữa. Những chuyện này trở nên lạc hậu, đặc biệt là trong thời kỳ mà người ta nói về nguyên tử, về các tia Alpha, Beta và Gamma, về chùm tia laser chiếu đến mặt trăng chỉ trong vài giây, v.v. Tuy nhiên, phép phù thủy thực sự đã tồn tại.
Thời đó, có một vị giáo hoàng nổi tiếng với tính khí hung hăng và hay nổi giận—Gregory IX. Ông ta đã buông lời nguyền rủa các phù thủy. Ông tuyên bố rằng nhiều giáo sĩ cấp cao thực hành ma thuật, rằng các phù thủy có thể tạo ra sấm sét, gây mưa đá, hủy hoại mùa màng, v.v. Tóm lại, theo ông, tất cả giáo sĩ hành pháp thuật đều phải bị thiêu sống! Bất cứ khi nào có một cơn bão lớn xảy ra, người ta lập tức nghi ngờ đó là do phù thủy, và nếu ai đó sống gần đó mà bị nghi ngờ thì chẳng cần điều tra—họ sẽ bị đưa ngay lên giàn thiêu. Hàng ngàn người đã bị giết như vậy mỗi năm, cả châu Âu chìm trong tiếng khóc than. Ai cũng có thể bị kết tội là phù thủy, kể cả Tiến sĩ Bacon nổi tiếng cũng bị kết án như thế. Dù ông không bị thiêu sống, nhưng cũng bị tước mất tự do—bị giam cầm trong ngục tối của tòa thẩm giáo, và chết tại đó.

Tôi vẫn không thể hiểu tại sao bác sĩ Faust lại không bị rơi vào cuộc truy bắt đó mặc dù ông khá nổi tiếng. Ông đã cười nhạo tòa thẩm giáo. Rõ ràng là bác sĩ Faust có phép thần thông phi thường.
Còn về phần Cornelius Agrippa, ông có vẻ giống như một kẻ phiêu bạt, luôn lang thang từ thành phố này sang thành phố khác. Ông bị buộc tội là phù thủy và tôi không biết còn tội danh gì nữa không, nhưng những người của toà án dị giáo lại không thể bắt được ông.
Thời đó, ở Đức, người ta nói rằng có một phù thủy đã bay lên từ mặt đất và lơ lửng ngay giữa ban ngày. Ông tiến vào trục thứ tư trước mặt mọi người, trong sự phán xét nghiêm khắc của công chúng. Vợ ông đã cố gắng níu ông lại, thậm chí giữ chân ông, dân chúng trở nên phẫn nộ và rút gươm ra. Nhưng cả người vợ lẫn gươm giáo đều không thể làm hại ông. Chuyện gì đã xảy ra với vị phù thủy đó? Không ai biết cả!
Trước kia đã có những nhà luyện kim đan rất nổi tiếng. Chúng ta hãy nhớ đến Nicolás Flamel, con người vĩ đại, người đã viết nên nhiều tác phẩm tuyệt vời, người đã cống hiến rất nhiều cho nhân loại. Nicolás Flamel đã giảng dạy chi tiết tất cả các bước của công trình tu tập vĩ đại. Ông đã không rơi vào tay tòa thẩm giáo và đó là một điều kỳ diệu.
Sendivogius và Ramon Llull, một người rất nổi tiếng, cũng không rơi vào tay tòa thẩm giáo. Ramon Llull đã chết do bị ném đá ở Ả-rập. Ông đến đó để giảng dạy cho người Moor, với nhiệt huyết muốn truyền bá giáo lý Cơ đốc huyền bí. Nếu ông đến dạy người Sufi thì chuyện đáng tiếc đã không xảy ra. Nhưng thật không may, ông đã đến một nơi toàn những kẻ cuồng tín không hề biết gì về huyền học và họ đã ném đá ông đến chết.


Về phần Nicolás Flamel, nhà luyện kim đan nổi tiếng thời Trung cổ, thầy sẽ nói với các bạn rằng ông ấy vẫn còn sống, hoàn toàn khỏe mạnh và trường thọ. Thầy sẽ nhắc lại đây, để những gì thầy đang nói được ghi lại, rằng Nicolas Flamel, nhà luyện kim đan nổi tiếng thời Trung cổ, vẫn còn sống và hoàn toàn khoẻ mạnh. Thầy nói rằng ông sống ở Ấn Độ, với vợ là Perenelle. Ông có thuốc trường sinh, thuốc trị bách bệnh và viên đá triết học. Ông đã hoàn thiện công trình vĩ đại và là một người bất tử.
Vì vậy, mặc dù điều thầy nói có vẻ kỳ lạ nhưng có những bậc chân sư vẫn sống trong cùng một cơ thể vật chất mà họ đã có từ thời xưa, vượt qua lớp bụi của hàng thế kỷ, vượt qua tất cả những hầm mộ tang tóc của thời thẩm giáo.
Bá tước St.Germain là một thánh sư bất tử vĩ đại. Ông đã từng tham dự một bữa tiệc nhảy múa tại một tổ chức phù thủy. Ông đến đó không phải để nhảy múa mà là để điều tra, quan sát và nghiên cứu. Đây là một mục đích hoàn toàn khác.

Liên quan đến chủ đề phù thủy, chúng ta không nên ngạc nhiên về các cuộc đàn áp này vì ngay chính Chúa Giêsu xứ Nazareth cũng đã bị buộc tội là phù thủy và bị đóng đinh vào cây thập tự, nhất là khi Chúa Giêsu bị Lucifer đưa lên đỉnh của ngôi đền để xử tử. Chính Lucifer đã đưa Ngài lên đỉnh núi. [2]
[2] Đọc thêm bài về chúa Giê-su bị ác quỷ cám dỗ: https://gnosisvn.org/2021/10/11/chua-gie-su-bi-ac-quy-cam-do/
Lu-xi-phe chính là sự phản chiếu của Ngôi lời trong mỗi chúng ta. Và chúng ta có đủ bằng chứng để thấy rằng Lu-xi-phe có sở hữu những siêu năng lực khủng khiếp.
Vậy là chính Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi việc bị buộc tội làm “trò phù thủy” và bị giải đến Đồi Sọ. Nhân loại vốn luôn là như thế và sẽ luôn là thế.
Mặc dù ngày nay chúng ta đang ở trong một thời đại đen tối của chủ nghĩa khoa học chủ quan hoặc giả khoa học tối tân, nhưng chúng ta vẫn có thể công khai nói về các vấn đề huyền học. Đó là lý do tại sao thầy nói với các bạn rằng bản thân việc này là một sự tiến bộ, bởi vì trong quá khứ chúng ta đã không được phép nói.
Vì sao chúng ta cần học cách xuất hồn?
Tiếp tục với bài giảng này, thầy muốn nói rằng điều quan trọng là chúng ta phải nghiên cứu cuộc sống trong các chiều không gian siêu cấp của tự nhiên và vũ trụ. Khi học được cách chủ động rời khỏi cơ thể vật chất thì chúng ta có thể nhìn, nghe, xúc chạm và cảm nhận được thực tại tuyệt vời của các cõi siêu việt. Khi học được cách chủ động rời khỏi thân xác thô đặc thì ta có thể di chuyển vào vùng vô định, vào chiều không gian thứ năm và trực tiếp biết được bí mật của sự sống và cái chết. Điều quan trọng là phải hành động.
Trên thực tế, mọi người đều xuất hồn ra ngoài cơ thể vật chất trong khi ngủ. Khi bắt đầu chìm vào giấc ngủ, các cái tôi của chúng ta sẽ ngắt kết nối với năm trung tâm của cỗ máy hữu cơ (cơ thể). Khi đó, những cái tôi này có thể di chuyển ra ngoài cơ thể thô đặc.
Rõ ràng, nếu chú ý đến quá trình tâm lý trong trạng thái giữa tỉnh và ngủ thì chúng ta có thể chủ động và trực tiếp rời khỏi cơ thể vật chất để thực sự du hành qua các thế giới siêu việt.
Bí quyết rất đơn giản: Hãy tận dụng trạng thái chuyển tiếp giữa thức và ngủ. Trong khoảnh khắc khi đang lơ mơ chìm dần vào giấc ngủ, chúng ta có thể chủ động thoát khỏi cơ thể vật chất. Nếu làm được vậy, chúng ta có thể đi vào cõi siêu việt.
Đây không phải là quá trình của lý trí, những gì thầy đang nói phải được chuyển thành hiện thực. Khi nói rằng chúng ta phải ra khỏi giường trong khoảnh khắc khi đang chìm vào giấc ngủ, thì đây không phải là nằm nghĩ về nó mà phải làm một cách tự nhiên như khi thức dậy buổi sáng để đi làm hoặc ăn sáng.
Việc ngồi dậy trong trạng thái chuyển giao giữa thức và ngủ rất quan trọng. Nếu làm được như vậy, các kết nối với cơ thể vật chất và các trung tâm xử lý của cỗ máy (cơ thể) sẽ được cắt đứt. Theo tiến trình này, cơ thể sẽ nằm lại trên giường, còn tinh chất sẽ thoát ra ngoài (dù bị nhốt kín trong cái tôi) để du hành xuyên qua thời gian và không gian.
Trong những thời kỳ trước, khi được dạy bí quyết này, con người có thể thực hành thành công ngay lập tức. Đáng tiếc thay, sự thoái hóa của nhân loại đã bước vào chu kỳ hủy diệt đỉnh cao – giai đoạn suy tàn cuối cùng của kỷ Kali Yuga – và vì thế, thể xác cũng như tâm lý của con người đã suy thoái vô cùng. Chính vì sự suy thoái của tâm lý này mà ngày nay, một người thụ nhận giáo lý này sẽ phải rèn luyện nỗ lực hơn nhiều mới có thể chủ động thoát ra khỏi cơ thể thô đặc.
Nếu suy ngẫm một chút về việc chủ động xuất hồn, chúng ta sẽ thấy rằng khả năng duy trì ý thức là rất quan trọng. Bởi vì, thầy nhắc lại, trong lúc chìm vào giấc ngủ thì tất cả mọi người đều bị ngắt kết nối với các trung tâm xử lý của cỗ máy con người và rời khỏi cơ thể thô đặc, nhưng họ làm việc này một cách vô thức.
Nếu chúng ta chú tâm và thuận theo tự nhiên một cách chính xác thì vấn đề sẽ được giải quyết, bởi vì khi đó hành động là có ý thức. Những gì trước đây chúng ta luôn làm trong trạng thái thiếu ý thức thì giờ phải làm trong trạng thái có ý thức. Quy trình thì vẫn giống như trước. Thầy không thấy vấn đề này có gì khó khăn. Thế nên để thoát ra khỏi cơ thể vật chất, chúng ta không cần phải tự thôi miên.
Thật sai lầm khi cho rằng “việc tách tính cách ra khỏi cơ thể là nguy hiểm”, rằng “khi vắng mặt, chúng ta có thể mất thân thể của mình vì có kẻ khác đến và chiếm cơ thể đó”, v.v. Những người nói vậy là rất sai lầm. Vì chính những người này hàng đêm cũng rời khỏi cơ thể họ, ngay khi chìm vào giấc ngủ. Việc chủ động xuất hồn tương đương với việc ý thức rõ khả năng tự nhiên của chính mình.
Thầy không thấy có gì nguy hiểm trong việc ý thức về năng lực tự nhiên của bản thân và thuận theo tự nhiên. Việc xuất hồn không bao giờ là nguy hiểm.
Một trong những lợi ích của việc chủ động xuất hồn là khả năng biết được về bí ẩn của sự sống và cái chết một cách trực tiếp. Điều này khá là thú vị.
Có những người tin rằng họ biết nhiều vì đã đọc nhiều, nhưng trên thực tế họ không biết gì cả. Bạn có thể nhồi nhét cả một thư viện vào đầu, đưa hết tất cả thông tin vào bộ nhớ, nhưng chắc chắn rằng nếu bạn chưa đưa kiến thức đã lưu trữ trong bộ nhớ vào tâm thức thì bạn vẫn chưa đạt được gì cả. Khi chết, bạn sẽ mất hết những kiến thức đó bởi đó là loại kiến thức thuần lý trí mà thôi.
Bạn có muốn bằng chứng về những gì thầy đang nói không? Nếu để ý bạn sẽ thấy rằng khi đầu thai vào thế giới này, chúng ta phải trở lại trường học để học lại cách đọc, cách viết. Chúng ta phải học lại tiểu học, trung học, v.v.
Ví dụ như nếu trong kiếp trước một người là luật sư, giống trường hợp của người anh em Alejandro Salas Linares ở đây, trong kiếp trước anh là luật sư Honorato Rayón và hiện tại anh phải quay lại học và phải tốt nghiệp đại học trước khi được làm nghề. Vậy điều này có nghĩa là những gì chúng ta chỉ lưu trong ký ức sẽ mất đi. Thực sự, chỉ có những gì được lưu trong tâm thức thì mới ở lại, đúng không? Chỉ có kiến thức đó mới đi cùng chúng ta khi đầu thai ở thế giới này. Khi nói đến “kiến thức bẩm sinh” là chúng ta đang nói đến những nguyên tắc đã được lưu giữ trong tâm thức.
Có những người nói rất hay về giáo lý luân hồi, có những người rất thành thạo trong việc giải thích chi tiết các quy luật vạn vật tái sinh vĩnh viễn. Những người này tin rằng, nếu họ am hiểu về lý trí thì họ thật xuất chúng hay đặc biệt lắm, nhưng không phải vậy. Họ chẳng biết gì về nghiệp và luật tái sinh cả. Tại sao vậy?
Bởi vì khi chết, với loại kiến thức kiểu lý trí như vậy, họ chẳng còn gì cả, họ đã lãng phí thời gian một cách thảm hại.
Chúng ta phải đưa tri thức vào tâm thức. Khi học cách xuất hồn một cách chủ động, chúng ta có khả năng nhìn được các kiếp trước của mình trong chiều không gian thứ năm. Thông tin này được lưu giữ trong tâm thức. Nếu biết cách chủ động rời khỏi cơ thể vật chất thì trong các cõi siêu việt chúng ta sẽ có thể nói chuyện với các Elohim và học được những sự thật siêu phàm từ họ.
Một số người tin rằng họ đã hiểu hết về nhân quả vì họ được học nhiều về giáo lý. Thế nhưng cả đời họ chưa bao giờ chủ động bước vào cung điện Anubis. [3] Nếu như bạn chưa bao giờ chủ động đàm phán nghiệp của chính mình trong đền thờ đó, nếu bạn chưa xem sổ [ghi lại nhân quả] của mình, thì bạn đã thực sự biết được gì về luật nhân quả chưa? Không hề, bạn hoàn toàn không biết gì cả. Thế nên, cơ bản và quan trọng là phải thực tế.
[3] Trong tôn giáo Ai Cập, Anubis là vị thần phụ trách toà án nghiệp. Nếu có khả năng xuất hồn, chúng ta thực sự có thể đến toà án của thần Anubis để đàm phán về nhân quả.
May mắn thay, thầy xin nhắc lại, chúng ta đang ở thời đại này. Nếu là vào giữa thời Trung cổ và vào thời điểm mà giáo hội nổi lên những ngọn lửa thiêu điên cuồng và khủng khiếp thì chỉ một bài giảng như thế này đã là quá đủ để tất cả chúng ta ở đây bị giải đến tòa án dị giáo.
Thế nên, mặc dù hiện nay thực sự chúng ta đang ở trong một thời đại đen tối nhưng ít nhất chúng ta có thể công khai nói về những chuyện này mà không ai bị buộc tội là phù thủy. Hãy tận dụng cơ hội tuyệt vời này để đánh thức tâm thức. Đó là việc cơ bản. Chừng nào còn chưa thức tỉnh thì chúng ta thật sự chưa biết gì. Một người ngủ mê thì có thể biết được gì? Việc chủ động xuất khỏi cơ thể vật chất là một việc rất thú vị, bởi vì thực tế điều này ngụ ý sự thôi thúc hướng tới thức tỉnh.
Vào thời xưa, việc đưa cơ thể vào trục thứ tư — như Chúa Giêsu xứ Nazareth đã minh chứng khi đi bộ trên biển Galilee — không hề bị xem là điều kỳ lạ. Tuy nhiên, nếu Ngài thực hiện phép thần thông này vào thời trung cổ, hẳn đã bị đưa ra xét xử trước tòa án dị giáo.[4]
[4] Đọc thêm về Chúa Giê-su đi bộ trên mặt nước: https://gnosisvn.org/2024/01/21/chua-giesu-di-bo-tren-mat-nuoc-ma-thi-o-1422-33/

Sau khi đã học được cách rời khỏi cơ thể vật chất theo ý muốn, chúng ta có thể học các kỹ năng nâng cao hơn trong lĩnh vực này. Mặc dù nghe có vẻ khó tin hay lạ lẫm, nhưng nếu một người xuất hồn ra khỏi cơ thể vật chất và yêu cầu thiên thần hộ mệnh mang cơ thể đang nằm trên giường đến, họ chắc chắn sẽ được trợ giúp. Vị thiên thần hộ mệnh thực sự có thể đưa cơ thể vật chất đến với bạn.
Bằng cách đưa cơ thể vật chất vào trong bản thân và đưa bản thân vào trong cơ thể vật chất đó, chúng ta có thể di chuyển trong chiều không gian thứ năm cùng với cơ thể thô đặc của mình. Sau đó, chúng ta vẫn có thể trở về nhà và nằm lại trên giường.
Thời nay việc này không có gì nguy hiểm, không giống như thời kỳ thẩm giáo trước đây với câu chuyện một người chồng bị xúc phạm đã không ngần ngại tố giác vợ mình. Chuyện là người đàn ông hiền lành này trước khi đi ngủ không mảy may nghi ngờ gì về vợ mình. Nhưng khi ngủ dậy không thấy vợ đâu, anh ta bắt đầu tìm kiếm vợ. Khi đó trong đầu anh ta bắt đầu nghĩ rằng vợ đã cắm sừng mình và tất nhiên anh chàng đã rất tức giận.
Khi người vợ nhận ra rằng người chồng đã biết việc cô thường ra khỏi nhà vào ban đêm — và tệ hơn nữa là anh đã hiểu sai về điều đó — cô buộc phải thú nhận rằng mình đã tham dự các buổi lễ Sa-bát của hội phù thủy, và thậm chí đã dạy cho anh một số phương pháp để mang theo cả cơ thể khi xuất hồn.
Anh chồng giống như một phù thủy tập sự giỏi, đã làm theo. Và quả thực là anh ta đã xuất hồn với cơ thể của mình. Không thể phủ nhận là vào thời kỳ đó, con người có đức tin nhiều hơn và đức tin là nền tảng. Các nhà biên sử thời thẩm giáo kể rằng người chồng đã tham dự lễ Sa-bát với vợ mình và thực sự anh ta đã rất vui vẻ trong bữa tiệc phù thủy, làm sao có thể phủ nhận được điều đó? Chuyện nghiêm trọng là sau đó, khi trở về nhà, anh chồng sợ hãi, kinh hoàng và đã nộp đơn khiếu nại chính thức trước tòa án dị giáo. Người vợ tội nghiệp đã bị thiêu sống.
Vì vậy, anh chị em ạ, thầy nói về tất cả những điều này để các bạn thấy rằng trong các thời đại trước đây, việc giảng dạy huyền học đã gặp rất nhiều khó khăn và phải hoạt động bí mật. Nhưng bây giờ thì đã khác, chúng ta có thể nói một cách công khai.
Tất nhiên, có hai loại trạng thái Jinn. Loại thứ nhất là những trạng thái Jinn của cánh tả – thế lực bóng tối, những Harpy [5] được Virgil, nhà thơ xứ Mantua kể lại trong tác phẩm “Aeneid”. Ngoài ra, có một loại trạng thái Jinn hoàn toàn khác biệt. Tôi muốn nhấn mạnh một cách khách quan về những trạng thái Jinn ánh sáng, như Don Mario Roso de Luna, nhà văn lỗi lạc người Tây Ban Nha, đã giải thích rất chi tiết. Ví dụ, Tuatha Dé Danann [6], những vị thần đã mang đến Ireland bốn biểu tượng phi thường (trong số nhiều bảo vật của họ): một ngọn giáo thép hay giáo Longinus hoặc cây giáo của Minerva, một biểu tượng hình dương vật đầy quyền năng. [7] Các bảo vật khác bao gồm chiếc cốc lớn tượng trưng cho yoni, viên đá tuyệt vời của chân lý và thanh kiếm rực lửa. Người ta nói rằng bốn thành phố kỳ diệu của châu Âu đã được tạo nên từ những trạng thái Jinn này.
[5] Harpy: sinh vật đầu người mình chim trong thần thoại Hy Lạp và La Mã.
[6] Tuatha Dé Danann: còn được biết đến với cái tên Tuath Dé (bộ tộc của các vị thần), là một chủng tộc siêu nhiên trong thần thoại Ai-len.
[7] Đọc thêm về cây giáo huyền bí tại: https://gnosisvn.org/2021/06/30/cay-giao-huyen-bi/

Không ai có thể phủ nhận việc họ đã chạy trốn khỏi Ireland, nhưng khi quay trở lại hòn đảo này, họ đã chiến đấu chống lại các pháp sư bóng tối và giành chiến thắng. Sau khi Atlantis chìm xuống, không ai còn biết gì về những trạng thái Jinn ánh sáng này nữa. Rõ ràng, cùng với cơ thể vật chất, họ đã vĩnh viễn nhập vào trục thứ tư.
Cá nhân thầy biết một chủng tộc cao quý tồn tại trong trạng thái Jinn, họ sống với cơ thể vật chất trên trục thứ tư của không gian. Những người đàn ông và phụ nữ của chủng tộc này có vẻ đẹp tuyệt vời, họ xây dựng nên những ngôi nhà tráng lệ và sinh con đẻ cái.
Đó là một chủng tộc rất gần với chúng ta, họ sống ở khắp mọi nơi. Nếu chúng ta đang sống trong thế giới ba chiều, thì họ tồn tại trong chiều không gian thứ tư, và thầy nhấn mạnh rằng họ có thân thể bằng xương bằng thịt. Họ cũng ăn uống, sinh con và sống một cuộc đời hạnh phúc. Họ chưa từng rời khỏi “thiên đường”, mà luôn sống trong trạng thái thiên đường. Họ chính là những người mà ta có thể gọi là “Jinn trắng”.
Thế nên, nếu học được cách chủ động rời khỏi cơ thể vật chất thì đó là một điều tốt. Vì nhờ đó, chúng ta có thể trực tiếp học về các bí ẩn của vũ trụ hoặc “nghi thức sinh tử, trong khi đợi người hành lễ đến”.
Nếu học được cách mang cơ thể vật chất vào trạng thái Jinn thì càng tốt bởi vì cơ thể vật chất có nhiều khả năng mà một khi được phát triển thì sẽ làm cho phương tiện này trở nên tuyệt vời. Với cơ thể đó, ta có thể tiếp xúc với các chủng tộc hoặc các dân tộc sống trong cõi không gian bí ẩn.
Nhưng nếu chỉ chăm chăm vào hết lý thuyết này đến lý thuyết khác và không làm gì thực tế, nếu không thực chứng được những gì đang học, nếu chỉ để những điều đó trong bộ nhớ thì chắc chắn kiến thức đó sẽ mất đi.
Ký ức là nguyên tắc hình thành của trung tâm lý trí. Khi một người khao khát điều gì đó cao cả hơn, và qua hành thiền họ thực chứng những gì đã lưu giữ trong trí nhớ—chẳng hạn như bài giảng gần đây nhất họ nghe được, hay cuốn sách huyền học họ vừa đọc—thì những “giá trị” đó sẽ chuyển sang khía cạnh cảm xúc của chính trung tâm lý trí. Và nếu người ấy mong muốn hiểu được ý nghĩa sâu xa của tri thức đó, họ có thể nhập định trong thiền, mang theo cảm xúc chân thành và khát vọng lớn lao. Khi ấy, tri thức đó sẽ được truyền vào trung tâm cảm xúc nơi trái tim, và người ấy sẽ cảm nhận được kiến thức ấy tận sâu trong linh hồn mình.
Và nếu thực sự muốn đào sâu hơn, nếu khao khát đủ sâu sắc và họ trải nghiệm được kiến thức đó trong nội tâm thì những giá trị khả dĩ nhận thức được đó cuối cùng sẽ được lưu lại trong Phật tính, nghĩa là trong tâm thức. Khi đó, tri thức này sẽ không bao giờ bị mất đi, không bao giờ. Tri thức này sẽ làm cho Phật tính phong phú hơn. Đó chính là cách để nhận thức được những kiến thức Gnosis mà chúng ta đang học.
Vì vậy, thiền đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp ta ý thức sâu sắc hơn về những tri thức vốn có. Nhưng thầy nhấn mạnh, đừng mắc sai lầm khi chỉ lưu giữ những kiến thức đó trong ký ức, vì khi ta chết, tất cả sẽ tan biến. Đây không phải là điều để suy nghĩ hời hợt. Hãy thiền tập trung vào chủ đề này, suy ngẫm thật sâu và hiểu rõ về nó.
Sau đây chúng ta sẽ làm một vòng vầu nguyện chữa lành. Tuy nhiên, thầy để các bạn đặt câu hỏi. Thầy mời người anh em này nói.
Học trò: Trong những gì thầy vừa giải thích, em nghĩ rằng về bản chất thì nó là một phần trong quá trình hợp nhất các ý tưởng của giáo lý Gnosis. […] nó có liên quan gì đến nhận thức mà Kant đề cập đến trong cuốn “Phê phán lý tính thuần túy” của ông không ạ?
Samael Aun Weor: Trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy, Kant đã phân biệt rõ ràng giữa “khái niệm nội dung” — tức những khái niệm được hình thành trực tiếp từ thông tin do năm giác quan thu thập — và trực giác. Rõ ràng, trực giác được truyền xuống từ “trên”, từ thiên đường Urania, và chính là nguồn cội nền tảng của lý tính thuần túy.
Rõ ràng, bản thân lý tính thuần túy là lý tính khách quan, rất khác với chủ nghĩa duy lý chủ quan. Với chủ nghĩa duy lý chủ quan, như triết gia Emmanuel Kant xứ Königsberg đã chỉ ra, chúng ta không thể biết được “bản chất của sự vật.” Tuy nhiên, thông qua trực giác, khi được kết hợp với lý tính thuần túy, chúng ta có thể nhận thức bản chất sự vật một cách tự nhiên.
Nếu phân tích theo quan điểm này, ta thấy rằng bất kỳ kiến thức nào đi vào tâm thức thì hiển nhiên sẽ trở thành trực giác, là thứ đóng vai trò nền tảng cho lý tính thuần túy. Với lý tính thuần túy này, chúng ta có được nhận thức phi thường về “bản chất sự vật”. Đây là cách hiểu đúng về lý tính khách quan dưới ánh sáng của triết học Kant.
Thầy xin kết thúc tại đây. Anh chị em có muốn đặt câu hỏi nào nữa không? Có vẻ như thầy không thấy câu hỏi nào thêm. Giờ chúng ta sẽ cùng nhau thực hiện một vòng cầu nguyện huyền học nhé.
