Chương 7 – Thất Thánh Đường

Những bậc thiên nhãn thông vĩ đại kể cho chúng ta nghe về bảy luân xa, và Ông Leadbeater đã miêu tả chúng một cách phong phú chi tiết [1]. Các luân xa này thật sự là những giác quan của cơ thể tinh tú. Những trung tâm từ tính này có liên quan mật thiết với các tuyến nội tiết.

[1] Hãy tham khảo sách: “The Chakras” của C. W. Leadbeater

Con người là bộ ba của thân thể, Linh Hồn [Soul], và Tâm Linh [Spirit] [2]. Ở giữa Tâm Linh [Spirit] và Thân Thể tồn tại một bên dàn xếp. Đây chính là Linh Hồn [Soul]. Chúng ta, những người theo Gnosis, hiểu rằng Linh Hồn [Soul] vận một bộ trang phục kì diệu. Đó chính là Cơ Thể Tinh Tú. Chúng ta đã được biết trong suốt hành trình nghiên cứu Gnosis, rằng cơ thể tinh tú là cơ thể bản sao [3], được phú cho các giác quan bên trong nhiệm màu.

[2] Linh Hồn [Soul] và Thần-Linh [Spirit]

Thần-Linh [Spirit] tồn tại [một cách tự nhiên] nhưng Linh Hồn [Soul] phải được tạo thành.

(Esoteric Treatise of Hermetic Astrology – Samael Aun Weor)

[3] Cơ thể Bản sao (bản gốc tiếng Tây Ban Nha: doble organismo) – “Doble” có nghĩa đen là “kép”. Ở bối cảnh này nó chỉ một bản sao hoặc một phiên bản khác của cơ thể.

Trong phòng thực nghiệm của cơ thể con người có bảy thành tố được kiểm soát bởi ba hệ thần kinh khác nhau. Các dây thần kinh, như tác nhân của Định Luật Tam Giác, điều khiển Bảy Tuyến Hạch [chính yếu]. Ba hệ thần kinh điều khiển này làm tác động qua lại với nhau. Đầu tiên là hệ thần kinh trung ương [não-tủy sống], tác nhân của các chức năng ý thức; thứ hai, hệ Đại thần kinh giao cảm, là tác nhân của tiềm thức, vô thức và các chức năng bản năng; thứ ba, hệ thần kinh phó giao cảm hay dây thần kinh phế vị, nơi cộng tác bởi cơ chế kiểm soát các chức năng bản năng dưới sự chỉ đạo của tâm trí.

Hệ thần kinh não-tủy sống là cái ngai vàng của Tâm Linh Thần Thánh. Hệ đại thần kinh giao cảm là phương tiện của [cơ thể] Tinh Tú. Dây thần kinh phế vị hay hệ thần kinh phó giao cảm tuân theo sự chỉ thị của Tâm Trí. Ba Tia và bảy trung tâm từ tính là nền tảng cho bất kỳ Trật Tự [Cosmos [4]], trong sự to lớn vô hạn, cũng như nhỏ bé tột cùng. ”Trên ra sao, thì dưới như vậy”

[4] Cosmos – Thế giới, trật tự, hệ thống, vũ trụ – Trong huyền học, từ macrocosmos chỉ vũ trụ và microcosmos chỉ con người.

Bảy tuyến hạch quan trọng nhất của cơ thể loài người thiết lập thành bảy phòng thực nghiệm được kiểm soát bởi Định Luật Tam Giác. Mỗi một tuyến hạch này được đại diện bởi một luân xa của cơ thể. Mỗi một trong bảy luân xa có liên quan mật thiết với Thất Thánh Đường [5] của dây cột sống. Thất Thánh Đường của cột sống điều khiển bảy luân xa của hệ đại thần kinh giao cảm.

[5] Thất Thánh Đường được Kinh Thánh Tiếng Việt gọi là Bảy Hội Thánh:

Vào ngày của Chúa, tôi được Thánh Linh cảm hóa và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn bảo rằng: “Hãy viết những điều con thấy vào một quyển sách và gửi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Pẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-xê.”

(Khải Huyền 1:10-11, Kinh Thánh)

Thất Thánh Đường nhập vào hoạt động mãnh liệt cùng với sự thăng lên của Kundalini xuyên qua ống cột sống. Kundalini ngụ lại trong các electron. Các bậc thông thái lấy nó làm đối tượng thiền, người mộ đạo tôn sùng nó, và trong các ngôi nhà nơi Hôn Nhân Hoàn Hảo ngự trị họ làm việc với nó một cách thiết thực.

Thất Thánh Đường nhập vào hoạt động mãnh liệt cùng với sự thăng lên của Kundalini xuyên qua ống cột sống.

Kundalini là Ngọn Lửa Dương được bao bọc trong các nguyên tử tinh dịch, các thực thể electron nóng rực của Mặt Trời mà khi được phóng thích sẽ biến đổi chúng ta thành các Thánh Thần vô cùng linh thiêng.

Ngọn lửa của trái tim điều khiển sự thăng lên của Kundalini thông qua ống cột sống. Kundalini phát triển, tiến hóa và tiến triển tương ứng với đức tính của trái tim. Kundalini là năng lượng nguyên thủy được bao bọc bên trong Thánh Đường của Ê-phê-sô [hay còn gọi là luân xa Muladhara]. Thánh đường này nằm ở khoảng hai ngón tay phía trên hậu môn, và khoảng hai ngón tay bên dưới bộ phận sinh dục.

Con Hỏa Xà linh thiêng ngủ mơ trong Thánh Đường của nó, cuộn xoắn ba phẩy năm lần. Khi các nguyên tử Dương và Âm gặp nhau trong TRIVENI gần với xương cụt, con hỏa xà Kundalini của các phép thần thông trong chúng ta thức tỉnh. Khi con Rắn thăng lên trong ống xương sống, nó kích hoạt từng nơi trong Thất Thánh Đường.

Tượng Con rắn Aztec cuộn xoắn

Luân xa của tuyến sinh dục được điều hành bởi sao Thiên Vương, và tuyến tùng ngụ tại vùng trên của não bộ, được điều khiển bởi sao Hải Vương. Giữa hai tuyến này có sự liên quan mật thiết, và Kundalini phải kết nối chúng trong Ngọn Lửa Linh Thiêng để đạt được Giác Ngộ hoàn toàn. Thánh đường của Ê-phê-sô là một bóng hoa sen với bốn cánh hoa lộng lẫy. Thánh Đường này tỏa sáng như mười triệu mặt trời rực rỡ. Nguyên Tố Đất của các bậc Thông Thái được chinh phục bởi sức mạnh của Thánh Đường này [6].

[6] Nguyên Tố Đất được chinh phục

Khi tập Samyama trên các nguyên tố, bắt đầu với loại thô và kết thúc với loại siêu tinh vi, chúng ta chinh phục được các nguyên tố.

(Patanjali Yoga Sutra 3.45, bản dịch của Swami Vivekananda)
Luân xa Muladhara – Thánh đường của Ê-phê-sô là một bóng hoa sen với bốn cánh hoa lộng lẫy.

Sự thăng lên của Kundalini tới vùng tuyến tiền liệt [hoặc tử cung] kích hoạt sáu cánh hoa trong Thánh Đường của Si-miệc-nơ. Thánh đường này ban cho chúng ta sức mạnh chinh phục nguyên tố nước của sự sống, và [ban cho chúng ta] hạnh phúc của sự sáng tạo [7].

[7] Hạnh phúc của sự sáng tạo – Thánh đường Si-miệc-nơ với luân xa Swadhisthana hay là luân xa xương cùng quản lý năng lực tình dục.

Khi con Rắn Linh Thiêng chạm đến vùng rốn, chúng ta có thể chế ngự các núi lửa, bởi vì nguyên tố lửa của bậc thông thái tương ứng với Thánh đường của Pẹt-găm, ngụ tại đám rối dương. Trung tâm này điều khiển lá lách, gan, tuyến tụy, v.v., v.v. Trung tâm của Pẹt-găm có mười cánh hoa.

Với sự thăng lên của Kundalini đến với vùng trái tim, nó dẫn đến các hoạt động trong Thánh đường của Thi-a-ti-rơ với mười hai cánh hoa tuyệt diệu. Thánh đường này ban cho chúng ta sức mạnh của nguyên tố khí của các bậc thông thái. Sự phát triển của trung tâm trái tim mang đến sự cảm hứng, linh cảm, trực giác và khả năng di chuyển có ý thức bằng cơ thể tinh tú, cũng như là khả năng để đưa thân thể vào trạng thái Jinn.

Chương thứ hai của Kinh Khải Huyền nói về Tứ Thánh Đường bậc thấp trong cơ thể chúng ta. Bốn trung tâm này được biết đến như Nền Tảng hay Cơ Sở [Luân xa gốc], Tuyến Tiền Liệt [hay tử cung, luân xa xương cùng], Điểm Rốn và Tim. Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu về ba trung tâm từ tính bậc cao được đề cập trong chương thứ ba của Kinh Khải Huyền. Tam Thánh Đường bậc cao này là: Thánh đường của Sạt-đe, của Phi-la-đen-phi-a và cuối cùng là của Lao-đi-xê.

Sự thăng lên của Kundalini đến vùng thanh quản sáng tạo ban cho chúng ta sức mạnh có thể nghe thấy giọng nói của các thánh thần sống trên Thượng Giới. Luân xa này có liên quan tới Akasha (ākāśa) tinh khiết. Akasha là đại diện của thanh âm. Luân xa thanh quản là Thánh Đường của Sạt-đe. Khi Kundalini mở Thánh Đường của Sạt-đe, ngôi lời liền nở rộ trên đôi môi màu mỡ của chúng ta. Luân xa thanh quản có mười sáu cánh hoa xinh đẹp.

Sự phát triển toàn diện của Trung Tâm Akasha này cho phép chúng ta duy trì thân thể chúng ta còn sống cho dù trải đến những đêm tối sâu thẳm của Pralaya vĩ đại [8]. Chúng ta không thể hiện thân Ngôi Lời nếu Con Rắn Linh Thiêng chưa được thức tỉnh. Nói cụ thể hơn; đại diện của ngôi lời là Akasha. [Akasha] dẫn ngôi lời giống như dây điện dẫn điện lực. Ngôi lời cần có Akasha để biểu hiện.

[8] Pralaya (Tiếng Phạn) chỉ “bản đêm” của vũ trụ:

Vũ trụ trước và sau tạo hóa giống như một miếng vải được gấp lại và phơi ra. Trong trạng thái gấp lại không ai nhận ra đó là miếng vải hay là cái gì, nhưng khi nào được phơi ra thì chúng ta nhận ra rất rõ. [Cũng như thế] trong trạng thái Pralaya (sự tan rã), tức là trước tạo hóa, cả vũ trụ tồn tại trong trạng thái tiềm tàng tinh vi trong Brahman, và sau sự tạo hóa nó hiện hữu với hình thể được biểu hiện rõ ràng.

(Brahma Sutra, Chương II, Phần I, Adhikarana VI)

Akasha là đại diện của âm thanh. Kundalini chính là Akasha. Akasha gắn liền với tình dục. Kundalini gắn liền với tình dục. Trung tâm từ tính, nơi cư trú thông thường của Kundalini, tuyệt đối gắn liền với tình dục. Chúng ta thấy rõ điều này vì vị trí của nó nằm khoảng hai ngón tay phía trên hậu môn và khoảng hai ngón tay bên dưới bộ phận sinh dục. (Không gian đó rộng khoảng bốn ngón tay.) [9]

[9] Rộng khoảng bốn ngón tay – 2 ngón phía trên hậu môn, 2 ngón phía dưới bộ phận sinh dục, và rộng khoảng bốn ngón tay: thế thì khoảng cách giữa bộ phận sinh dục và hậu môn phải khoảng 8 ngón. Rõ ràng thầy đang mô tả vị trí này trên cơ thể nam giới.

Chỉ với Phép Tình Dục chúng ta mới có thể đánh thức Kundalini và phát triển nó một cách trọn vẹn. Những người tính dục hạ cấp không thích điều này. Họ tự thấy mình là người siêu việt và họ ghét Phép Tình Dục đến chết.

Vào một dịp nọ, sau khi nghe chúng tôi giảng về Phép Tình Dục, một người phản đối rằng với giáo lý này, các bậc thầy trong hệ phái Gnosis đang làm bại hoại người phụ nữ. Người đó là một người tính dục hạ cấp. Ông ta phản đối vì chúng tôi dạy Khoa Học Phục Sinh, nhưng ngược lại, ông ấy không phản đối lại với tình dục song tính [10], hoặc với gái mại dâm, hay với thói thủ dâm. Ông ấy cũng không nói rằng những người như thế bị bại hoại. Ông phản đối lại với Giáo Pháp Phục Sinh nhưng ông không phản đối với Giáo Pháp Thoái Hóa. Người tính dục hạ cấp là như thế. Họ tự cảm thấy siêu việt hơn rất nhiều so với người tính dục bình thường. Người ta phản đối sự Phục Sinh nhưng lại biện hộ cho sự Thoái Hóa.

[10] tình dục song tính (tiếng Anh: intermediate sexuality) – tính dục không rõ; ở giữa nam và nữ.

Người tính dục hạ cấp không bao giờ hiện thân được Ngôi lời. Họ khạc nhổ trong Thánh Đường của tình dục, và luật [vũ trụ] trừng phạt và ném họ vào Vực Thẳm Địa Ngục mãi mãi. [Dịch giả: Hãy đọc ghi chú số [11] ở dưới để tránh hiểu lầm về ý nghĩa của câu đó.] Tình dục là Thánh Đường của Đức Thánh Linh.

[11] Giam giữ mãi ở dưới vực sâu – Ở bối cảnh này từ “mãi” có ý nghĩa rất tinh vi. Ở sách “Hell, the Devil, and Karma” thầy Samael nói sau:

“Không nghi ngờ gì nữa, sự đoán phạt vĩnh viễn không tồn tại, vì tất cả việc xử phạt, dù nghiêm trọng đến thế nào, vẫn phải có giới hạn; sau đó, hạnh phúc ngự trị. […] Sau khi chất liệu tâm lý đã khôi phục được trạng thái tinh khiết bằng Cái Chết Thứ Hai, tinh chất được giải phóng để khởi đầu lại một quá trình tiến hóa toàn diện. Vì thế cho nên chúng ta phản đối lại với giáo pháp của sự đoán phạt vĩnh viễn tuyệt đối, điều đó là hiển nhiên và rõ ràng.” (Samael Aun Weor – Hell, The Devil, and Karma)

Các giáo pháp về sự đoán phạt vĩnh viễn bị nhầm lẫn, vì nếu không có kết thúc thì sự đoán phạt đó sẽ không có kết quả, tức là không có mục tiêu. Theo giáo pháp của Gnosis, khi nào một người đã tăng cường Ego đến nỗi họ không còn khả năng tìm lại hạnh phúc cho chính bản thân họ thì phương án duy nhất còn lại cho họ là để giết ego bằng cách trải nghiệm sự đau khổ trong một thời gian nhất định. Bản dịch tiếng Việt của Giô-na 2:6 trong kinh thánh có ghi:

Con đã bị chìm sâu xuống tận nền các núi, Ðất bên dưới đã gài then để giữ con lại vĩnh viễn.

Từ “vĩnh viễn” ở trên (tiếng Do Thái: לְעוֹלָ֑ם) thường sẽ được hiểu là “một khoảng thời gian vô hạn”. Tuy nhiên, ở bối cảnh của Giô-na 2:6 ở trên, chúng ta thấy rằng Giô-na đang nói về một khoảng thời gian dài ba ngày và ba đêm. Hiển nhiên rằng đó không phải là định nghĩa thông thường của từ vĩnh viễn. Cái gì bị ảnh hưởng bởi thời gian phải có bắt đầu và kết thúc. Vì thế cho nên từ “vĩnh viễn” (לְעוֹלָ֑ם) chỉ hợp lý khi nói về chân lý ở ngoài ảnh hưởng của thời gian hay đơn giản hơn, khi chỉ nói về một khoảng thời gian dài. Trong bối cảnh của Kinh Thánh, Kitô giáo và Do Thái giáo sẽ bị bóp méo thành dị giáo pháp vô lý nếu chúng ta cho rằng từ (לְעוֹלָ֑ם) chỉ một khoảng thời gian vô hạn.

Khi Kundalini đã lên đến tận điểm huyệt ở giữa hai lông mày thì Thánh Đường Phi-la-đen-phi-a được khai mở. Đó chính là Con Mắt Trí Tuệ. Đức Cha Bí Ẩn ngụ tại trung tâm từ tính này. Luân xa thiên mục có hai cánh hoa chính và phát ra vô số tia sáng rực rỡ. Trung tâm này là ngai vàng của tâm trí. Không có bậc thiên nhãn thông đích thực nào nói [rằng mình có phép nhãn thông như] thế. Các bậc thiên nhãn thông đích thực không bao giờ nói “tôi thấy rằng…”. Một Bậc thiên nhãn thông đích thực nói: “chúng ta cho rằng…”

Tất cả các bậc thiên nhãn thông phải có Điểm Đạo [12]. Một bậc thiên nhãn thông chưa có Điểm Đạo có nguy cơ bị rơi vào sai lầm rất nghiêm trọng. Các bậc thiên nhãn thông, nếu cứ liên tục kể lại cái thấy cho cả thế giới nghe, nguy cơ sẽ bị mất khả năng đặc biệt của họ. Một bậc nhãn thông ba hoa cũng có thể bị mất cân bằng tâm trí. Một bậc thiên nhãn thông phải biết im lặng, khiêm tốn, nhún nhường. Bậc thiên nhãn thông phải giống như một đứa trẻ.

[12] Điểm đạo – tức là họ phải nhận quán đảnh. Quán đảnh là một buổi lễ diễn ra trên các cõi bí ẩn. Một bậc thầy đích thực có thể thực hiện quán đảnh cho đệ tử ở cõi vật chất và ở các cõi khác cùng một lúc. Tuy nhiên, sức mạnh của quán đảnh không đến từ vật chất cho nên quán đảnh ở cõi cao hơn mới là quán đảnh thực sự. Lễ quán đảnh ở cõi vật chất chỉ là hình thức bên ngoài của một buổi lễ quán đảnh ở cõi khác.

Khi Kundalini đã tới tuyến tùng thì Thánh Đường Lao-đi-xê được khai mở. Hoa sen này có một nghìn cánh hoa rực rỡ. Tuyến tùng được ảnh hưởng bởi sao Hải Vương. Khi Thánh Đường này được khai mở, chúng ta sẽ có khả năng đa nhãn thông [13], trực giác, v.v., v.v.

[13] Đa Nhãn Thông (tiếng Anh: Polyvoyance) –

“Đa Nhãn Thông là nhãn thông với trực giác. Đó là sự Toàn Trí Thần Thánh.” (Samael Aun Weor – Hôn Nhân Hoàn Hảo – Chương 18)

‘Con mắt khai mở’ là con mắt tâm linh bên trong của nhà tiên tri, và khả năng được hiện diện thông qua nó không phải là nhãn thông theo cách hiểu thông thường là “khả năng nhìn thấy từ xa”, mà nó là khả năng trực giác tâm linh. Với khả năng đó, chúng ta có thể nhận biết sự thật một cách trực tiếp. (H. P. Blavatsky – The Secret Doctrine)

Tuyến tùng là trung tâm của đa nhãn thông trực giác. Trong trái tim, trực giác hiện diện bằng linh cảm. Tuy nhiên, trong tuyến tùng, linh cảm đó được biến thành hình ảnh trực giác. (Samael Aun Weor – Alchemy and Kabbalah in the Tarot)

Tuyến tùng có liên quan mật thiết với các luân xa của tuyến sinh dục. Năng lượng sinh dục ở cấp độ càng cao thì tuyến tùng càng phát triển ở cấp độ cao. Năng lượng sinh dục ở cấp độ càng thấp thì tuyến tùng chỉ phát triển ở cấp độ thấp. Sao Thiên Vương ở cơ quan sinh dục và Sao Hải Vương ở tuyến tùng kết hợp để đưa chúng ta tới sự Giác Ngộ hoàn toàn.

Trong các Trường Phái [truyền dạy giáo lý] Phục Sinh – mà những người tính dục hạ cấp ghét đến chết – chúng ta được dạy phương pháp làm việc thực tế với Khoa Học của sao Thiên Vương và sao Hải Vương.

Con đường của đạo bao gồm ba con đường, [và đây là] con đường thứ tư [14]. [Những tác giả khác] đã nói rất nhiều về bốn con đường rồi. Trong hệ phái Gnosis, chúng ta đi trên con đường thứ tư với ý thức toàn diện. Khi quan hệ tình dục, chúng ta chuyển hóa các bản năng thú tính của cơ thể vật chất thành ý chí, những cảm xúc đam mê của [cơ thể] Tinh Tú thành tình yêu, những động cơ của tâm trí thành hiểu biết; và chúng ta là những thần linh đang thực hiện Công Việc Vĩ Đại. Trên thực tế, đó là cách chúng ta theo bốn con đường. Chúng ta không cần trở thành những Fakir [tu sĩ khổ hạnh] để đi theo con đường thứ nhất, cũng như không cần thành nhà sư để đi theo con đường thứ hai, cũng không cần trở thành bậc uyên bác để đi theo đường thứ ba. Con đường của Hôn Nhân Hoàn Hảo cho phép chúng ta đi theo cả bốn con đường trong khi quan hệ tình dục.

[14] Con đường thứ tư (tiếng Anh: Fourth Way) –

Tất cả con đường phổ biến để tới cuộc sống bất diệt có thể được phân chia thành ba loại như sau: Con đường của người Fakir Con đường của nhà Sư Con đường của bậc Yogi […] Con đường của người Fakir là con đường chiến đấu với cơ thể vật chất […] Con đường thứ hai là con đường của nhà Sư. Đó là con đường của đức tin, của cảm xúc về đạo, sự hy sinh cho đạo. […] Con đường thứ ba là con đường của các bậc yogi. Đó là con đường của hiểu biết, là con đường của tâm trí. […] Con đường thứ tư không có hình thức cố định như con đường của fakir, của sư và của yogi. Và trước hết chúng ta phải đi tìm nó. Đó là thử thách thứ nhất. [Con đường này] không phổ biến như ba con đường truyền thống. Nhiều người chưa bao giờ nghe nói về con đường thứ tư và cũng có người nói rằng nó không tồn tại và không thể tồn tại. […] (In Search of the Miraculous – Chương 2 – bởi P. D. Ouspenski)

Khi đề cập đến các trường phái của con đường thứ tư, chúng ta thấy rằng Gurdjieff, Ouspensky, và Nicoll đã viết theo hiểu biết của họ, nhưng những lời giải của họ có nhiều lầm lẫn. Ví dụ, Gurdjieff nhầm lẫn Kundalini với bộ phận Kundabuffer ghê tởm, và Ouspensky cũng lầm tưởng như thế. […] Trường Phái của Con Đường Thứ Tư rất cổ xưa; nó đến từ những miền đất cổ xưa. Đó là nền tảng của giáo pháp bí ẩn vĩ đại và nó còn tồn tại ở trong hệ phái Gnosis cũng như ở trong các tôn giáo của người Ai Cập, Lemuria, Atlantis, Phoenicia, v.v. Chúng ta phải đi theo Con Đường Thứ Tư đó. (Samael Aun Weor – Tarot and Kabbalah)

Từ câu thứ nhất đến câu thứ bảy [của chương thứ 2], Kinh Khải Huyền nói về trung tâm xương cụt [15]. Thánh Đường Ê-phê-sô nằm ở trung tâm này. Ở trung tâm sáng tạo này Con Hỏa Xà nằm cuộn ba phẩy năm (3,5) lần. Ai đánh thức được nó và làm cho nó đi lên trong ống tủy sống sẽ nhận Thanh Gươm chói lọi và sau đó thâm nhập vào Ê-đen. [16]

[15] trung tâm xương cụt

Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Ê-phê-sô rằng: Đây là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay phải, và đi giữa bảy chân đèn bằng vàng: ‘Ta biết các công việc của con, sự khó nhọc của con, sự kiên trì của con. Ta biết con không thể dung chịu những kẻ xấu, và đã thử những người tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, và con đã nhận ra rằng họ là những kẻ nói dối. Con kiên trì, chịu đựng vì danh Ta không chút mệt mỏi. Nhưng điều Ta trách con, ấy là con đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy, hãy nhớ lại con đã sa sút từ đâu! Hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với con và truất bỏ chân đèn của con khỏi chỗ nó. Tuy nhiên, con được điều nầy: Ấy là con ghét những công việc của nhóm Ni-cô-la, mà Ta cũng ghét nữa.’ Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống trong Pa-ra-đi của Đức Chúa Trời.’

(Kinh Khải Huyền 2:1-7, Kinh Thánh)

[16] Ê-đen, Thanh Gươm rừng rực

Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra. Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.

(Sáng Thế Ký 3:23-24, Kinh Thánh)

Trong Con Rắn có con đường chuộc tội cho con người, nhưng chúng ta phải cảnh giác vì Con Rắn đó rất xảo quyệt. Chúng ta phải thưởng ngoạn trái cấm và ngửi mùi thơm của nó, nhưng hãy nhớ lời nói của Đức Giê-hô-va: “Nếu con ăn trái cây đó, thì chắc chắn con sẽ chết.” [17] Chúng ta phải hưởng thụ hạnh phúc của tình yêu, kính yêu người phụ nữ. [18] Một bức tranh đẹp làm mê ly chúng ta, một bài nhạc hay đưa chúng ta tới trạng thái ngây ngất, nhưng một phụ nữ đẹp và đáng yêu khiến chúng ta muốn sở hữu cô ấy trong quan hệ. Cô ấy là đại diện sống của Đức Chúa Mẹ. Khi quan hệ tình dục với người được kính yêu đó, chúng ta thấy khoái lạc không thể tả được. Hưởng thụ tình dục là quyền chính đáng của con người. Hãy hưởng thụ tình yêu, nhưng đừng làm đổ tinh dịch; đừng phạm thánh; đừng là người tà dâm [tiếng anh: fornicator]. Sự khiết tịnh biến chúng ta thành Vị Thần, sự tà dâm biến chúng ta thành Ác Quỷ.

[17] chắc chắn con sẽ chết

Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn. Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”

(Sáng Thế Ký 2:15-17, Kinh Thánh)

[18] Kính yêu người phụ nữ (tiếng Anh: adore the woman) – Từ “adore” có hai ý nghĩa: yêu tha thiết. thờ phượng.

“Các chị em hãy nghe: trong quá trình quan hệ tình dục [người phụ nữ] phải sống như là [hóa thân của nữ thần] Shakti, phải huy hoàng như Maya-Shakti (Người Phụ Nữ – Eva – Nữ thần). Chỉ bằng cách này mới có thể thành công trong việc đồng nhất bản chất của tình yêu với Tâm-thân thực tế của mình. Khi tập Sahaja Maithuna (phép tình dục), người đàn ông của trường phái Gnosis phải nhân cách hóa thần Shiva (Đức Thánh Linh) và cảm thấy mình được tràn ngập bởi sức mạnh kỳ diệu của Logos Thứ Ba.”

(The Mystery of the Golden Flower – Samael Aun Weor)

Thầy Krumm Heller bảo:

Giáo phái Naassene [19] dạy, Tất cả chúng ta sẽ trở thành Vị Thần nếu rời khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ. [20]

[19] Nassenes là một giáo phái Gnosis cổ xưa. Trong tác phẩm “Refutation of All Heresies”, phần 5, chương 1, Hyppolytus cho biết rằng tên của giáo phái này xuất phát từ tiếng Do Thái: נָחָשׁ, phiên âm tiếng Việt: na-khash, có nghĩa là “con rắn”. Vì thế, tín đồ giáo phái này được gọi là “người thờ con rắn”.

[20] Rời khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ – Hãy tham khảo Xuất Ai Cập Ký, chương 14. Truyện này tượng trưng cho quá trình tu luyện phép luyện kim tình dục.

Trong sách La Iglesia Gnóstica [21], thầy Krumm Heller kể rằng giáo phái Gnosis này có một Cốc Rượu Lễ thiêng liêng, trong đó người ta uống tinh dịch của Bên-gia-min. Theo thầy Huiracocha [22], [tinh dịch] đó là rượu vang pha trộn với nước. Bậc thầy vĩ đại Krumm Heller, nói thêm rằng bàn thờ của giáo phái Naassene không bao giờ thiếu biểu tượng thiêng liêng của Con Rắn Tính Dục. Trên thực tế, “thần lực, sức mạnh đi cùng với Môi-se, chính là Con Rắn trên cây sào [23], mà sau đó đã biến thành cây sào đó. Chắc chắn rằng đó là Con Rắn đã nói với những con rắn khác cũng như là con rắn đã cám dỗ Ê-va.”

[21] La Iglesia Gnóstica – tiêu đề sách này, dịch sang tiếng Việt là “Hội Thánh Gnosis”.

[22] Huiracocha – pháp danh của tác giả Arnoldo Krumm-Heller

[23] Cây Sào

Vậy Môi-se làm một con rắn bằng đồng rồi treo lên một cây sào. Người nào bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng thì được sống.

(Dân Số Ký 21:9, Kinh Thánh)

Trong một đoạn khác của tác phẩm bất diệt có tiêu đề La Iglesia Gnóstica, bậc thông thái Huiracocha nói:

Tín đồ của giáo phái Sethian sùng bái ánh sáng vĩ đại và nói rằng Mặt trời, trong hóa thân của nó, làm tổ ở trong chúng ta, và tạo nên Con Rắn.

Môi-se, ở sa mạc, đã cho mọi người thấy Con Rắn trên cây sào, và đã nói họ rằng với Con Rắn đó, họ sẽ không bị tổn thương trên hành trình.

Tất cả sức mạnh kỳ diệu của Môi-se nằm ở Con Rắn Thiêng Liêng Kundalini. Môi-se đã tập rất nhiều Phép Tình Dục để nâng Con Rắn lên cây sào. Môi-se đã có vợ.

Trong đêm dài đáng sợ của các thế kỷ trước, các Hierophant cao siêu và nghiêm khắc của Pháp Bí Ẩn Vĩ Đại đã hết lòng bảo vệ Giáo pháp Đại Bí Ẩn. Các Thầy Tế lớn đã thề im lặng, và chiếc chìa khóa Hòm Khoa Học [tiếng Anh: Ark of Science] được ẩn giấu khỏi người dân. Chỉ có các Thầy Tế Lễ vĩ đại biết và tập Phép Tình Dục. Trí Tuệ của Con Rắn là nền tảng của Pháp Bí Ẩn Vĩ Đại. Giáo pháp đó được tu luyện ở các Trường Phái Bí Ẩn của Ai Cập, Hy Lạp, Rôma, Ấn Độ, Ba Tư, Troy, Mexico Aztec, Peru Inca, v.v., v.v.

Thầy Krumm-Heller bảo rằng “trong bài ca của Homer dành cho Demeter, được lưu trữ trong một thư viện ở Nga, chúng ta thấy rằng tất cả quay quanh một sự thật siêu việt liên quan đến sinh lý và vũ trụ.” Trong bài ca cổ xưa đó của Con Người-Vị Thần, bài ca hát về Thành Troy cổ và về cơn giận của Achilles, chúng ta thấy rõ ràng Phép Tình Dục là viên đá góc nhà của Đền Thờ Eleusis vĩ đại.

Các vũ điệu khỏa thân, âm nhạc ngọt ngào của đền thờ, nụ hôn làm mê mẩn, thần chú huyền bí của quan hệ bí ẩn, đã tạo nên Eleusis như một chốn thiên đường của các Nam Thần và Nữ Thần đáng yêu. Lúc đó, không ai suy nghĩ khiếm nhã, họ chỉ nghĩ về sự thiêng liêng và siêu phàm, cũng không có ai nghĩ đến việc làm ô uế đền thờ. Các đôi tình nhân biết rút ra kịp thời để tránh làm đổ Rượu Vang Thiêng Liêng.

Ở Ai Cập, OSIRIS là nguyên lý Nam Tính, hiện diện trước mặt ISIS, là nguyên lý Nữ Tính vĩnh cửu và đáng yêu. Ở miền đất Khem đầy nắng này [24], Đức Chúa toàn thiện [25] đã làm việc với Đại Ẩn A. Z. F., chính vào lúc chuẩn bị cho điểm đạo, trước khi bắt đầu sứ mệnh của ngài. Điều này đã được ghi lại trong ký ức của Đại Tự Nhiên.

[24] Khem – tên gọi cổ xưa của Ai Cập. Một số nhà sử học cho rằng đó là từ gốc của “chemistry” (hoá học), và “alchemy” (thuật luyện kim).

[25] Đức Chúa toàn thiện – Ở bối cảnh này, Đức Chúa toàn thiện chỉ Chúa Giê-su.

“Ta đã gọi con ta từ Ai Cập ra.”

(Ma-thi-ơ 2:15, Kinh Thánh)

Ở Phoenicia, Hercules và Dagon yêu nhau tha thiết, ở Attica, Pluto và Persephone cũng thế; tuy nhiên, theo bác sĩ Krum Heller thì trong các nền văn hóa đó người ta đã nói rõ về sinh thực khí nam và nữ; đó chính là Lingam-Yoni trong Giáo Phái Bí Ẩn Hy Lạp.

Các Thầy Tế Lễ vĩ đại của Ai Cập là người thừa kế của trí tuệ cổ xưa từ Atlantis, dùng sinh thực khí nam trong trạng thái cương cứng như biểu tượng của Thần Cò Thoth vĩ đại, và thầy Krumm Heller kể rằng ở phía trên sinh thực khí cương cứng của Thần Cò Thoth, người ta khắc một câu: “Đấng Ban Trí Tuệ”. Bên cạnh câu khắc đó là một hoa sen tỏa sáng rực rỡ.

Các bậc thông thái cổ xưa của Ai Cập Thiêng Liêng đã ghi lại biểu tượng thiêng liêng của Con Rắn Tính Dục trong các bức họa trên tường.

[Thời xưa] không ai được phép lộ ra bí mật của Phép Tình Dục. Đó chính là Đại Bí Ẩn. Những người không may mà tiết lộ bí mật đó sẽ bị kết án tử hình. Người ta bị đưa đến một sân lát đá, đứng trước một bức tường cổ được trang trí với da con cá sấu và những chữ viết tượng hình bí hiểm, người ta bị chặt đầu, trái tim họ bị moi ra, và tro đáng nguyền rủa của họ bị thả bay theo bốn hướng gió.

Bây giờ, chúng tôi chợt nhớ đến Cazote, nhà thơ Pháp vĩ đại đã chết trong máy chém trong Cách Mạng Pháp. Tại một bữa tiệc nổi tiếng, ông này đã tiên tri về cái chết của chính bản thân ông và vận mệnh đen tối đang chờ đợi một nhóm điểm đạo đồ quý tộc đã lên kế hoạch tiết lộ Đại Bí Ẩn. Ông tiên tri một số người [sẽ bị chết bởi] máy chém, còn những người khác [sẽ bị chết bởi] con dao găm, thuốc độc, nhà tù, đi đày. Các sự kiện xảy ra đúng tuyệt đối như lời tiên tri của ông. [26]

[26] Hãy tham khảo “La Prophétie de Cazotte” bởi Jean-François de La Harpe

Vào thời Trung cổ, tất cả những người tiết lộ Đại Bí Ẩn đã chết một cách bí ẩn, họ chết bởi áo của Nessus [27], hoặc bởi những bánh xà bông nhỏ bị nhiễm thuốc độc và gửi như quà sinh nhật cho người bị kết án, hoặc bởi những bó hoa với dầu thơm, hoặc bởi con dao găm.

[27] Áo của Nessus – trong thần thoại Hy Lạp, Nessus là con người ngựa (centaur) đã bắt cóc Deianeira, vợ của Heracles. Heracles đã chạy theo họ và dùng mũi tên có thuốc độc của con Hydra để giết Nessus. Trước khi chết, Nessus nói với Deianeira rằng chiếc áo của ông có phép thần thông, ai mặc vào sẽ luôn luôn chung thủy với vợ mình. Vì tin lời nói của Nessus, Deianeira mang áo về nhà cho Heracles mặc. Khi mặc áo vào, Heracles bị nhiễm thuốc độc và chết vì máu của Nessus với thuốc của con Hydra vẫn còn ở trên áo.

Đại Bí Ẩn là chiếc chìa khóa cho tất cả quyền phép và tất cả đế chế. Lực lượng của Đại Tự Nhiên chiến đấu với những người táo bạo cố chinh phục nó. Các Heirophant vĩ đại đều giấu bí mật của họ và các vị Vua thần thánh không tiết lộ chiếc chìa khóa sức mạnh của họ với những người bình thường. Khốn khổ và bất hạnh thay cho người bình thường nào đã được nghe bí mật này mà không biết cách tận dụng nó. “Đối với những người này, thà không sinh ra, hay thà bị buộc đá cối xay vào cổ và bị ném xuống biển sâu còn hơn.” [28]

[28] Buộc đá cối xay vào cổ – tham khảo Ma-thi-ơ 18:6, Kinh thánh

Tự Nhiên không quan tâm sự giác ngộ toàn thể của con người, và [sự giác ngộ của con người] thậm chí còn trái ngược với lợi ích của chính nó. Đó là lý do vì sao bà [Tự Nhiên] phản đối bằng tất cả sức mạnh trước kẻ táo bạo muốn thống trị bà.

Tự nhiên chúng ta nhớ đến một giai thoại kỳ lạ liên quan: Vào một dịp nọ, một nhân viên hải quan nghèo khổ đang đi dạo trên bãi biển. Đột nhiên có cái gì đó thu hút sự chú ý của anh. Anh nhìn thấy giữa bãi cát bị vùi lấp bởi những con sóng dữ dội của vùng biển Ca-ri-bê có một vật bằng da. Người đàn ông đến gần nó hơn và vô cùng ngạc nhiên khi thấy một chiếc vali nhỏ hay hộp nhỏ bằng da màu đen. Ngay lập tức, anh ta đi đến văn phòng chủ bến cảng và giao vật đó cho cấp trên của mình. Hoàn thành nhiệm vụ, anh về nhà. Khi sáng hôm sau anh ta đi làm, viên chức cấp trên đầy giận dữ, đã đưa cho anh ta một đồng hai mươi xu và đồng thời nói với anh ta: “Đồ ngu! Đây là những gì anh xứng đáng; lấy đồng tiền này và treo mình; anh không xứng đáng được sống; mua cho mình một sợi dây với hai mươi xu này và treo mình trên cây! May mắn đã đến với anh mà anh đã xem thường nó. Chiếc vali hay hộp nhỏ mà anh giao cho tôi chứa gần một triệu đô la. Biến đi! Hãy ra khỏi đây, đồ ngu! Anh không xứng đáng được sống!”

Quả thật, đó là định mệnh chết chóc đang chờ đợi những người không biết cách tận dụng tối đa từ kho báu rất quý giá của Đại Bí Ẩn. Họ không xứng đáng được sống. Chưa bao giờ trong đời, Đại Bí Ẩn của phép tình dục được dạy, và bây giờ chúng tôi đang tiết lộ nó. Thật không may, có những người sau khi tìm thấy Kho báu của các vị vua trên con đường của họ, đã khinh miệt nó giống như nhân viên hải quan đó! Kho báu của Đại Bí Ẩn thậm chí còn có giá trị hơn cả tài sản mà người bảo vệ tìm thấy. Việc khinh miệt này thực sự là một điều ngu ngốc.

Để đánh thức Kundalini, mỗi người [đàn ông] cần một người phụ nữ. Tuy nhiên, chúng tôi phải cảnh báo rằng người đã điểm đạo chỉ được thực hành phép tình dục với một người phụ nữ duy nhất. Những người mà thực hành phép tình dục với nhiều người phụ nữ khác nhau sẽ phạm tội ngoại tình. Họ sẽ không tiến bộ trong tu học. Thật không may, có một số cá nhân sử dụng phép tình dục như một cái cớ để quyến rũ phụ nữ. Họ là những người làm ô uế ngôi đền. Những loại đàn ông như vậy chắc chắn rơi vào ma thuật đen. Chúng tôi cảnh báo phụ nữ nên cẩn thận với những người đồi trụy về tình dục.

Cũng có nhiều phụ nữ lợi dụng hình thức tìm cầu Giác ngộ để biện hộ cho hành động kết thân với bất kỳ người đàn ông nào. Những gì mà những người phụ nữ đam mê muốn là để thỏa mãn những ham muốn xác thịt của họ. Thế giới lúc nào cũng thế thôi. Ngay từ lúc chúng tôi đã tiết lộ Đại Bí Ẩn, đúng như dự đoán, đã xuất hiện những người dung tục giẫm đạp lên Giáo lý và sau đó bị đầu độc bởi Bánh mì Trí tuệ. Giáo lý phép tình dục chỉ có thể được thực hành giữa vợ và chồng. Chúng tôi giải thích rõ về điều này để tránh các vụ dụ dỗ, gài bẫy bằng [ham muốn] xác thịt và các vị thánh nữ đầy đam mê dục vọng.

Năng lực tính dục là một vũ khí lợi hại mãnh liệt. Các nhà khoa học đã không thể tìm thấy nguồn gốc của điện. Chúng tôi khẳng định rằng nguyên nhân của năng lượng điện phải được tìm kiếm trong năng lực tính dục vũ trụ. Năng lực đó không chỉ nằm trong các cơ quan sinh dục, mà còn trong tất cả các nguyên tử và electron của Vũ trụ. Ánh sáng mặt trời là một sản phẩm của tính dục. Một nguyên tử hydro kết hợp tình dục với một nguyên tử carbon để tạo ra ánh sáng mặt trời. [29] Hydrogen là nam tính; carbon là nữ tính. Từ sự kết hợp tình dục của cả hai, kết quả là ánh sáng mặt trời [được tạo ra]. Các nghiên cứu về các quá trình của carbon hóa ra rất thú vị. Những quá trình đó là sự thai nghén của ánh sáng.

[29] Hydro, Carbon ở mặt trời – Ở thời điểm của sách này (1950) học thuyết vật lý về sự hợp hạt (fusion) trong mặt trời vẫn còn mới. Theo học thuyết mới nhất, Carbon chỉ bao gồm 0.29% khối lượng của mặt trời cho nên sự kết hợp hóa học của Hydro và Carbon mặc dù có xảy ra nhưng không phải là nguồn chính của ánh sáng mặt trời.

Chúng ta phải tìm kiếm Nguồn gốc tạo ra điện trong Lửa Con Rắn Phổ Quát. Lửa đó ngự trong các điện tử. Người thông thái quán tưởng về nó, các nhà huyền môn tôn thờ nó [với cảm xúc ngọt ngào], và những người đi theo con đường của Hôn Nhân Hoàn Hảo làm việc thực tế với nó.

Năng lực tính dục trong tay của các pháp sư trắng và pháp sư đen là một vũ khí lợi hại. Ý niệm thu hút chất lỏng tính dục vào cột sống để gửi nó trong túi tương ứng của nó. Khi chất lỏng đó đổ tràn [một cách] chết người, hàng tỷ Nguyên tử Dương tính bị mất. Theo sau sự đổ tràn tinh dịch là sự chuyển động co thắt tình dục, từ các hỏa ngục nguyên tử của con người, hàng tỷ nguyên tử Satan thay thế các Nguyên tử Dương tính đã mất. Đây là cách chúng ta hình thành Quỷ dữ bên trong chúng ta.

Khi chúng ta kiềm chế lực thúc đẩy tình dục trong chúng ta, chất lỏng kỳ diệu sẽ quay trở lại cơ thể tinh tú và gia tăng sự huy hoàng không thể tả. Đây là cách chúng ta hình thành Đức Kitô bên trong chúng ta. Vì thế cho nên, với năng lượng tình dục, chúng ta có thể hình thành Đức Kitô hoặc Quỷ dữ bên trong chính mình.

Bậc Thầy Vĩ Đại, hiện thân của Đức Kitô Vũ trụ, đã nói:

“Ta là bánh của sự sống; Ta là Bánh sống. Nếu ai ăn Bánh này thì sẽ sống đời đời. Người ăn thịt ta và uống Huyết của ta, sẽ có sự sống đời đời, và Ta sẽ hồi sinh họ.” [30]

“Người ăn thịt ta và uống Huyết của ta, sẽ sống trong Ta và Ta sống ở trong họ.” [31]

[30, 31] Hãy tham khảo Kinh Thánh, Giăng 6:35-59

Đức Kitô là Tâm hồn Dương tính, tâm linh sống của Mặt trời. Tâm hồn này, với sự sống của mình, làm cho cành lúa mì phát triển, và trong hạt, trong hạt giống đó, tất cả các tiềm năng của Logos Dương được chứa đựng. Mỗi loài thực vật, động vật hay con người, [chứa đựng] tinh chất Christonic của Logos Dương, cũng như một hạt giống được bao bọc trong vỏ bọc quý giá.

Khi chúng ta làm cho năng lượng sáng tạo trở lại vào bên trong và hướng lên, một đứa trẻ kỳ diệu được sinh ra, nảy mầm bên trong chúng ta, một Cơ thể Tinh tú được Kitô-hóa. Cơ thể đó ban cho chúng ta sự bất tử. Đó là hòa giải Chrestos của chúng ta. Với cơ thể đó, chúng ta đến được Đức Cha ở nơi bí ẩn. Chúa Tể của Mọi Sự Hoàn Hảo đã nói: “Không ai đến được với Cha nếu không qua Ta”. [Giăng 14:6, Kinh Thánh]

“Bóng ma tinh tú của con người hữu diệt mới chỉ là một bản phác thảo của con người. Nó thậm chí không có sự thống nhất. Bóng ma ảo ảnh này là nơi trú ngụ của các con quỷ và tất cả các loại chim ô uế và ghê tởm. [30] Trong bóng ma đó có cái tôi (Quỷ dữ). Cái Tôi là một quân đoàn. [31] Đây là một quân đoàn quỷ quái. Giống như một cơ thể bao gồm nhiều nguyên tử, do đó, cái tôi cũng gồm hàng triệu những trí thông minh hiểm ác, những con quỷ đáng ghét cãi cọ. Khi một người chết, anh ta trở thành: “Quân đoàn”. Trong bản thân anh ta, người đó trở thành cát bụi. Chỉ điều này vẫn còn sống: một quân đoàn của cái tôi.

[32] chim ô uế và ghê tởm

Vị thiên sứ đó cất tiếng dõng dạc nói rằng,
“Ðã sụp đổ rồi!
Ba-by-lon vĩ đại đã sụp đổ rồi!
Nó đã trở thành nơi trú ngụ của các quỷ,
nơi mà mọi tà thần cùng mọi loài chim ô uế và đáng ghét ẩn nấp!”

(Khải Huyền 18:2, Kinh Thánh)

[33] quân đoàn quỷ quái

Sau đó họ đến bờ biển bên kia, vào miền Ghê-ra-sê-nê. Vừa khi Ngài bước ra khỏi thuyền, một người bị tà linh ô uế nhập từ nghĩa địa ra đón Ngài. Ông sống giữa các mồ mả. Không ai có thể kiềm chế ông, ngay cả xiềng xích cũng vô dụng đối với ông, vì ông thường bị cùm và bị xiềng, nhưng ông đã bứt xiềng và bẻ cùm, và không ai đủ sức để chế ngự ông. Ngày đêm ông ở giữa các mồ mả và trên núi; ông thường gào rú và lấy đá đập vào mình. Khi thấy Ðức Chúa Jesus ở đàng xa, ông chạy đến, sấp mình xuống trước mặt Ngài, và nói lớn tiếng, “Lạy Ðức Chúa Jesus, Con Ðức Chúa Trời Tối Cao, Ngài định làm gì với tôi? Tôi nhân danh Ðức Chúa Trời van xin Ngài đừng hành hạ tôi.” Số là Ngài đã nói với ông, “Hỡi tà linh ô uế, hãy ra khỏi người nầy.” Ngài hỏi ông, “Ngươi tên chi?” Ông đáp, “Tôi tên là ‘Quân Đoàn,’ vì chúng tôi rất đông.” Rồi ông cứ lải nhải van xin Ngài đừng đuổi chúng ra khỏi miền đó. Khi ấy gần đó có một bầy heo thật đông đang ăn trên triền núi. Chúng van nài, “Xin sai chúng tôi đến với bầy heo để chúng tôi có thể nhập vào chúng.” Ngài cho phép. Bầy quỷ ô uế xuất ra khỏi người ấy và nhập vào bầy heo. Bầy heo từ trên triền núi cùng nhau lao mình xuống biển. Có khoảng hai ngàn con heo chết chìm dưới biển. Thấy vậy những người chăn heo bỏ chạy và thuật chuyện ấy khắp thành và các làng xung quanh. Người ta đổ xô nhau đến xem việc đã xảy ra. Khi họ đến gặp Ðức Chúa Jesus và thấy người bị quỷ ám, tức người vốn đã bị bầy quỷ ‘đạo quân’ ám nhập, ngồi đó, ăn mặc đàng hoàng, và đầu óc tỉnh táo, họ phát sợ. Những người chứng kiến việc ấy thuật lại cho họ những gì đã xảy đến cho người bị quỷ ám và bầy heo. Họ liền nài xin Ngài rời khỏi địa phương của họ. Ðang khi Ngài xuống thuyền, người vốn bị quỷ ám đến xin Ngài cho ông đi theo Ngài, nhưng Ngài không cho. Ngài bảo ông, “Hãy đi về nhà ngươi, về với bà con chòm xóm của ngươi, thuật lại mọi việc lớn lao Chúa đã làm cho ngươi, và cho họ biết Ngài đã thương xót ngươi thế nào.” Ông đi về và bắt đầu rao truyền khắp miền Ðê-ca-pô-li những việc lớn lao mà Ðức Chúa Jesus đã làm cho ông, và ai nghe qua đều lấy làm lạ.”

(Mác 5:1-20, Kinh Thánh)

Các bậc thiên nhãn thông thường xuyên gặp những người chết mặc trang phục khác nhau và cùng một lúc xuất hiện ở nhiều nơi. Người ta dường như đã trở thành nhiều người; đó là Quân Đoàn. Tuy nhiên, sau khi đã sinh ra Cơ thể Tinh tú của Kitô ở bên trong, chúng ta tiếp tục sống trong cơ thể tinh tú đó sau khi chết. Sau đó, chúng ta thực sự bất tử.

Chúng ta thấy những loại người sở hữu một Cơ thể Tinh Tú Kitô, sau khi chết, với Tâm thức đã thức tỉnh. Những người chết bình thường và tầm thường sống sau khi chết với Tâm thức đang ngủ. Cái chết thực sự là một sự trở lại với việc thụ thai. Cái chết là sự trở lại với hạt giống. Tất cả những người chết trở về một tử cung người mẹ mới, hoàn toàn bất tỉnh, ngủ say.

Linh Hồn của mọi người thậm chí chưa được hiện thân. Nó vẫn đang ở bên ngoài. Mọi người chỉ có một phôi linh hồn được hiện thân [trong người]. Những người xấu xa thậm chí còn không có phôi của linh hồn. Chỉ khi sở hữu Cơ thể Tinh Tú được Kitô-hoá, chúng ta mới có thể hiện thân Linh hồn. Những người bình thường và tầm thường chỉ là một phương tiện của cái Tôi. Tên của mỗi người hữu diệt là Quân Đoàn.

Chỉ với phép tình dục, chúng ta mới có thể sinh ra cơ thể Tinh Tú được Kitô-hóa ở bên trong chúng ta. Cám dỗ là Lửa; chiến thắng cám dỗ là ánh sáng.

Kiềm chế dục vọng sẽ làm cho chất lỏng tinh tú đi lên, hướng về tuyến tùng và đây là cách mà Adam Christ, Siêu nhân, được sinh ra trong chúng ta.

Khi kích thích hệ thống tình dục để thực hiện giao hợp, tinh dịch được nhân lên. Khi nó không bị đổ ra, nó được biến đổi và biến chúng ta thành những Vị Thần.

Lửa tình dục là thanh kiếm mà Vị Thần bên trong [chúng ta đang] chiến đấu với những thế lực đen tối. Tất cả những người thực hành phép tình dục đều khai mở Thất Thánh Đường.

Nếu sau khi làm việc với Kundalini mà làm đổ tinh dịch, người đó chắc chắn sẽ thất bại vì sau đó Kundalini hạ xuống một hoặc nhiều đốt sống tùy theo mức độ của tội lỗi. Chúng ta phải chiến đấu cho đến khi đạt được sự trinh bạch hoàn hảo, “nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với ngươi và cất cây đèn của ngươi khỏi chỗ của nó.” [32]

Cây đèn trong đền thờ đạo Do thái có 7 nến, tượng trưng cho 7 luân xa.

[32] cây đèn

Vậy hãy nhớ lại, xem ngươi đã sa ngã từ đâu, hãy ăn năn, và làm lại những việc ngươi đã làm lúc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với ngươi và cất cây đèn của ngươi khỏi chỗ của nó.

(Khải Huyền 2:5, Kinh Thánh)

Hơi bốc lên từ hệ thống tinh dịch mở ra lỗ thông bên dưới của cột sống, để Con Rắn Thiêng liêng đi qua nó. Lỗ này bị đóng lại ở những người bình thường và tầm thường. Hơi tinh dịch của Pháp Sư Đen hướng vào Vực thẳm Địa Ngục. Hơi tinh dịch của Pháp Sư Trắng đi lên về phía thiên đường.

Khai mở Thánh đường Ephesus có nghĩa là đánh thức Kundalini. Màu sắc của trung tâm này là màu đỏ dơ bẩn ở người trụy lạc, màu đỏ vàng ở điểm đạo đồ và màu đỏ xanh tím ở điểm đạo đồ huyền bí.

Các nguyên tử Dương và Âm đi lên từ hệ thống tinh dịch. Các hơi tinh dịch có cơ sở là Nguyên tử của Mặt trời và Mặt trăng. Hơi tinh dịch được chuyển thành năng lượng. Các năng lượng được phân cực thành âm và dương, mặt trời và mặt trăng. Những năng lượng này dâng lên thông qua các ống giao cảm Idâ và Pingalâ đi đến Ly rượu. Ly rượu này là bộ não. Hai ống giao cảm mà qua đó tinh dịch dâng lên sau khi đã được hoàn toàn chuyển hóa thành năng lượng, là hai nhân chứng của Kinh Khải Huyền [33], hai cây ô liu của ngôi đền [34], hai cây nến trước Thần của Trái đất, hai con Rắn đang quấn lấy nhau trên cây gậy caduceus của Thần Mercury. Khi chúng chạm vào nhau ở đuôi, các Nguyên tử Dương và Âm kết nối với nhau ở xương cụt gần Triveni. Sau đó, Kundalini thức dậy.

[33] Hai nhân chứng của kinh Khải Huyền

Ðoạn tôi được cho một cây thước đo, giống như một cây gậy, và được bảo rằng, “Hãy đứng dậy và đo đền thờ Ðức Chúa Trời, bàn thờ, và những vật dùng để thờ phượng Ngài trong đó, nhưng hãy chừa sân ngoài của đền thờ, đừng đo nó, vì nó đã được ban cho các dân ngoại, và họ sẽ giày đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng. Ta sẽ cho hai nhân chứng của Ta, mặc vải gai, nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.” Ðó là hai cây ô-liu và hai cây đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian. [cây ô-liu, đèn tượng trưng cho hệ kinh mạch tinh vi, đẫn khí lực trong người. Hãy tham khảo Za-chi-ri chương 4] Nếu ai muốn làm hại họ, lửa từ miệng họ phun ra sẽ thiêu rụi kẻ thù của họ. Nếu ai muốn làm hại họ, kẻ ấy sẽ bị giết như thế. Hai vị ấy có quyền đóng cửa trời để mưa không rơi xuống đất trong những ngày họ nói tiên tri, và họ có quyền biến nước thành máu và đánh phạt trái đất bằng mọi thứ tai họa, bất cứ lúc nào họ muốn. Khi họ hoàn thành sứ mạng làm chứng của mình, một con thú từ vực thẳm đi lên sẽ tấn công họ, đánh bại họ, và giết họ. Thi thể họ sẽ bị phơi bày trên đường của thành phố lớn mà phương diện thuộc linh gọi là Sô-đôm và Ai-cập, nơi Chúa của họ đã chịu đóng đinh. Người ta từ các dân tộc, các bộ lạc, các ngôn ngữ, và các quốc gia sẽ nhìn thấy thi thể của họ trong ba ngày rưỡi; và chúng không cho đem thi thể của họ chôn trong mộ. Những người sống trên đất sẽ vui mừng về cái chết của họ, người ta sẽ ăn mừng và tặng quà cho nhau, vì hai vị tiên tri ấy đã làm khổ những người sống trên đất. Nhưng sau ba ngày rưỡi, sinh khí từ Ðức Chúa Trời nhập vào họ, khiến họ đứng dậy trên chân mình. Bấy giờ những kẻ đang nhìn xem họ đều cực kỳ sợ hãi. Họ nghe một tiếng lớn từ trời gọi họ rằng, “Hãy lên đây!” Bấy giờ họ được cất lên trời trong đám mây, giữa lúc những kẻ thù của họ đang nhìn theo. Ngay giờ đó một trận động đất lớn xảy ra; một phần mười của thành phố bị sụp đổ, và bảy ngàn người bị chết vì trận động đất ấy; những người sống sót đều cực kỳ sợ hãi, và dâng vinh hiển lên Ðức Chúa Trời trên trời. Cơn khốn thứ nhì đã qua; kìa, cơn khốn thứ ba đang đến cách mau chóng.

(Khải Huyền 11:1-14, Kinh Thánh)

Con Rắn Lửa của phép thần thông kỳ diệu rời khỏi túi màng nơi nó được bao bọc và trồi lên qua kênh tủy sống lên đến Chalice (não). Từ nhánh ống tủy, một số sợi thần kinh nhất định kết nối bảy luân xa hay còn gọi là đám rối giao cảm với cột sống. Ngọn Lửa thiêng liêng kích hoạt bảy trung tâm từ tính. Kundalini điều phối hoạt động của tất cả bảy luân xa một cách kỳ diệu. Chúng ta có dùng một cây gậy với bảy bông hồng xinh đẹp và thơm ngát để tượng trưng cho tất cả điều này. Cây gậy sẽ tượng trưng cho cột sống và bảy bông hồng sẽ tượng trưng cho bảy luân xa hay [bảy] trung tâm từ tính. Những nhánh mỏng manh của bảy Bông hồng rực lửa này là những sợi mảnh kết hợp chúng với cột sống.

Trong tinh dịch, Lực Lượng Ánh Sáng chiến đấu chống lại Thế Lực Bóng Tối.

“Khi Ngọn Lửa bắt đầu đi lên, đó là sự kiện hoành tráng nhất của Hôn Nhân Hoàn Hảo. Ở trung tâm mà Con Rắn cuộn lại có bốn cánh hoa trong đó chỉ có hai cánh đang hoạt động. Khi được điểm đạo, hai cánh còn lại được kích hoạt. Luân xa tuyến tiền liệt [hoặc buồng trứng] có sáu màu rất đẹp: đỏ, cam, vàng, lục, lam và tím. Đây là Thánh Đường Smyrna. Trung tâm này là vô cùng quan trọng đối với các pháp sư. Với trung tâm này, chúng ta kiểm soát hành vi tình dục. Đây là trung tâm từ tính của Phép thuật Thực tiễn [35].

[35] Phép thuật Thực tiễn (tiếng Anh: Practical Magic) – Từ “thực tiễn” ở đây chỉ các loại phép như phép chữa bệnh, xuất hồn trong cơ thể tinh tú, ra lệnh cho các con tinh linh của bốn nguyên tố, v.v. Ngoài phép thuật thực tiễn, có những chuyên ngành phép thuật khác như Phép thuật Nghi lễ. (tiếng Anh: Ceremonial Magic) Lễ Mi-sa của nhà thờ Công giáo là một ví dụ rất phổ biến của Phép thuật Nghi lễ.

Trung tâm thứ ba là Thánh Đường Pergamum. Đây là bộ não của cảm xúc. Chúng ta có một trạm phát sóng không dây thực sự được thành lập bên trong cơ thể người. Trung tâm thu sóng là trung tâm rốn. Ăng-ten phát sóng là tuyến tùng. Làn sóng tâm lý của những người nghĩ về chúng ta chạm đến trung tâm rốn, hay bộ não của cảm xúc, và sau đó truyền đến bộ não [ở đầu], là nơi chúng ta sẽ ý thức về những suy nghĩ đó.

Xứng đáng với tất cả sự ngưỡng mộ là Thánh Đường Thyatira, trung tâm thứ tư. Trung tâm Tim mạch có mối quan hệ mật thiết với trái tim của Hệ Mặt trời. Con người là một Vũ trụ thu nhỏ. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu vũ trụ, chúng ta phải nghiên cứu con người. Trong Vũ trụ, chúng ta khám phá ra con người. Trong con người, chúng ta khám phá ra Vũ trụ.

Hệ mặt trời nhìn từ xa thực sự trông giống như một người huy hoàng đang đi qua không trung bất biến. Tất cả thời đại đã được chuyển đổi ở đó thành một hình thái sống động, đầy ắp âm nhạc không thể tả, Âm nhạc của các hành tinh [tiếng Anh: music of the spheres]. Khoảng thời gian ngắn nhất mà người vũ trụ này ý thức được là tám mươi năm. Trái tim của người vũ trụ này thực sự nằm ở trung tâm của đĩa mặt trời. Những người biết cách di chuyển có ý thức và rõ ràng trong cơ thể tinh tú sẽ có thể đến thăm ngôi đền đó.

Một vực thẳm khổng lồ, tối hơn đêm, dẫn đến Thánh địa. Rất ít người có can đảm bước xuống vực thẳm chết người đó. Trong độ sâu đáng sợ của vực thẳm mặt trời đó, người ta có thể cảm nhận được những điều khủng khiếp, ngọn lửa thiêu đốt, nỗi kinh hoàng của bí ẩn. Những người có can đảm đi xuống đó sẽ tìm thấy cổng của Thánh địa. Một bậc điểm đạo đồ thành đạt [tiếng Anh: adept] sẽ ban phước cho họ với một nhánh ô liu. Phúc cho những người đấu tranh để được tiếp nhận ở nơi bí mật.

“Một lối đi hẹp dẫn môn đồ yêu quý đến nơi bí mật của Thánh địa. Đó là trái tim [36] của Hệ mặt trời. Ở nơi linh thiêng đó có bảy vị thánh. Họ là Nhiếp Chính của bảy tia sáng mặt trời. Tia sáng quan trọng nhất là [tia sáng] của Kundalini hay còn gọi là Ngọn lửa Xà tính, lấp lánh mãnh liệt lúc bình minh. Mọi Hôn Nhân Hoàn Hảo phải thực hành phép tình dục vào lúc bình minh. [37]

[36] Trái tim – bản gốc có từ “Cardias”. Trong giải phẫu học tiếng Tây ban nha từ này chỉ tâm vị dạ dày. Tuy nhiên, trong tiếng Hy Lạp, κᾰρδῐ́ᾱς (phiên âm cardias) là sở hữu cách của danh từ κᾰρδῐ́ᾱ, có nghĩa là dạ dày hay là trái tim. Ở bối cảnh của đoạn tiếp theo chúng ta thấy rằng thầy Samael đang nói về trái tim.

[37] Lúc bình minh (tiếng Tây ban nha: en la aurora) – câu này có thể phiên dịch, “lúc bình minh” hoặc “trong ánh sáng bình minh”

Hệ mặt trời là cơ thể của một sinh mệnh vĩ đại. Ngài là [hiện thân của] sự hoàn hảo toàn diện. Trái tim của sinh mệnh vĩ đại đó là Mặt trời. Luân xa của trái tim có mười hai cánh hoa, sáu [cánh hoa] hoạt động và sáu [cánh hoa] không hoạt động. Với Ngọn Lửa thiêng liêng, cả mười hai cánh hoa đều hoạt động. Chúng ta phải tác động đến trái tim bằng cách cầu nguyện mãnh liệt.
Trung tâm thứ năm là Thánh đường Sardis. Đây là trung tâm của thanh quản sáng tạo. Đây là hoa sen của mười sáu cánh hoa. Khi con người đưa hoa sen này vào hoạt động bằng Lửa, thì anh ta đạt được thiên nhĩ thông. [38]

[38] thiên nhĩ thông (tiếng năm phạn: dibba-sota) – Khả năng nghe siêu việt

Ngọn lửa thiêng liêng trở nên sáng tạo trong cổ họng. Các Thiên thần sáng tạo với sức mạnh của ngôn từ. Ngọn lửa trở thành ngôn từ và nở hoa trên đôi môi. Người được điểm đạo có khả năng tạo ra bất cứ điều gì bằng suy nghĩ và sau đó cụ thể hóa nó bằng ngôn từ. Việc nghe bằng thiên nhĩ thông chưa được các nhà huyền học định nghĩa rõ. Chúng ta phải cảnh báo rằng bất cứ ai có thiên nhĩ thông đều có thể nghe thực sự, nhận thức gần như về thể chất, hay nói đúng hơn, ở dạng tương tự như vật lý, âm thanh bên trong. Thiên nhĩ thông cho phép chúng ta lắng nghe các Thiên thần.

Khi toàn bộ năng lượng sáng tạo dâng lên não, chúng ta tự nâng mình lên trạng thái thiên thần. Sau đó, chúng ta sẽ sáng tạo với sức mạnh của ngôn từ.

Người ta không đạt được những tầm cao đó với sự tiến hóa máy móc của Tự nhiên. Sự tiến hóa là sự chuyển động của sự sống của vạn vật, nhưng điều này không đưa ai đến trạng thái thiên thần. Thiên nhiên không quan tâm đến Siêu nhân. Nó chứa tất cả các khả năng, nhưng Siêu nhân thậm chí trái ngược với lợi ích được trao của nó. Các thế lực khủng khiếp nhất của Tự nhiên chống lại sự ra đời của Siêu nhân.

Thiên thần, Siêu nhân, là kết quả của một cuộc Cách mạng to lớn của Tâm thức. Không ai có nghĩa vụ phải giúp đỡ mỗi cá nhân trong cuộc Cách mạng này. Đây là một vấn đề rất riêng tư đối với mỗi người. Vấn đề này hoàn toàn liên quan đến tính dục. Họ phải rút thanh kiếm và chiến đấu chống lại các thế lực khủng khiếp của Tự nhiên mà đang chống lại sự ra đời của Siêu nhân.

Khi Ngọn Lửa thiêng liêng khai mở luân xa ở trán, Thánh đường Philadelphia với hai cánh hoa kỳ diệu và vô số [tia sáng] huy hoàng của nó, sau đó chúng ta có thể nhìn thấy bằng nhãn thông. Mọi người đã quen với việc lý thuyết hóa mọi thứ và thề [rằng họ đã biết] về những điều mà họ chưa bao giờ nhìn thấy. Chúng ta cần phải thức tỉnh nhãn thông để nhìn thấy thực tế tuyệt vời ở bên trong [mọi thứ]. Luân xa ở trán là ngai vàng của tâm trí. Khi nghiên cứu và nhãn thông hoạt động một cách cân bằng và hài hòa, sau đó chúng ta mới bước vào ngôi đền của tri thức thực sự.

“Nhiều người khẳng định những gì họ đã đọc, họ lặp lại kiến thức đã vay mượn. Loại người đó nghĩ rằng họ biết, nhưng chưa bao giờ thấy những gì họ đã đọc; chúng đang lặp đi lặp lại như vẹt, thế thôi. Những người đó không biết gì. Họ là những người ngu dốt. Họ là những học giả vô học. Để hiểu biết, trước tiên phải Tồn tại [với Bản thể][39]. Nhãn thông là con mắt của Bản thể. Sự Tồn tại [Bản thể] và sự Hiểu Biết phải làm việc một cách cân bằng và song song. Những người đã đọc rất nhiều về huyền học cảm thấy họ khôn ngoan. Nếu những người đáng thương đó chưa được nhìn thấy những gì họ đã đọc thì chắc chắn rằng họ không biết gì cả.

[39] Tồn tại với Bản thể – Trong tiếng Tây ban nha từ “Ser” (động từ) có nghĩa là tồn tại, và “Ser” (danh từ) là bản thể. Ở đoạn này thầy kết hợp cả hai ý nghĩa trong một. “

Trên thế giới này có nhiều loại người tiên tri khác nhau. Một bậc nhãn thông đích thực không bao giờ đi lang thang và nói [với mọi người rằng anh ta có nhãn thông]. Khi các môn đồ huyền học có những khải tượng nhãn thông đầu tiên, họ thường đi kể với mọi người. Sau đó họ sẽ bị mọi người cười nhạo và vì rung động của người xung quanh rất tiêu cực cho nên cuối cùng môn đồ bị mất thăng bằng tinh thần. Nhãn thông mà không có Điểm đạo dẫn đến việc môn đồ mắc lỗi, và thậm chí là phạm tội vu khống và phỉ báng; đôi khi thậm chí nó còn dẫn đến các vụ giết người.

Khi một người mới có những dấu hiệu của nhãn thông, ví dụ, [khi thấy] vợ của anh ta trong cõi Tinh tú ngoại tình với một người bạn của anh ta, nếu bậc nhãn thông mà không có Điểm đạo và nếu anh ta là một người hay ghen, thì anh ta có thể ám sát vợ hoặc bạn của anh ta, ngay cả khi người không may đó là một vị thánh, hoặc thậm chí khi bạn của anh ta là một người hầu trung thực và trung thành. Hãy nhớ rằng trong cõi Tinh tú, con người là quân đoàn [cái tôi] và các cái Tôi [số nhiều] lặp lại các hành vi đã thực hiện ở kiếp trước. Các bậc thầy vĩ đại của Bạch đại hội quán đã từng bị những người tiên tri nói xấu.

Mỗi vị thầy có một kẻ song trùng giống như anh ta một cách chính xác. Nếu vị thầy đó giảng về sự khiết tịnh, thì kẻ song trùng thuyết giảng sự gian dâm. Nếu vị thầy đó làm những việc tốt, thì kẻ song trùng làm những việc xấu. Kẻ song trùng chính xác là hình ảnh trái ngược của vị thầy. Bởi vì tất cả những điều đó, chúng tôi chỉ có thể tin tưởng vào những bậc nhãn thông đã đạt đến Điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn. Hơn nữa, hãy nhớ rằng trước khi đạt Điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn, con người đã chưa Kitô-hóa các Cơ thể để phục vụ như một ngôi đền cho Thiên Chúa nội tâm của mình. Cả Linh hồn lẫn Đức Kitô đều không thể vào trong những người không có các cơ thể được sắp xếp.

Đầu tiên, Linh hồn phải nhập vào các cơ thể của mình và sau đó là Đức Kitô bên trong [cũng phải nhập vào]. Anh [Đức Kitô] biến thành cô [Linh Hồn], và cô biến thành anh. Con của Người, Siêu Nhân, Adam Christ được sinh ra từ sự hỗn hợp của sự thiêng liêng và con người [thường].

Những người chưa sắp xếp được các cơ thể [tinh vi] không thể tránh được lỗi lầm một cách tuyệt đối. Bậc nhãn thông mà chưa sắp xếp các cơ thể bên trong có thể phạm sai lầm rất nghiêm trọng. Trong bóng ma tinh tú phải sinh ra một Cơ thể Tinh Tú được Ki-tô hóa bằng phép tình dục. Cuối cùng, chúng ta phải sinh ra một Cơ thể Căn nguyên đích thực cho Linh hồn. Từ kén phải ra con bướm; từ bóng ma tinh tú biến thành cơ thể Tinh tú mới, là Kitô-tinh-tú.

“Kitô-tư-tưởng đến từ kén tư tưởng hay bóng ma tư tưởng. Ý chí Kitô được sinh ra cuối cùng. [40] Đó là cơ thể quý giá của Ý Chí. Khi đạt đến những đỉnh cao này, một con người tồn tại thực sự bởi vì anh ta đã hiện thân Linh hồn của mình. Sau khoảnh khắc này, anh ta có thể chuẩn bị bản thân cho sự hiện thân của Đức Kitô bên trong.

[40] Ý chí Kitô – Ở đoạn này thầy đang nói về ba cơ thể tinh vi bao gồm:
– Cơ thể Tinh tú hay còn gọi là cơ thể cảm xúc
– Cơ thể Tư tưởng
– Cơ thể Căn nguyên hay còn gọi là cơ thể ý chí
Khi được sinh ra, ai cũng có 3 cơ thể này nhưng chúng nó chưa được sắp xếp, kết tinh, Kitô hoá. Khi chưa được sắp xếp thì các cơ thể này gọi là âm thân. Sau khi đã được Kitô-hoá thì chúng được gọi là dương thân. Cơ thể tinh tú âm chính là cơ thể mọi người sử dụng khi mơ. Việc xuất hồn trong cơ thể tinh tú tương đối dễ cho nên rất nhiều người có kinh nghiệm về nó. Những thứ mình nhìn thấy khi xuất hồn trong cơ thể tinh tú mang tính tượng trưng giống như giấc mơ, cho nên chúng ta phải phân tích ý nghĩa thì mới hiểu được các trải nghiệm trong cõi tinh tú. Xuất hồn trong Cơ thể Tư tưởng và Cơ thể Ý chí khó hơn nhiều cho nên ít người đã trải nghiệm trực tiếp hai cơ thể này. Những trải nghiệm xuất hồn trong cơ thể tư tưởng thường rõ ý nghĩa hơn và chính xác hơn so với cơ thể tinh tú.

Những người chưa hiện thân được Linh hồn đều chưa thực sự tồn tại. Họ là một quân đoàn của cái tôi đang chiến đấu để thể hiện bản thân thông qua cơ thể của con người. Có những lúc cái Tôi-uống hoạt động, ở những lúc khác là cái Tôi-hút thuốc lá, Tôi-giết, Tôi-ăn cắp, Tôi-yêu, v.v.,… Giữa những cái Tôi có sự xung đột. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy nhiều người thề sẽ theo Phong trào Gnosis nhưng sau đó họ từ bỏ [lời thề đó] và tuyên bố mình là kẻ thù của Gnosis. Cái tôi thề trung thành với Gnosis bị thay thế bởi một tôi khác ghét Gnosis. Cái tôi thề sẽ kính yêu người vợ bị thay thế bằng cái tôi khác ghê tởm cô ấy. Cái tôi là một quân đoàn quỷ dữ. Làm sao chúng ta có thể tin tưởng những người nhãn thông chưa hiện thân linh hồn của họ? Người đàn ông chưa hiện thân Linh hồn của anh ta chưa có trách nhiệm đạo đức. Sao chúng ta có thể liều mạng tin tưởng vào quỷ dữ?

Môn đồ của Gnosis phải rất cảnh giác với những người xung quanh tự xưng là tiên tri và dự đoán trước cho mọi người. Một bậc nhãn thông thực sự không bao giờ nói rằng anh ta là một [bậc nhãn thông]. Các Bậc thầy [tiếng Anh: Master] đã đạt đến Điểm đạo thứ Năm của Đại Bí Ẩn rất khiêm tốn và trầm lặng. Không có môn đồ huyền học nào được gọi là một Bậc thầy. Chỉ những người đã đạt đến Điểm đạo thứ Năm của Đại Bí Ẩn mới là những bậc thầy thực sự. Trước khi đạt đến Điểm đạo thứ Năm của Đại Bí Ẩn thì không có ai được gọi là Bậc thầy [Master].

Bông hoa sen cuối cùng mở ra là Thánh đường Laodicea. Hoa sen này có một ngàn cánh hoa. Bông hoa sen này tỏa sáng rực rỡ trên đầu của các Vị Thánh. Khi Kundalini đến được tuyến tùng, bông hoa kỳ diệu này sẽ mở ra. Đây là Mắt của Đa Nhãn Thông, Mắt kim cương. Với năng lực này, chúng ta có thể nghiên cứu Ký ức của Tự Nhiên. Đây là Con mắt thiêng liêng của Tâm Linh. Sau đó, Con Rắn Thiêng liêng Thứ nhất đi từ tuyến tùng cho đến Con Mắt Trí Tuệ, nằm giữa hai lông mày. Sau đó, nó xâm nhập vào từ trường ở gốc mũi. Khi nó chạm vào Hạt Nguyên tử của Đức Cha nằm ở nơi đó thì [môn đồ sẽ trải nghiệm] Điểm Đạo Thứ nhất của Đại Bí Ẩn.

Không ai được gọi là Bậc thầy [tiếng anh: Master] chỉ vì đã đạt được Điểm Đạo đầu tiên của Đại Bí Ẩn. Điều này chỉ có nghĩa là có thêm một người đã đi vào con đường dẫn đến Niết Bàn. Môn đồ phải nâng Bảy Con Rắn lên theo thứ tự liên tiếp.

“Con rắn thứ hai thuộc về Cơ thể Khí lực [Vital Body], [con rắn] Thứ ba về [cơ thể] Tinh tú, [con rắn] Thứ tư về [cơ thể] Tư tưởng, [con rắn] Thứ năm về [cơ thể] Căn nguyên. Con rắn Thứ sáu và Thứ Bảy là của Linh hồn Tỉnh thức và Tâm linh Thần thánh. [Trang này giải thích rõ hơn] Đối với mỗi một trong bảy con rắn tương ứng với một Điểm Đạo của Đại Bí Ẩn. Có bảy Con Rắn: hai nhóm ba [con rắn], với sự đăng quang cao siêu của Lưỡi lửa thứ bảy kết hợp chúng ta với Đại Số Một, với Định Luật, với Đức Cha. Chúng ta phải khai mở Thất Thánh Đường trên mỗi không gian của Tâm thức vũ trụ. Trong lúc điểm đạo, người sùng đạo phải nhận được dấu đóng đinh của Chúa Kitô. Mỗi một trong những cơ thể bên trong của anh ta phải bị đóng đinh và bị đóng dấu thánh [41]. Sự đóng đinh đang được ban cho con người theo công đức của mình. Mỗi đóng đinh có những thử thách bí mật của nó. Những đóng đinh đầu tiên được nhận [được thực hiện lên] những bàn tay, và những thử thách rất đau đớn khi nhận được chúng.

[41] Dấu thánhhttps://vi.wikipedia.org/wiki/Dấu_Thánh

Những viên đá quý cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong Điểm Đạo:
Và nền móng của bức tường thành phố được trang trí bằng đủ loại đá quý. Nền tảng đầu tiên là ngọc thạch anh; thứ hai, ngọc sapphire; thứ ba, chalcedony; thứ tư, ngọc lục bảo; thứ năm, cá mòi; thứ sáu, sardius; thứ bảy, hoàng ngọc; thứ tám, beryl; thứ chín, topaz; thứ mười, hoa cúc; thứ mười một, ngọc da cam; thứ mười hai, thạch anh tím. [Khải Huyền 21: 19-20, Kinh thánh]

Sách Khải Huyền ghi rằng: “Ta là Alpha và Omega. Đối với người đang khát, ta sẽ cho suối nước của Sự sống một cách hào phóng. [42] Ta là Alpha và Omega. [43] Phúc cho những người giặt sạch áo của mình (bảy Cơ thể) trong Máu của Con Chiên (Tinh dịch của Đức Kitô) [dịch giả: trong huyền học tinh dịch chỉ khí lực tính dục, mà không phải tinh dịch vật chất] để đi qua những cánh cửa của thành phố. [44] Tuy nhiên, có rất ít người thực sự đạt đến Điểm Đạo cao. Rất ít người [muốn từ bỏ cái tôi] đến nỗi họ có thể hôn lên chiếc roi của tên đao phủ [đang chuẩn bị giết họ]. Hôn bàn tay tấn công chúng ta là rất khó khăn, tuy nhiên, [việc này] là khẩn cấp đối với những người muốn đạt đến Điểm Đạo cao.

[42] Ta sẽ cho suối nước của sự sống

[Chúa Giê-su] đến một thành của Sa-ma-ri gọi là Si-kha, gần khu đất mà Gia-cốp đã cho con trai là Giô-sép. Ở đó có cái giếng của Gia-cốp. Bấy giờ, Chúa Giê-su đang ngồi cạnh giếng vì đi đường mệt mỏi. Lúc ấy khoảng giờ trưa. Có một phụ nữ Sa-ma-ri đến múc nước. Chúa Giê-su nói với bà: “Xin cho tôi uống chút nước”. (Các môn đồ ngài đã vào thành để mua thức ăn). Người phụ nữ Sa-ma-ri bèn nói: “Ông là người Do Thái mà sao lại xin tôi nước uống, trong khi tôi là một phụ nữ Sa-ma-ri?”. (Vì người Do Thái vốn không giao thiệp với người Sa-ma-ri). Chúa Giê-su trả lời: “Nếu chị biết món quà Đức Chúa Trời ban là gì và biết người nói: ‘Xin cho tôi uống chút nước’ là ai thì chị đã xin người và người sẽ cho chị nước sự sống”. Bà nói với ngài: “Thưa ông, thùng múc nước mà ông còn không có, giếng thì lại sâu, vậy ông lấy nước sự sống ấy từ đâu? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp, người đã cho chúng tôi giếng này sao? Chính người cùng con cái và gia súc của người đã uống nước ở đây”. Chúa Giê-su đáp: “Ai uống nước này thì sẽ lại khát. Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa, nhưng nước tôi cho sẽ trở thành một suối nước trong người ấy, tuôn ra để mang lại sự sống vĩnh cửu”. Bà nói với ngài: “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy để tôi không còn khát và không phải đến đây múc nước nữa”. Chúa Giê-su bảo bà: “Hãy về gọi chồng chị đến đây”. Bà đáp: “Tôi không có chồng”. Ngài nói: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là đúng. Vì chị đã có năm đời chồng và người hiện giờ không phải là chồng chị. Chị đã nói thật”. Bà nói với ngài: “Thưa ông, tôi nhận thấy ông là một nhà tiên tri. Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi này, nhưng các ông lại nói phải thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem”. Chúa Giê-su bảo bà: “Này chị, hãy tin tôi, giờ sẽ đến, khi các anh chị không thờ phượng Cha trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem nữa. Các anh chị thờ phượng mà không hiểu biết, còn chúng tôi thờ phượng với sự hiểu biết, vì sự cứu rỗi bắt đầu từ người Do Thái. Dù vậy, giờ sẽ đến, và thật ra đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân chính sẽ thờ phượng Cha theo thần khí và chân lý, vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng như thế. Đức Chúa Trời là thần linh, và những người thờ phượng ngài phải thờ phượng theo thần khí và chân lý”. Người phụ nữ nói: “Tôi biết Đấng Mê-si, gọi là Đấng Ki-tô, sắp đến rồi. Khi nào đấng ấy đến, ngài sẽ công bố cho chúng tôi mọi điều”. Chúa Giê-su phán: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói chuyện với chị”. Ngay lúc đó thì các môn đồ trở lại, họ rất ngạc nhiên vì thấy ngài nói chuyện với một phụ nữ. Tuy vậy, không ai hỏi: “Thầy tìm gì?” hay “Sao Thầy nói chuyện với người đàn bà ấy?”. Người phụ nữ bèn để vò nước lại rồi đi vào thành nói với dân chúng: “Hãy đến xem, có ông kia nói với tôi đúng hết mọi chuyện tôi đã làm. Phải chăng ông ấy là Đấng Ki-tô?”. Họ ra ngoài thành để đến gặp ngài. Trong lúc đó, các môn đồ giục ngài: “Thưa Thầy, xin hãy ăn”. Nhưng ngài đáp: “Tôi có thức ăn mà anh em không biết”. Vì thế các môn đồ hỏi nhau: “Có ai đã mang thức ăn cho Thầy rồi sao?”. Chúa Giê-su phán: “Thức ăn của tôi là làm theo ý muốn của đấng sai tôi đến và hoàn thành công việc ngài giao. Chẳng phải anh em đã nói còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt sao? Này, tôi nói với anh em: Hãy ngước mắt lên nhìn cánh đồng, lúa đã chín và đang chờ gặt hái. Hiện nay, thợ gặt đang nhận tiền công và thu hoạch hoa lợi cho sự sống vĩnh cửu, để người gieo và thợ gặt đều cùng nhau vui mừng. Điều đó thật đúng với câu ngạn ngữ sau: ‘Người này gieo, kẻ kia gặt’. Tôi phái anh em đi gặt những gì anh em không bỏ công làm lụng. Người khác đã làm, và anh em cùng họ hưởng công sức của họ”. Nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đặt đức tin nơi Chúa Giê-su vì lời của người phụ nữ ấy, là người đã làm chứng rằng: “Ông ấy nói với tôi đúng hết mọi chuyện tôi đã làm”. Vì thế, khi những người Sa-ma-ri đến gặp ngài thì họ xin ngài ở lại với họ, và ngài ở đó hai ngày. Nhờ vậy mà có thêm nhiều người tin vì cớ lời ngài đã nói, và họ nói với người phụ nữ ấy: “Chúng tôi tin, không chỉ vì lời của chị thôi, mà cũng vì chính chúng tôi đã nghe và biết người này quả là đấng cứu rỗi của thế gian”.

(Giăng 4:5-42, Kinh Thánh)

[43] Ta là An-pha và Ô-mê-ga

Ta là An-pha và Ô-mê-ga, Ðầu Tiên và Cuối Cùng, Khởi Nguyên và Tận Chung. Phúc cho những người giặt sạch áo của mình, để có thể có quyền hưởng trái của cây sự sống và có thể đi qua các cổng để vào thành.

(Khải Huyền 22:13-14)

[44] Giặt sạch áo choàng –

Bấy giờ một vị trong các vị trưởng lão hỏi tôi, “Ngươi có biết những người mặc áo choàng trắng nầy là ai, và họ từ đâu đến không?” Tôi trả lời với vị đó, “Thưa ngài, ngài biết.” Vị đó nói với tôi, “Ðây là những người đã ra từ cơn đại nạn; họ đã giặt sạch y phục của họ và tẩy trắng chúng trong huyết của Chiên Con.”

(Khải Huyền 7:13-14)

Đức Kitô đã nói rằng:

“Trong một ngàn người tìm kiếm ta, chỉ có một người tìm được ta; trong một ngàn người tìm được ta, chỉ có một người theo ta; trong một ngàn người theo ta, chỉ có một người là [môn đồ thực sự] của ta.”

Điều tồi tệ hơn là những người đã đọc nhiều sách huyền học và đã từng là thành viên của nhiều nhóm tâm linh học đều đầy kiêu ngạo về đạo đức của họ. Họ tin rằng mình rất thánh thiện và khôn ngoan ngay cả khi họ đang khoe khoang sự khiêm nhường. Những anh em đáng thương đó còn xa Bàn thờ Điểm Đạo hơn so với những người hay nói lời phỉ báng. Những người muốn đạt đến Điểm Đạo cao phải bắt đầu bằng cách nhận ra mình là kẻ hư hỏng. Khi một người đã nhận ra sự gian ác của mình thì người đó đang đi trên con đường Giác ngộ. Hãy nhớ rằng trong khói hương cầu nguyện cũng che giấu tội ác. Điều này là khó khăn cho những người đã đọc quá nhiều. Những người đó cảm thấy mình đầy tôn nghiêm và khôn ngoan. Khi họ có những tia sáng nhãn thông, thì họ không thể khiêm tốn được bởi họ tự xưng là Bậc Cao thủ của Minh triết. Đương nhiên, những người như thế này chắc chắn là ứng cử viên cho Vực thẳm Địa ngục và Cái chết thứ hai. Vực thẳm Địa ngục đầy rẫy những người nhầm lẫn chân thành và những người có ý định rất tốt.

Khi Điểm đạo Đồ đã dẫn một phần Ngọn lửa Sáng tạo của anh ta lên đầu, anh ta ném vương miện của mình dưới chân Con Chiên. Thánh John nói về Hai mươi bốn Trưởng lão ném vương miện của họ dưới chân ngai vàng của Đức Chúa. [45]

[45] Ném vương miện của mình dưới chân Con Chiên

Hễ khi nào các sinh vật ấy tôn vinh, tôn kính và cảm tạ đấng ngồi trên ngai, là đấng sống muôn đời bất tận, thì trưởng lão sấp mình xuống thờ phượng đấng ngồi trên ngai, là đấng sống muôn đời bất tận. Họ ném vương miện mình xuống trước ngai mà nói rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, ngài xứng đáng nhận sự vinh hiển, tôn kính và quyền năng, vì ngài đã tạo nên muôn vật, và bởi ý muốn ngài mà muôn vật hiện hữu và được tạo nên”.

(Khải Huyền 4:9-11)

Kinh Khải huyền mô tả người kỵ sĩ của chương mười chín với một dải băng trên đùi. Trên dải băng đó được viết bằng các ký tự thiêng liêng với cụm từ: “Vua của các vị Vua và Chúa tể của Chúa tể”. Thật sự, Vị Vua không ở trên trán, mà là trong [trung tâm] sinh dục. Rasputin, khi say rượu, đã đánh sinh thực khí của mình trên bàn ăn của cuộc truy hoan và nói rằng: “Đây là Vua của Thế giới.” [46]

[46] Rasputin – Trong sách “The Mystery of the Golden Flower” thầy Samael giải thích rằng Rasputin là một phù thủy đen. Ông đã hiểu sức mạnh của Khí lực Tính dục và áp dụng nó để làm các loại phép độc ác. Đọc bản tiếng Anh ở đây

“Phúc cho những cặp đôi biết cách yêu nhau. Bằng quan hệ tình dục, chúng ta khai mở Thất Thánh Đường của sách Khải Huyền, và chúng ta biến mình thành những Vị Thần. Bảy luân xa vang lên với thần chú FE… UIN… DAGJ mạnh mẽ của Ai Cập. Từ cuối cùng này là âm yết hầu. [47]

[47] FE… UIN… DAGJNghe phát âm ở đây

Hướng dẫn tập niệm thần chú: Hãy nằm hay ngồi với cơ thể ở tư thế thoải mái, thả lỏng, tích hợp để tập trung tâm trí. Nếu học trò bị buồn ngủ hay mất tập trung khi nằm thì nên ngồi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng. Phát âm chậm và đọc to từng âm một của câu thần chú. Kéo dài nguyên âm. Mỗi nguyên âm được kéo dài khi thở ra cho đến khi hết hơi. Tập trung vào cảm giác rung động trong cơ thể khi phát âm câu chú. Chú ý tập trung vào những luân xa bạn muốn phát triển. Tiếp tục kết hợp câu thần chú với hơi thở trong 10 – 60 phút. Môn đồ thường phải tập như thế này hàng ngày trong vài tháng trước khi sẽ cảm nhận được hiệu quả của bài tập. Vì thế cho nên chúng tôi đề nghị học trò mới nên chọn một bài tập và thực tập hàng ngày trong sáu tháng, không bỏ một ngày nào.

“Sự thi hành hoàn hảo của Thất Thánh Đường, chức tư tế hoàn chỉnh [48], được đạt đến với cơ thể ở trạng thái Jinn. Những Pháp sư vĩ đại biết cách đặt cơ thể vào trạng thái Jinn. Sau đó, họ thi hành tất cả các chức tư tế của Thất Thánh Đường.

[48] “Chức tư tế” hàm ý quyền lực ra lệnh cho các nguyên tố: lửa, nước, khí và đất.

Khi Chúa Giê-su đi trên biển, Ngài có thân xác ở trạng thái Jinn. Trong trạng thái đó, chúng ta là những vị thần toàn năng.

Ở khu vực rốn có một luân xa bí ẩn mà pháp sư sử dụng cho các trạng thái Jinn của mình. Khi nào một pháp sư đang ở rất xa cơ thể vật lý của mình, nếu anh ta sử dụng sức mạnh của luân xa đó, có thể cầu xin Đức Chúa nội tâm của mình theo cách này: “Đức Chúa của con, Thượng Đế của con, con cầu xin Ngài hãy mang cơ thể của con đến cho con.” Đức Chúa nội tâm có thể mang cơ thể vật lý đến cho pháp sư ở trạng thái Jinn, tức là [cơ thể vật chất] chìm vào thế giới Tinh Tú. Trong những lúc đó, luân xa bí ẩn của Khoa học về Jinn xoay tròn.

Những người muốn học Khoa học Jinn nên nghiên cứu The Yellow Book. Ở đó chúng tôi dạy môn Khoa học bí ẩn đó.

Thất thánh đường trao cho chúng ta sức mạnh vượt lên trên Lửa, Không khí, Nước và Đất.

–> Chương 8 – Hạnh phúc, âm nhạc, vũ điệu và nụ hôn


Leave a Reply