Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Hôn Nhân Hoàn Hảo
Con người là một bộ ba gồm thân thể, hồn và tâm linh. Giữa tâm linh và thân thể có một trung gian kết nối, đó là hồn. Học trò Gnosis biết rằng linh hồn khoác lên mình một bộ trang phục kỳ diệu, chính là cơ thể cảm xúc. Qua những gì học được từ Gnosis, chúng ta biết rằng cơ thể cảm xúc là bản sao của cơ thể vật chất, được phú cho các giác quan nội tại nhiệm màu.
Các bậc thấu thị vĩ đại có nói về bảy luân xa, và Leadbeater đã miêu tả chúng rất chi tiết.1 Những luân xa này thực ra là các giác quan của cơ thể cảm xúc, là các trung tâm khí lực có liên hệ mật thiết với các tuyến nội tiết.
Trong lò luyện kim đan của cơ thể con người, có bảy thành phần được kiểm soát bởi ba hệ thần kinh khác nhau. Các dây thần kinh hoạt động như những tác nhân của định luật Tam giác,2 điều khiển bảy tuyến của cơ thể. Ba hệ thần kinh này tương tác với nhau, bao gồm:
- Thứ nhất, hệ thần kinh não-tủy, chịu trách nhiệm cho các chức năng ý thức.
- Thứ hai, hệ thần kinh đại giao cảm, điều khiển các chức năng tiềm thức, vô thức và bản năng.
- Thứ ba, hệ thần kinh phó giao cảm hoặc hệ thần kinh phế vị, giữ vai trò kiềm chế các chức năng bản năng dưới sự điều khiển của tâm trí.
Hệ thần kinh não-tủy là ngai vàng của tâm linh. Hệ thần kinh đại giao cảm là phương tiện của cơ thể cảm xúc. Hệ thần kinh phế vị, hay phó giao cảm, tuân theo mệnh lệnh của tâm trí. Ba tia sáng và bảy trung tâm khí lực là nền tảng của mọi trật tự3 trong vũ trụ, từ cái lớn vô tận đến cái nhỏ vô cùng. “Trên sao, dưới vậy.”
Bảy tuyến chính yếu trong cơ thể con người là bảy phòng thí nghiệm chịu sự kiểm soát của định luật Tam giác. Mỗi tuyến này được đại diện bởi một luân xa trong cơ thể. Mỗi luân xa lại có mối quan hệ tương quan mật thiết với bảy thánh đường4 nằm dọc cột sống. Bảy thánh đường này kiểm soát bảy luân xa của hệ thần kinh đại giao cảm.
Bảy thánh đường bắt đầu hoạt động mạnh mẽ khi Kundalini đi lên trong ống tủy sống. Kundalini trú ngụ trong các electron. Nhà hiền triết nhập định và tập trung vào nó, người mộ đạo tôn sùng nó, và trong các ngôi nhà nơi Hôn nhân hoàn hảo ngự trị, các cặp đôi rèn luyện với nó trong đời sống thực tiễn.

Kundalini là ngọn lửa dương tính—lửa mặt trời—ẩn chứa trong các nguyên tử tinh, là chất liệu điện tính rực lửa của mặt trời. Khi được giải phóng, Kundalini sẽ biến chúng ta thành những vị thần thiêng liêng vô cùng.
Ngọn lửa của trái tim kiểm soát việc đi lên của Kundalini trong ống tủy sống. Kundalini phát triển, tiến hóa và đi lên tương ứng với phẩm hạnh của trái tim. Kundalini là năng lượng nguyên thủy ẩn chứa trong thánh đường Ê-phê-sô.5 Thánh đường này nằm cách khoảng hai ngón tay ở phía trước hậu môn và hai ngón tay ở phía sau bộ phận sinh dục.
Con rắn lửa thiêng cuộn tròn ba vòng rưỡi, ngủ yên trong thánh đường của nó. Khi các nguyên tử dương và âm gặp nhau tại Triveni,6 gần xương cụt, rắn lửa kundalini của phép thần thông trong chúng ta sẽ thức tỉnh. Khi con rắn trỗi lên trong ống tủy sống, nó lần lượt kích hoạt từng thánh đường.

Luân xa của tuyến sinh dục được cai quản bởi sao Thiên Vương, còn luân xa của tuyến tùng, nằm ở đỉnh não, do sao Hải Vương điều khiển. Giữa hai tuyến này có một mối tương quan mật thiết, và Kundalini phải kết nối chúng với ngọn lửa thiêng để đạt được sự khai ngộ hoàn toàn. Thánh đường Ê-phê-sô là một đóa sen bốn cánh lộng lẫy, tỏa sáng như hàng triệu mặt trời rực rỡ. Sức mạnh của thánh đường này giúp chúng ta chinh phục nguyên tố đất của bậc hiền triết.7

Khi Kundalini đi lên đến vùng tuyến tiền liệt [hoặc tử cung], nó sẽ kích hoạt sáu cánh hoa của thánh đường Si-miệc-nơ. Thánh đường này ban cho ta sức mạnh chinh phục nguyên tố nước của sự sống và niềm vui của sáng tạo.8
Khi con rắn thiêng lên đến vùng rốn, chúng ta có thể chế ngự núi lửa, vì nguyên tố lửa của bậc hiền triết tương ứng với thánh đường Pẹt-găm nằm ở đám rối dương. Trung tâm này điều khiển lá lách, gan, tuyến tụy, v.v. Trung tâm Pẹt-găm có mười cánh hoa.
Khi Kundalini lên đến khu vực trái tim, nó kích hoạt thánh đường Thi-a-ti-rơ với mười hai cánh hoa kỳ diệu. Thánh đường này ban cho chúng ta sức mạnh chi phối nguyên tố khí của bậc hiền triết. Khi trung tâm trái tim phát triển, chúng ta sẽ được ban cho cảm hứng, linh cảm, trực giác và khả năng chủ động xuất hồn trong cơ thể cảm xúc, cũng như khả năng đưa cơ thể vào trạng thái Jinn.
Chương hai của Kinh Khải Huyền nói về bốn Thánh đường cấp thấp trong cơ thể chúng ta. Đây là bốn trung tâm bao gồm:
- trung tâm nền tảng hay cơ bản [luân xa gốc],
- trung tâm tuyến tiền liệt hay tử cung [luân xa xương cùng],
- trung tâm rốn [luân xa đám rối dương] và
- trung tâm trái tim [luân xa tim].
Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu về ba trung tâm khí lực cao hơn được nhắc đến trong chương ba của Khải Huyền. Ba Thánh đường cấp cao này là: Thánh đường Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và cuối cùng là Lao-đi-xê.
Khi Kundalini đi lên đến vùng thanh quản sáng tạo, nó ban cho chúng ta siêu năng lực nghe được tiếng nói của các sinh linh sống trong các cõi siêu việt. Luân xa này gắn liền với Âkâsha (ākāśa) thuần khiết, là môi trường của âm thanh. Luân xa thanh quản là thánh đường Sạt-đe. Khi Kundalini khai mở thánh đường này, nó sẽ nở rộ trên đôi môi màu mỡ của chúng ta và trở thành Ngôi Lời. Luân xa thanh quản có mười sáu cánh hoa tuyệt đẹp.

Khi trung tâm Âkâsha này phát triển toàn vẹn, chúng ta sẽ có khả năng duy trì sự sống của cơ thể ngay cả trong những đêm dài thăm thẳm của Pralaya vĩ đại. Ngôi Lời vĩ đại không thể nào hiện thể khi con rắn thiêng chưa được thức tỉnh. Nói cụ thể hơn, Âkâsha chính là tác nhân của Ngôi Lời, giống như dây diện là tác nhân để dẫn dòng điện. Ngôi Lời cần có Âkâsha để biểu hiện.
Âkâsha là tác nhân của âm thanh. Kundalini chính là Âkâsha. Âkâsha gắn liền với tình dục. Kundalini cũng gắn liền với tình dục. Trung tâm khí lực nơi Kundalini trú ngụ hoàn toàn là một trung tâm tình dục, như có thể thấy qua vị trí của nó: trung tâm này nằm khoảng hai ngón tay phía trước hậu môn và khoảng hai ngón tay phía sau bộ phận sinh dục, và khu vực đó rộng khoảng bốn ngón tay.9
Kundalini chỉ có thể được đánh thức và phát triển một cách trọn vẹn thông qua phép tình dục. Người tính dục hạ cấp không thích điều này. Họ tự cho mình là siêu việt và vô cùng căm ghét phép tình dục.
Một lần nọ, sau khi nghe chúng tôi giảng về phép tình dục, một người đã phản đối, nói rằng giáo lý Gnosis làm bại hoại người phụ nữ. Đó là một người có tính dục hạ cấp. Ông ta phản đối vì chúng tôi giảng dạy khoa học Phục sinh, nhưng lại không phản đối tính dục song tính,10 nạn mại dâm hay thói thủ dâm, và cũng không cho rằng những người như thế là bại hoại. Ông ta phản đối giáo lý của sự Phục sinh, nhưng không hề phản đối giáo lý của sự Thoái hóa. Người tính dục hạ cấp là như thế. Họ tự cho mình siêu việt hơn những người có tính dục bình thường. Họ phản đối sự Phục sinh, nhưng lại biện hộ cho sự Thoái hóa.
Người tính dục hạ cấp không bao giờ có thể hiện thân được Ngôi Lời. Họ khạc nhổ trong thánh đường của tình dục, và luật [vũ trụ] trừng phạt bằng cách ném họ vào địa ngục mãi mãi.11 Tình dục là thánh đường của Đức Thánh Linh.
Khi Kundalini lên đến điểm nằm giữa hai chân mày thì Thánh đường Phi-la-đen-phi-a được khai mở. Đây là con mắt của trí tuệ. Trung tâm khí lực này là nơi Đức Cha Bí Ẩn ngự trị. Luân xa con mắt thứ ba này có hai cánh hoa chính cùng vô số tia sáng rực rỡ. Trung tâm này là ngai vàng của tâm trí. Không một bậc nhãn thông chân chính nào lại tự nhận mình có nhãn thông. Không một bậc nhãn thông chân chính nào nói rằng: “Tôi đã nhìn thấy…”. Bậc nhãn thông đã nhận điểm đạo sẽ nói rằng: “Chúng tôi đã học được rằng…”
Tất cả các nhà nhãn thông đều cần được điểm đạo. Người nào có nhãn thông mà chưa được điểm đạo thì dễ mắc những sai lầm rất nghiêm trọng. Nhà nhãn thông nào đi khắp nơi kể lại những điều mình thấy cho cả thế giới nghe thì có nguy cơ đánh mất khả năng ấy. Một nhà nhãn thông ba hoa cũng có thể bị mất cân bằng tâm trí. Bậc nhãn thông phải biết im lặng, khiêm tốn và giản dị. Bậc nhãn thông phải giống như một đứa trẻ.
Khi Kundalini lên đến tuyến tùng, Thánh đường Lao-đi-xê được khai mở. Bông sen của Thánh đường này có một nghìn cánh hoa rực rỡ. Tuyến tùng chịu ảnh hưởng của sao Hải Vương. Khi Thánh đường này khai mở, chúng ta sẽ nhận được năng lực đa nhãn thông,12 trực giác, v.v.
Tuyến tùng có mối liên hệ mật thiết với luân xa của tuyến sinh dục. Năng lượng sinh dục càng cao thì tuyến tùng càng phát triển mạnh mẽ. Năng lượng sinh dục càng thấp thì tuyến tùng càng kém phát triển. Sao Thiên Vương ở cơ quan sinh dục và sao Hải Vương ở tuyến tùng kết hợp với nhau để đưa chúng ta đến sự khai ngộ toàn vẹn.
Các trường phái Phục Sinh—nơi mà người tính dục hạ cấp vô cùng căm ghét—truyền dạy cách thực hành khoa học của sao Thiên Vương và sao Hải Vương trong đời sống thực tiễn.
Đạo13 bao gồm ba con đường, và đây là con đường thứ tư. Những tác giả khác đã nói rất nhiều về bốn con đường rồi. Trong Gnosis, chúng ta đi trên con đường thứ tư trong trạng thái hoàn toàn tỉnh thức. Khi quan hệ tình dục, chúng ta chuyển hóa các bản năng thú tính của cơ thể vật chất thành ý chí, chuyển hóa cảm xúc đam mê của cơ thể cảm xúc thành tình yêu, và chuyển hóa những bốc đồng của tâm trí thành sự thấu hiểu. Chúng ta, là tâm linh, đang thực hiện Công Trình Vĩ Đại. Đây là cách chúng ta thực hành cả bốn con đường. Chúng ta không cần trở thành fakir để đi theo con đường thứ nhất, cũng không cần thành tu sĩ để đi theo con đường thứ hai, hay trở thành học giả để đi theo con đường thứ ba. Hôn nhân hoàn hảo cho phép chúng ta bước trên cả bốn con đường này trong khi quan hệ tình dục.
Từ câu thứ nhất đến câu thứ bảy [của chương 2], Kinh Khải Huyền nói về trung tâm xương cụt.14 Thánh đường Ê-phê-sô nằm ở trung tâm này. Tại trung tâm sáng tạo này, con rắn lửa cuộn tròn thành ba vòng rưỡi. Ai đánh thức được nó và làm cho nó đi lên trong ống tủy sống sẽ nhận được thanh gươm rực lửa và sau đó tiến vào Ê-đen.15
Trong con rắn ẩn chứa tiềm năng cứu rỗi của con người, nhưng chúng ta phải cảnh giác với sự xảo quyệt của nó. Chúng ta nên chiêm ngưỡng trái cấm và hít hương thơm của nó, nhưng hãy nhớ lời dặn của Đức Giê-hô-va: “Nếu ăn trái cây đó, thì chắc chắn con sẽ chết”.16 Chúng ta phải tận hưởng phúc lạc của tình yêu và nâng niu người phụ nữ.17 Một bức tranh đẹp làm chúng ta say mê, một bản nhạc hay khiến ta ngây ngất, nhưng một người phụ nữ xinh đẹp đáng yêu lại khơi dậy trong ta khao khát muốn chiếm hữu. Người phụ nữ là hiện thân của Đức Mẹ Thiêng Liêng. Quan hệ tình dục với người mình yêu là một niềm vui sướng không thể phủ nhận. Hưởng thụ tình dục là quyền chính đáng của con người. Hãy tận hưởng phúc lạc của tình yêu, nhưng đừng làm đổ tinh dịch, đừng phạm thánh, đừng trở thành kẻ tà dâm. Khiết tịnh biến chúng ta thành thánh thần, còn tà dâm biến chúng ta thành ác quỷ.
Chân sư Krumm Heller từng nói: “Giáo phái Naassene18 tôn thờ ánh sáng vĩ đại. Họ nói rằng tia sáng từ Mặt Trời hình thành một cái tổ bên trong chúng ta và tạo thành con rắn. Họ nói rằng: ‘Tất cả chúng ta sẽ trở thành thần nếu rời khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ.'”19 Trong cuốn “La Iglesia Gnóstica” [Hội Thánh Gnosis], thầy Krumm Heller kể rằng giáo phái Gnosis này có một thánh vật là chiếc chén rượu lễ, trong đó chứa “tinh dịch của Bên-gia-min.” Theo thầy Huiracocha, “tinh dịch” đó thực ra là hỗn hợp rượu vang và nước.20 Chân sư Krumm Heller nói thêm rằng trên bàn thờ của giáo phái Naassene luôn có biểu tượng thiêng liêng của con rắn tình dục. Thật vậy, “thần lực hay sức mạnh đồng hành cùng Môi-se chính là con rắn trên cây gậy,21 và sau đó con rắn trở thành chính cây gậy. Chính con rắn ấy đã nói với các con rắn khác và đã cám dỗ Êva.”

Trong một đoạn khác của tác phẩm bất hủ La Iglesia Gnóstica, chân sư Huiracocha viết:
“Trên sa mạc, Môi-se đã chỉ cho dân chúng thấy con rắn trên cây gậy và nói ai biết dùng con rắn này thì sẽ không bị tổn hại trong cuộc hành trình.”
Mọi sức mạnh kỳ diệu của Môi-se đều nằm trong con rắn thiêng Kundalini. Môi-se đã luyện tập phép tình dục rất nhiều để nâng con rắn lên cây gậy. Môi-se đã có vợ.
Trong màn đêm kinh hoàng của các thế kỷ đã qua, các Đại tư giáo cao quý và nghiêm khắc của những giáo phái huyền học vĩ đại đã hết lòng bảo vệ Bí ẩn vĩ đại. Các linh mục vĩ đại đã thề giữ im lặng, và chìa khóa của chiếc Hòm thánh khoa học được giấu kín khỏi mắt người thường. Chỉ có các linh mục vĩ đại mới biết và thực hành phép tình dục. Minh triết của rắn là nền tảng của các giáo phái huyền học vĩ đại. Trí tuệ này được phát triển trong các trường phái bí ẩn ở Ai Cập, Hy Lạp, Rôma, Ấn Độ, Ba Tư, Troy, Mexico Aztec, Peru Inca, v.v.
Thầy Krumm-Heller kể rằng trong bài ca của Homer ca ngợi Demeter, được tìm thấy trong một thư viện ở Nga, mọi thứ đều xoay quanh một sự kiện sinh lý mang tính vũ trụ với ý nghĩa sâu xa [đó chính là tình dục]. Bài ca cổ xưa của vị Người-Thần đã hát về thành Troy xưa cũ cùng cơn thịnh nộ của Achilles, có thể thấy rõ rằng phép tình dục là viên đá nền tảng của đền thờ Eleusis vĩ đại.
Các vũ điệu khỏa thân, âm nhạc ngọt ngào của đền thờ, những nụ hôn say đắm và phép màu huyền bí của hành động bí mật—tất cả đã biến Eleusis thành một thiên đường của các nam thần và nữ thần khả kính. Thời ấy, không ai nghĩ đến sự khiếm nhã; họ chỉ nghĩ về những điều thiêng liêng và cao cả. Không ai dám làm ô uế đền thờ. Các cặp đôi đều biết rút ra kịp thời để tránh làm đổ rượu thiêng.
Ở Ai Cập, Osiris là nguyên lý tính nam, xuất hiện trước mặt Isis là nguyên lý tính nữ vĩnh cửu đáng kính. Tại vùng đất đầy nắng xứ Khem này,22 Đức Chúa toàn thiện23 đã rèn luyện với Đại Bí Ẩn A.Z.F., chính xác trong giai đoạn chuẩn bị cho điểm đạo, trước khi bắt đầu sứ mệnh của mình. Câu chuyện này đã được ghi lại trong kho ký ức của tự nhiên.
Ở Phoenicia, Hercules và Dagon yêu nhau tha thiết; ở Attica thì là Pluto và Persephone. Tuy nhiên, theo chân sư Krumm Heller, trong các nền văn minh này, sinh thực khí nam và nữ được nhắc đến một cách công khai; đó chính là Lingam-Yoni trong các giáo phái bí ẩn của Hy Lạp.
Đại tư tế của Ai Cập là những người thừa kế trí tuệ cổ xưa từ Atlantis. Họ đại diện cho Thoth, vị thần Ibis cò quăm vĩ đại với dương vật cương cứng. Chân sư Krumm Heller kể rằng phía trên dương vật cương cứng của thần cò Thoth có khắc một dòng chữ: “Đấng Ban Trí Tuệ”, bên cạnh đó là một đóa sen tỏa sáng rực rỡ.

Các bậc hiền triết xưa của Ai Cập thiêng liêng đã khắc biểu tượng thần thánh của con rắn tình dục trên những bức tường hàng ngàn năm tuổi của họ.
[Thời xưa] không ai được phép tiết lộ bí mật của phép tình dục, đó là Đại bí ẩn. Kẻ nào không may tiết lộ bí mật này đều bị kết án tử hình. Họ bị đưa ra một sân đá, đứng trước một bức tường cổ phủ da cá sấu cùng những chữ tượng hình khó hiểu. Tại đó, họ bị chặt đầu, moi tim, và tro cốt bị nguyền rủa của họ bị ném ra bốn phương trời.
Chuyện này khiến tôi chợt nhớ đến Cazote, nhà thơ vĩ đại người Pháp đã chết trên máy chém trong cuộc Cách mạng Pháp. Trong một bữa tiệc nổi tiếng, ông đã tiên tri về cái chết của chính mình cùng vận mệnh đen tối đang chờ đợi một nhóm điểm đạo đồ quý tộc, những người dự định tiết lộ Đại bí ẩn. Ông tiên đoán rằng một số người sẽ chết trên máy chém, một số khác sẽ chết bởi dao găm, thuốc độc, ngục tù và lưu đày. Những lời tiên tri của ông đã ứng nghiệm chính xác tuyệt đối.24
Vào thời Trung Cổ, bất cứ ai tiết lộ Đại bí ẩn đều chết một cách khó hiểu: họ chết bởi những món quà chết chóc như chiếc áo của Nessus,25 những bánh xà phòng tẩm độc được gửi đến nhà như quà sinh nhật, những bó hoa tẩm hương, hoặc bằng dao găm.

Đại bí ẩn là chìa khóa mở ra mọi siêu năng lực và mọi cõi giới. Sức mạnh của tự nhiên sẽ trỗi dậy chống lại những kẻ táo tợn tìm cách khuất phục nó. Các đại tư giáo đã giấu kín bí mật của mình, và các vị vua thiêng liêng không bao giờ trao chìa khóa quyền năng bí mật cho bất kỳ người trần tục nào. Thật khốn khổ và bất hạnh cho người trần nào nhận được bí mật này mà không biết cách tận dụng nó.
“Đối với những người này, thà không sinh ra, hoặc bị buộc đá cối xay vào cổ và bị ném xuống biển sâu còn hơn” (Ma-thi-ơ 18:6).
Tự nhiên không quan tâm đến việc khai ngộ bản thể của con người, và điều này thậm chí còn đi ngược lại lợi ích của tự nhiên. Đó là lý do vì sao Mẹ Tự nhiên dùng toàn bộ sức mạnh của mình để chống lại bất kỳ kẻ táo bạo nào muốn thống trị bà.
Nhân đây tôi nhớ đến một câu chuyện kỳ lạ đáng để kể ra: Vào một dịp nọ, có một người lính hải quan nghèo đang đi dạo trên bờ biển. Đột nhiên có cái gì đó thu hút sự chú ý của anh ta. Anh nhìn thấy trên bãi cát có một vật bằng da bị những cơn sóng dữ vùng Ca-ri-bê đánh dạt vào. Anh đến gần và ngạc nhiên khi thấy một vật như chiếc cặp da hay chiếc vali nhỏ màu đen. Ngay lập tức, anh đi đến văn phòng quản lý cảng và giao chiếc cặp cho cấp trên của mình. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh trở về nhà. Sáng hôm sau, khi đến chỗ làm, viên sĩ quan cấp trên với vẻ mặt vô cùng giận dữ, đưa cho anh một đồng hai mươi xu và nói: — Đồ ngu! Đây là những gì anh đáng phải nhận. Hãy lấy tiền này mà mua dây treo cổ mình lên đi, anh không đáng sống nữa. Hãy mua một sợi dây với hai mươi xu này mà treo mình lên trên cây! May mắn đã đến với anh mà anh xem thường nó. Chiếc cặp da nhỏ mà anh giao cho tôi chứa gần một triệu đô la trong đó. Biến đi! Hãy ra khỏi đây, đồ ngu! Anh không xứng đáng được sống!
Quả thật, đó là số phận bi thảm đang chờ đợi những ai không biết cách tận dụng kho báu quý giá của Đại bí ẩn. Những người ấy không đáng được sống. Bí ẩn vĩ đại của phép tình dục chưa bao giờ được truyền dạy trước đây, và giờ đây chúng tôi đang tiết lộ nó. Thật bất hạnh cho ai đã tìm thấy kho báu của nhà vua mà lại khinh thường nó, như người lính trong câu chuyện kể trên. Kho báu của Đại bí ẩn còn giá trị hơn nhiều so với số tài sản mà anh lính đã tìm thấy. Ai coi khinh nó thì thật là ngu ngốc.
Để đánh thức Kundalini, mỗi người đàn ông cần một người phụ nữ. Tuy nhiên, chúng tôi phải cảnh báo rằng mỗi điểm đạo đồ chỉ được thực hành phép tình dục với một người phụ nữ duy nhất. Ai thực hành phép tình dục với nhiều phụ nữ khác nhau là phạm tội ngoại tình. Những người này không thể tiến bộ trên con đường tu tập. Thật không may, có một số cá nhân lợi dụng phép tình dục như một cái cớ để dụ dỗ phụ nữ. Đó là những kẻ xúc phạm đến đền thờ thiêng liêng. Loại đàn ông như vậy chắc chắn sẽ rơi vào ma thuật đen. Chúng tôi cảnh báo phụ nữ nên cẩn thận với những nhân vật đồi bại về tình dục này.
Cũng có nhiều phụ nữ mượn cớ khai ngộ bản thể để giao hợp với bất kỳ người đàn ông nào. Những phụ nữ đầy dục vọng ấy chỉ muốn thỏa mãn ham muốn xác thịt của mình. Thế gian vốn là vậy. Từ khi chúng tôi tiết lộ Đại bí ẩn, đúng như dự đoán, đã xuất hiện những kẻ dung tục giẫm đạp lên giáo lý, rồi cuối cùng chết vì độc từ bánh mì trí tuệ. Phép tình dục chỉ có thể thực hành giữa vợ và chồng. Chúng tôi làm rõ điều này để ngăn chặn các vụ dụ dỗ gài bẫy bằng dục vọng xác thịt, cũng như tránh việc thần thánh hóa đam mê nhục dục.
Lực tình dục là một vũ khí khủng khiếp. Các nhà khoa học chưa thể tìm ra nguồn gốc của điện. Chúng tôi khẳng định rằng căn nguyên của năng lượng điện phải được tìm kiếm trong sức mạnh tình dục của vũ trụ. Lực này không chỉ nằm trong các cơ quan sinh dục mà còn có trong mọi nguyên tử và electron của vũ trụ. Ánh sáng mặt trời là một sản phẩm của tình dục. Một nguyên tử hydro kết hợp tình dục với một nguyên tử carbon để tạo ra ánh sáng mặt trời.26 Hydro là nam tính, carbon là nữ tính, và sự kết hợp tình dục của cả hai sinh ra ánh sáng mặt trời. Các nghiên cứu về các quá trình của carbon thực ra rất thú vị, bởi đó chính là những quá trình thai nghén của ánh sáng.
Căn nguyên của điện phải được tìm kiếm trong lửa rắn vũ trụ. Ngọn lửa này ngự trong các hạt electron. Những bậc hiền triết dùng nó làm đối tượng thiền, các nhà huyền học tôn thờ nó, còn những người bước theo con đường Hôn nhân hoàn hảo thì thực hành với nó trong đời sống thực tiễn hàng ngày.
Năng lực tình dục trong tay các pháp sư trắng và pháp sư đen là một vũ khí kinh khiếp. Ý niệm có thể thu hút chất lỏng tình dục vào cột sống và tích tụ chất lỏng này trong túi chứa tương ứng của nó. Khi chất tinh này bị phóng ra một cách tai hại, hàng tỷ nguyên tử dương bị mất đi. Cơn co thắt tình dục xảy ra sau khi xuất tinh sẽ rút lấy hàng tỷ nguyên tử Satan từ các hỏa ngục nguyên tử của con người để thay thế cho nguyên tử dương bị mất. Đây là cách chúng ta tạo ra quỷ dữ bên trong chính mình.
Khi chúng ta kiềm chế xung lực tình dục bên trong, chất lỏng kỳ diệu này sẽ trở về cơ thể cảm xúc và khiến cơ thể này càng thêm huy hoàng khôn tả. Đây là cách chúng ta tạo ra Đấng Kitô bên trong mình. Như vậy, với năng lượng tình dục, chúng ta có thể tạo ra Đấng Kitô hoặc là quỷ dữ.
Bậc chân sư vĩ đại hiện thân của Đấng Kitô vũ trụ đã nói rằng:
“Ta là bánh của sự sống. Ta là bánh sống. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì được sự sống đời đời, còn chính Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng. Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta và chính Ta ở trong người ấy.” (Giăng 6:35-59)
Đấng Kitô là dương hồn, là tâm linh sống của mặt trời. Ngài, cùng với sự sống của mình, làm cho lúa mì trổ bông, mà trong hạt lúa mì – hạt giống – chứa đựng mọi năng lực của Logos Thái dương. Chất liệu Kitô của Logos Thái dương được chứa trong hạt giống của mọi loài cây cỏ, muông thú, và cả con người, như được cất trong một chiếc hộp quý giá.
Bằng cách làm cho năng lượng sáng tạo quay vào trong và hướng lên trên, một đứa trẻ kỳ diệu sẽ được thai nghén và sinh ra bên trong chúng ta, đó chính là cơ thể cảm xúc Kitô-hóa. Cơ thể này mang lại cho chúng ta sự bất tử. Đó là Chrestos trung gian, chiếc cầu nối của chúng ta. Thông qua cơ thể này, chúng ta đến được với Đức Cha ở nơi bí ẩn. Đấng Toàn Thiện đã phán: “Không ai đến được với Cha nếu không qua Ta” (Giăng 14:6).
Người trần tục chỉ sở hữu cái bóng của cơ thể cảm xúc, vốn chỉ là một phác thảo của con người. Nó thậm chí còn không có tính thống nhất. Cái vỏ trống rỗng ấy là nơi trú ngụ của lũ quỷ dữ và những loài chim ô uế đáng ghét.27 Bên trong cái bóng đó là cái tôi – con quỷ dữ. Đó là một quân đoàn địa ngục. Cái tôi là một quân đoàn.28 Giống như một cơ thể được tạo thành từ vô số nguyên tử, cái tôi cũng được cấu thành từ hàng triệu cái tôi nhỏ, những trí thông minh ma quỷ, những con quỷ ghê tởm luôn tranh đấu lẫn nhau. Khi một người chết đi, họ trở thành thứ ấy: “Quân đoàn”. Bản thân họ trở thành cát bụi, chỉ còn lại một thứ duy nhất tồn tại: quân đoàn của các cái tôi.
Các nhà nhãn thông thường nhìn thấy một người đã chết mặc nhiều bộ trang phục khác nhau và xuất hiện đồng thời ở nhiều nơi, như thể người đó đã biến thành nhiều người. Đó chính là quân đoàn. Tuy nhiên, khi đã tạo ra cơ thể cảm xúc Kitô bên trong, chúng ta sẽ tiếp tục sống trong cơ thể đó sau khi chết. Khi ấy, chúng ta thực sự trở nên bất tử.
Những người sở hữu cơ thể cảm xúc Kitô thì sau khi chết sẽ giữ được ý thức tỉnh táo. Người bình thường khi chết đi thì mang theo ý thức ngủ mê. Cái chết thực sự là một cuộc đầu thai, quay lại vào một phôi thai vừa được thụ tinh. Chết tức là quay trở lại vào hạt giống. Tất cả những người chết đều quay trở lại một tử cung mới trong tình trạng hoàn toàn vô thức và mê ngủ.
Con người thậm chí còn chưa hiện thể được linh hồn. Hồn của họ không ở trong thân xác. Họ chỉ sở hữu hồn ở dạng phôi thai. Những kẻ ác thậm chí còn không có phôi của hồn. Chỉ khi sở hữu một cơ thể cảm xúc Kitô-hoá thì hồn mới hiện thể bên trong chúng ta. Người bình thường chỉ là phương tiện của cái tôi, vậy nên tên của mỗi người trần tục đó là quân đoàn.
Chỉ với phép tình dục, cơ thể cảm xúc Kitô-hóa mới được sinh ra bên trong chúng ta. Cám dỗ là ngọn lửa; chiến thắng cám dỗ là ánh sáng.
Việc kiềm chế dục vọng sẽ khiến chất lỏng thể cảm xúc dâng lên tuyến tùng. Bằng cách đó, Ađam Kitô, bậc Siêu Nhân, sẽ được sinh ra trong chúng ta.
Khi kích thích cơ quan sinh dục để giao hợp, tinh dịch sẽ tăng lên. Khi không xuất ra, tinh sẽ được chuyển hóa và biến chúng ta thành các vị thần.
Ngọn lửa tình dục là thanh kiếm mà vị Chúa nội tại dùng để chiến đấu chống lại các thế lực đen tối. Tất cả những ai thực hành phép tình dục đều khai mở bảy Thánh đường.
Người nào đã rèn luyện với Kundalini rồi mà làm đổ tinh dịch thì chắc chắn sẽ thất bại, vì khi đó Kundalini sẽ hạ xuống một hoặc nhiều đốt sống, tùy theo mức độ sa ngã. Chúng ta phải chiến đấu cho đến khi đạt được sự khiết tịnh hoàn hảo, bởi “nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với ngươi và cất cây đèn của ngươi khỏi chỗ của nó”.29

Hơi bốc lên từ hệ thống sinh tinh sẽ mở ra lỗ phía dưới của tủy sống để rắn thiêng đi vào. Ở người thường, lỗ này luôn đóng. Hơi tinh dịch của các pháp sư đen hướng xuống địa ngục, trong khi hơi tinh dịch của các pháp sư trắng hướng lên thiên đường.
Khai mở Thánh đường Ê-phê-sô có nghĩa là đánh thức Kundalini. Ở kẻ phóng đãng, trung tâm này có màu đỏ bẩn, ở điểm đạo đồ thì có màu đỏ ánh vàng, và ở nhà huyền học đã điểm đạo thì có màu tía, đỏ xanh.
Từ hệ thống sinh tinh, các nguyên tử âm và dương đi lên. Bản chất của hơi tinh dịch chính là các nguyên tử âm và dương này. Hơi này được chuyển hóa thành năng lượng, và năng lượng ấy phân cực thành âm và dương, mặt trăng và mặt trời. Những năng lượng này đi lên qua các kênh giao cảm Idâ và Pingalâ để đến Chén Thánh, tức là bộ não. Sau khi tinh dịch đã hoàn toàn chuyển hóa thành năng lượng, hai kênh thần kinh giao cảm mà năng lượng đi lên chính là hai nhân chứng của Kinh Khải Huyền, hai cây ô liu của đền thờ, hai cây đèn trước Thần Trái Đất, hai con rắn quấn quanh cây gậy Caduceus của thần Mercury. Khi hai con rắn này chạm đuôi vào nhau, các nguyên tử âm và dương sẽ tiếp xúc tại xương cụt, gần khu vực Triveni. Đó là lúc Kundalini thức tỉnh.
Con rắn lửa của phép thần thông, vốn cuộn tròn trong một túi màng, sẽ thoát ra khỏi đó và đi lên qua kênh tủy sống để đến Chén Thánh — tức là bộ não. Từ ống tủy sống toả ra một số dây thần kinh, kết nối bảy luân xa hay bảy đám rối giao cảm với cột sống. Ngọn lửa thiêng kích hoạt bảy trung tâm khí lực này. Kundalini điều phối hoạt động của cả bảy luân xa một cách kỳ diệu. Chúng ta có thể dùng hình ảnh một cây gậy với bảy bông hồng xinh đẹp ngát hương để tượng trưng cho tất cả điều này. Cây gậy tượng trưng cho cột sống, còn bảy bông hồng đại diện cho bảy luân xa hay bảy trung tâm khí lực. Những cuống hoa mảnh mai của bảy bông hồng rực lửa này chính là các dây thần kinh mảnh mai kết nối các luân xa với cột sống.
Trong tinh dịch, lực lượng của ánh sáng chiến đấu với lực lượng của bóng tối.
Khi ngọn lửa bắt đầu đi lên, đó là sự kiện vĩ đại nhất của Hôn nhân hoàn hảo. Ở trung tâm nơi con rắn cuộn tròn có bốn cánh hoa, trong đó chỉ có hai cánh đang hoạt động. Khi được điểm đạo, hai cánh còn lại sẽ được kích hoạt. Luân xa tuyến tiền liệt (hoặc buồng trứng) có sáu màu sắc tuyệt đẹp: đỏ, cam, vàng, lục, lam và tím. Đây là Thánh đường Si-miệc-nơ, một trung tâm vô cùng quan trọng đối với người pháp sư. Nhờ trung tâm này, chúng ta kiểm soát được hành vi tình dục. Đây là trung tâm khí lực của Phép thuật Thực tiễn.30
Trung tâm thứ ba là Thánh đường Pẹt-găm, chính là bộ não của cảm xúc. Trong cơ thể con người có một trạm phát sóng không dây thực thụ. Trung tâm thu sóng là luân xa rốn, còn ăng-ten phát sóng là tuyến tùng. Khi một người nghĩ đến chúng ta, sóng tâm trí của họ sẽ truyền đến trung tâm rốn của chúng ta — tức là bộ não cảm xúc — rồi từ đó đi lên não, nơi chúng ta ý thức được những suy nghĩ ấy.
Thánh đường Thi-a-ti-ra, trung tâm thứ tư, thật đáng ngưỡng mộ. Đám rối tim, hay trung tâm tim, có mối liên hệ mật thiết với trái tim của hệ mặt trời. Con người là một vũ trụ thu nhỏ. Nếu muốn nghiên cứu vũ trụ, chúng ta phải nghiên cứu con người. Trong vũ trụ, chúng ta khám phá ra con người. Trong con người, chúng ta khám phá ra vũ trụ.
Khi nhìn từ xa, hệ mặt trời thực sự trông giống như một con người lộng lẫy đang bước đi trong cõi vô tận bất biến. Tại đó, mọi khoảnh khắc đều trở thành một hình thái sống động, tràn đầy âm nhạc phi thường khôn tả — âm nhạc của các hành tinh. Một khoảnh khắc nhận thức của người trời này kéo dài tám mươi năm. Trái tim của người trời này thực sự nằm ở trung tâm của đĩa mặt trời. Những ai biết cách du hành một cách có ý thức và tích cực trong cơ thể cảm xúc có thể đến thăm các ngôi đền ấy.
Lối vào thánh điện là một vực thẳm khổng lồ đen hơn cả màn đêm. Rất ít người có đủ can đảm để bước xuống vực thẳm chết người đó. Trong những tầng lớp sâu thẳm đáng sợ của vực thẳm mặt trời, người ta có thể cảm nhận được những điều khủng khiếp, những ngọn lửa thiêu đốt và sự bí ẩn kinh hoàng. Ai có đủ can đảm đi xuống đó sẽ tìm thấy sảnh vào thánh điện. Một đạo sư sẽ ban phước cho họ bằng một nhánh ô liu. Phúc cho những ai được phép bước vào nơi bí mật.
Một lối đi hẹp dẫn người học trò yêu quý đến nơi bí mật của thánh điện. Đó là trái tim của hệ mặt trời. Ở nơi linh thiêng ấy có bảy vị thánh, những đấng cai quản bảy tia sáng mặt trời. Tia sáng quan trọng nhất là tia của Kundalini, hay ngọn lửa rắn, lấp lánh rực rỡ vào buổi bình minh. Mọi cặp đôi trong Hôn nhân Hoàn hảo đều phải thực hành phép tình dục vào lúc bình minh.
Hệ mặt trời là cơ thể của một Đấng Vĩ Đại, hiện thân của sự hoàn hảo tuyệt đối. Trái tim của Ngài nằm trong mặt trời. Luân xa trái tim có mười hai cánh hoa, trong đó sáu cánh đang hoạt động và sáu cánh còn lại thì không. Nhờ ngọn lửa thiêng, cả mười hai cánh hoa sẽ được kích hoạt. Chúng ta phải tác động đến trái tim thông qua việc chuyên tâm cầu nguyện.
Trung tâm thứ năm là Thánh đường Sạt-đe. Đây là trung tâm của thanh quản sáng tạo, đóa sen mười sáu cánh. Khi con người dùng lửa thiêng kích hoạt đóa sen này, họ sẽ nhận được thiên nhĩ thông.31
Ngọn lửa thiêng trở thành nguồn sáng tạo trong cổ họng. Các thiên thần sáng tạo bằng sức mạnh của ngôn từ. Ngọn lửa nở hoa trên đôi môi màu mỡ và trở thành ngôn từ. Điểm đạo đồ có khả năng tạo ra bất cứ điều gì bằng suy nghĩ và sau đó đưa nó vào thế giới vật chất qua ngôn từ. Các nhà huyền học chưa định nghĩa rõ ràng về khả năng thấu thính. Chúng tôi phải lưu ý rằng bất cứ ai có thiên nhĩ thông đều thực sự có thể nghe được các âm thanh bên trong gần giống như âm thanh vật chất, hay đúng hơn là nhận thức chúng theo cách tương tự như âm thanh vật chất. Khả năng thiên nhĩ thông cho phép chúng ta nghe được các thiên thần.
Khi toàn bộ năng lượng sáng tạo đi lên đến não, chúng ta sẽ đạt đến trạng thái thiên thần. Khi đó, chúng ta sáng tạo bằng sức mạnh của ngôn từ.
Sự tiến hóa máy móc của tự nhiên không thể đưa chúng ta lên những tầm cao đó. Tiến hóa chỉ là sự chuyển động của sự sống phổ quát, nhưng nó không dẫn bất kỳ ai đến trạng thái thiên thần. Tự nhiên không quan tâm đến Siêu Nhân. Mặc dù tự nhiên chứa đựng mọi khả năng, nhưng Siêu Nhân lại đi ngược với những lợi ích vốn có của nó. Tự nhiên sử dụng những lực lượng khủng khiếp nhất để chống lại sự ra đời của Siêu Nhân.
Thiên thần, Siêu Nhân, là kết quả của một cuộc cách mạng tâm thức vĩ đại. Không ai có nghĩa vụ phải giúp đỡ mỗi cá nhân trong cuộc cách mạng này. Đây là một vấn đề rất riêng tư của mỗi người. Vấn đề này hoàn toàn thuộc về tình dục. Chúng ta phải rút gươm và chiến đấu chống lại các thế lực khủng khiếp của tự nhiên đang cản trở sự ra đời của Siêu Nhân.
Khi ngọn lửa thiêng khai mở luân xa trán, tức Thánh đường Phi-la-đen-phi với hai cánh hoa kỳ diệu và vô vàn tia sáng huy hoàng, chúng ta sẽ đạt được khả năng thấu thị. Con người thường quen sống trong lý thuyết và thề thốt về những điều họ chưa bao giờ thấy. Chúng ta cần đánh thức khả năng thấu thị để nhìn thấy các thực tại tuyệt vời bên trong. Luân xa trán là ngai vàng của tâm trí. Khi việc nghiên cứu lý thuyết và khả năng thấu thị tiến triển một cách cân bằng và hài hòa, chúng ta mới thực sự bước vào ngôi đền của tri thức chân thật.
Nhiều người chỉ đọc sách rồi đi khẳng định như thật, lặp lại kiến thức vay mượn. Họ tưởng rằng mình biết, nhưng chưa bao giờ thực sự thấy những gì đã đọc. Họ chỉ đang lặp lại như vẹt, vậy thôi. Những người này không biết gì cả. Họ là kẻ vô tri, những người vô tri có học thức. Để biết, trước tiên ta phải là bản thể.32 Thấu thị là con mắt của bản thể. Bản thể và tri thức phải song hành với nhau một cách cân bằng. Những người đã đọc rất nhiều sách huyền học thường tự cho mình là khôn ngoan. Nhưng nếu những người đáng thương đó chưa bao giờ thấy những gì đã đọc, thì có thể khẳng định rằng họ không biết gì cả.
Thế giới này có đủ mọi loại người thấu thị. Người thấu thị chân chính không bao giờ khoe khoang về khả năng của mình. Khi các học trò huyền học có những khải tượng thấu thị đầu tiên, họ thường có xu hướng kể với mọi người. Kết quả là họ bị người khác cười nhạo, và do những rung động tiêu cực từ người nghe, cuối cùng người học trò mất cân bằng tâm trí. Có khả năng thấu thị mà không được điểm đạo sẽ khiến học trò dễ mắc sai lầm, thậm chí phạm tội vu khống và phỉ báng, đôi khi còn dẫn đến giết người.
Ví dụ, một người thấu thị có thể thoáng nhìn thấy vợ mình trong cõi cảm xúc đang ngoại tình với một người bạn của anh ta. Nếu người thấu thị này chưa được điểm đạo và lại là người hay ghen tuông, anh ta có thể giết vợ hoặc người bạn của mình, dù người vợ bất hạnh ấy là một người thánh thiện, hoặc bạn của anh ta là người chân thật và trung thành. Hãy nhớ rằng trong cõi cảm xúc, con người là một quân đoàn [của những cái tôi], và mỗi cái tôi đa nguyên đều lặp lại những hành động đã thực hiện trong các kiếp trước. Các bậc chân sư vĩ đại của Bạch hội quán đã từng bị vu khống bởi những người thấu thị kiểu như vậy.
Mọi chân sư đều có một kẻ song trùng giống hệt họ. Nếu vị chân sư giảng về đức khiết tịnh, thì kẻ song trùng sẽ giảng về thói tà dâm. Nếu chân sư làm việc thiện, kẻ song trùng sẽ làm việc ác. Kẻ song trùng chính là phản đề của vị chân sư. Vì lý do này, chúng ta chỉ có thể tin tưởng những người thấu thị đã đạt đến điểm đạo thứ năm của các Đại Bí Ẩn. Hơn nữa, hãy nhớ rằng trước khi đạt đến điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn, con người chưa có các cơ thể Kitô-hóa để làm đền thờ cho Đức Cha nội tại của mình. Cả linh hồn lẫn Đấng Kitô đều không thể nhập vào những người chưa có các cơ thể nội tại đã được Kitô-hóa.
Đầu tiên, hồn phải nhập vào các cơ thể của nó, rồi sau đó Đấng Kitô nội tại mới nhập vào. Đấng Kitô trở thành hồn, và hồn trở thành Ngài. Từ sự kết hợp thiêng liêng giữa thần tính và nhân tính này sinh ra Con Người, Siêu Nhân, Adam Kitô.
Những ai không có các cơ thể nội tại đã được Kitô-hóa thì không thể tránh khỏi sai lầm. Những nhà thấu thị thiếu các cơ thể nội tại được Kitô hóa rất dễ mắc phải những sai lầm nghiêm trọng. Cơ thể cảm xúc Kitô hóa phải được sinh ra từ cái bóng của thể cảm xúc, thông qua phép tình dục thiêng liêng. Cuối cùng, chúng ta cần tạo ra một cơ thể căn nguyên đích thực cho hồn. Giống như con bướm phải thoát khỏi chiếc kén, từ cái bóng của cơ thể cảm xúc phải xuất hiện một cơ thể cảm xúc mới — cơ thể cảm xúc đã được Kitô hóa.
Từ cái kén của tâm trí, hay bóng ma của tâm trí, sinh ra Tâm trí Kitô. Cơ thể cuối cùng cần được sinh ra là Ý chí Kitô,33 cơ thể quý báu của Ý chí. Khi đạt đến những đỉnh cao này, con người mới có sự hiện hữu chân chính, vì họ đã hiện thể được hồn của mình. Sau khoảnh khắc này, họ có thể chuẩn bị để hiện thể Đấng Kitô nội tại.
Người nào chưa hiện thể được hồn thì chưa thực sự tồn tại. Họ chỉ là một quân đoàn của những cái tôi tranh giành lẫn nhau để thể hiện qua thân xác con người. Lúc thì là cái tôi rượu chè, lúc lại là cái tôi hút thuốc, cái tôi giết người, cái tôi trộm cắp, cái tôi yêu đương, v.v. Giữa những cái tôi này luôn là sự xung đột. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy nhiều người thề sẽ theo phong trào Gnosis nhưng rồi lại từ bỏ lời thề và tuyên bố mình là kẻ thù của Gnosis. Cái tôi từng thề trung thành với Gnosis bị thay thế bởi một cái tôi khác ghét bỏ Gnosis. Cái tôi từng thề sẽ yêu thương người vợ bị thay thế bởi một cái tôi khác khinh ghét cô ấy. Cái tôi là một quân đoàn quỷ dữ. Làm sao chúng ta có thể đặt niềm tin vào những nhà thấu thị chưa hiện thể được hồn? Người chưa hiện thể được hồn thì chưa có trách nhiệm đạo đức thực sự. Liệu chúng ta có thể đặt niềm tin vào quỷ dữ được không?
Các học trò Gnosis phải luôn cảnh giác với những người tự xưng là thấu thị và đi khắp nơi tiên tri cho người khác. Nhà thấu thị chân chính không bao giờ tự nhận mình là thấu thị. Các chân sư đã đạt đến điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn luôn vô cùng khiêm tốn và trầm lặng. Không một học trò huyền học nào là chân sư cả. Chỉ những ai đã đạt đến điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn mới là bậc chân sư đích thực. Trước khi đạt đến điểm đạo thứ năm của Đại Bí Ẩn, không ai được gọi là chân sư.
Bông hoa sen cuối cùng được khai mở là Thánh đường Lao-đi-xê, đóa sen ngàn cánh tỏa sáng rực rỡ trên đầu các vị thánh. Khi Kundalini lên đến tuyến tùng, bông hoa kỳ diệu này sẽ mở ra. Đây là con mắt đa nhãn thông, con mắt kim cương. Với năng lực này, chúng ta có thể nghiên cứu ký ức của tự nhiên. Đây là con mắt thiêng liêng của tâm linh. Khi ấy, con rắn thiêng thứ nhất di chuyển từ tuyến tùng đến con mắt trí tuệ nằm giữa hai chân mày, rồi đi vào từ trường ở gốc mũi. Khi nó chạm vào nguyên tử của Đức Cha ở nơi đó, học trò sẽ nhận được điểm đạo thứ nhất của Đại Bí Ẩn.
Không ai trở thành chân sư chỉ vì đã nhận được điểm đạo thứ nhất của Đại Bí Ẩn. Điều này chỉ có nghĩa là điểm đạo đồ đã bước vào con đường dẫn đến Niết Bàn. Học trò phải lần lượt đưa cả bảy con rắn đi lên.
Con rắn thứ hai thuộc về cơ thể khí lực, con rắn thứ ba thuộc về cơ thể cảm xúc, con rắn thứ tư thuộc về cơ thể tâm trí, và con rắn thứ năm thuộc về cơ thể căn nguyên. Con rắn thứ sáu và thứ bảy thuộc về hồn tỉnh thức và thần hồn. Mỗi con rắn tương ứng với một điểm đạo trong Đại Bí Ẩn. Có bảy con rắn, được chia thành hai nhóm ba con, và một con cuối cùng là lưỡi lửa thứ bảy trên ngôi cao tối thượng, giúp hợp nhất chúng ta với Nhất Thể, với Luật, với Đức Cha. Chúng ta phải khai mở bảy Thánh đường ở mỗi cõi trong tâm thức vũ trụ. Trong lễ điểm đạo, người học trò phải nhận dấu đóng đinh của Đấng Kitô. Mỗi cơ thể nội tại của họ phải được đóng lên thập giá và được in dấu thánh. Những dấu thánh này được ban cho mỗi người tương ứng với công đức của họ. Mỗi dấu thánh đều đi kèm với những thử thách huyền học riêng. Dấu thánh đầu tiên được đóng lên bàn tay, và học trò phải vượt qua những thử thách vô cùng đau đớn để nhận được dấu này.
Những viên đá quý cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong lễ điểm đạo. Kinh Khải Huyền nói rằng:
“Nền móng của tường thành được tô điểm bằng đủ mọi thứ đá quý. Nền thứ nhất bằng ngọc thạch anh, nền thứ hai bằng lam ngọc, nền thứ ba bằng ngọc mã não, nền thứ tư bằng bích ngọc, nền thứ năm bằng bạch ngọc, nền thứ sáu bằng ngọc hồng mã não, nền thứ bảy bằng kim lục thạch, nền thứ tám bằng lục ngọc, nền thứ chín bằng hoàng ngọc, nền thứ mười bằng ngọc phỉ thúy, nền thứ mười một bằng ngọc hồng bửu, nền thứ mười hai bằng ngọc tử bửu.” (Khải Huyền 21: 19-20)
“Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu tiên và cuối cùng. Người nào khát, Ta sẽ cho uống nước suối hằng sống miễn phí.” (Khải Huyền 21:6)
Tuy nhiên, rất ít người thực sự đạt đến điểm đạo cấp cao. Rất ít người có khả năng tiến xa đến mức hôn lên chiếc roi của tên đao phủ. Hôn lên bàn tay đã tấn công mình là điều vô cùng khó khăn, nhưng việc này là cấp thiết đối với những ai muốn đạt đến điểm đạo cấp cao.
Đức Kitô đã nói rằng:
“Trong một ngàn người tìm kiếm ta, chỉ có một người tìm được ta; trong một ngàn người tìm được ta, chỉ có một người theo ta; trong một ngàn người theo ta, chỉ có một người là [môn đồ thực sự] của ta.”
Điều nghiêm trọng nhất là có những người đã đọc rất nhiều sách huyền học và từng tham gia vào nhiều trường phái. Họ vô cùng kiêu ngạo về sự “thánh thiện” của mình. Họ tin rằng mình rất thánh thiện và khôn ngoan, ngay cả khi họ đang khoe khoang về sự khiêm nhường của mình. Những anh chị em đáng thương này thực ra còn xa bàn thờ điểm đạo hơn cả những người phàm tục. Ai muốn đạt đến điểm đạo cấp cao phải bắt đầu từ việc nhận ra mình là kẻ tội lỗi. Ai nhận ra được quỷ dữ trong mình thì đang đi trên con đường khai ngộ. Hãy nhớ rằng tội ác có thể ẩn mình ngay trong khói hương của lời cầu nguyện. Những người đọc quá nhiều sách vở sẽ thấy việc tự nhận ra này vô cùng khó khăn. Họ cảm thấy mình rất thánh thiện và trí tuệ. Khi thoáng có những khải tượng thấu thị thì thật là không thể chịu nổi bọn họ, bởi họ tự xưng là bậc chân sư minh triết. Đương nhiên, những người như vậy là ứng cử viên chắc chắn cho địa ngục và cái chết thứ hai. Địa ngục đầy rẫy những người lầm lẫn một cách chân thành và những người có ý định tốt đẹp.
Khi điểm đạo đồ đã dẫn một phần ngọn lửa sáng tạo của họ lên đến đỉnh đầu, họ ném vương miện của mình dưới chân Con Chiên. Thánh Giăng đã nhắc đến hai mươi bốn vị trưởng lão ném vương miện của mình dưới chân ngai vàng của Đức Chúa.34
Chương mười chín của Khải Huyền mô tả người kỵ sĩ với một dải băng trên đùi. Trên dải băng đó có các ký tự thiêng, ghi dòng chữ: “Vua của các Vua và Chúa tể của các Chúa tể.” Thực ra, nhà Vua không ngự trên trán mà ở trung tâm sinh dục. Rasputin, khi say rượu, đã đập dương vật của mình lên bàn tiệc trụy lạc và nói: “Đây là Vua của thế giới”.35
Phúc cho những cặp đôi biết cách yêu nhau. Bằng hành động tình dục, chúng ta khai mở bảy Thánh đường trong Khải Huyền và trở thành thánh thần. Bảy luân xa vang lên theo thần chú FE… UIN… DAGJ, một câu chú quyền năng của Ai Cập, trong đó âm cuối được phát ra từ yết hầu.36
Để hoàn thiện việc trở thành tư tế,37 việc rèn luyện với bảy Thánh đường một cách hoàn hảo nhất được thực hiện khi cơ thể ở trạng thái Jinn. Các pháp sư vĩ đại biết cách đưa cơ thể vào trạng thái Jinn, đó là cách họ thực thi trọn vẹn thiên chức tư tế của bảy Thánh đường.
Khi Chúa Giêsu đi trên biển, Ngài đã đưa cơ thể vào trạng thái Jinn. Trong trạng thái đó, chúng ta là những vị thần toàn năng.

Ở khu vực rốn có một luân xa bí ẩn được các pháp sư sử dụng để đi vào trạng thái Jinn. Khi một pháp sư đang xuất hồn ở rất xa cơ thể vật chất của mình, họ có thể sử dụng sức mạnh của luân xa đó bằng cách cầu xin Đức Cha nội tại như sau: “Chúa của con, Thượng Đế của con, con cầu xin Ngài hãy mang cơ thể của con đến đây.” Đức Cha nội tại có thể mang cơ thể vật chất đó đến cho pháp sư đang trong trạng thái Jinn, tức là trong cõi cảm xúc. Khi đó, luân xa bí ẩn của khoa học Jinn sẽ bắt đầu xoay chuyển.
Ai muốn học khoa học Jinn thì hãy nghiên cứu Cuốn Sách Vàng (The Yellow Book). Trong cuốn sách này, chúng tôi truyền dạy môn khoa học Jinn huyền bí.
Bảy Thánh đường ban cho chúng ta quyên năng chi phối lửa, khí, nước, và đất.
- Tham khảo sách “The Chakras” của C. W. Leadbeater. ↩︎
- Định luật Tam giác, hay luật bộ ba, đóng vai trò sáng tạo. Luật bộ bảy thì sắp xếp trật tự. Đọc thêm về Cây Sự Sống và mười sephirath ở trang https://gnosisvn.org/2023/05/03/cay-su-song/. ↩︎
- Trật tự (Tiếng Anh: cosmos – Thế giới, trật tự, hệ thống, vũ trụ). Trong huyền học, từ macrocosmos chỉ vũ trụ và microcosmos chỉ con người. ↩︎
- Bảy Thánh đường được Kinh Thánh tiếng Việt gọi là Bảy Hội Thánh:
“Vào ngày của Chúa, tôi được Thánh Linh cảm hóa và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn bảo rằng: ‘Hãy viết những điều con thấy vào một quyển sách và gửi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Pẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-xê.’”
(Khải Huyền 1:10-11) ↩︎ - Thánh được Ê-phê-sô còn được gọi là luân xa Muladhara. ↩︎
- “Nơi ba kênh nadi gặp nhau ở luân xa Muladhara được gọi là Mukta Triveni” – Swami Sivananda. Xem thêm: https://gnosisvn.org/2025/01/13/triveni/. ↩︎
- Chinh phục nguyên tố đất: Khi tập Samyama trên các nguyên tố, bắt đầu với loại thô và kết thúc với loại vô cùng vi tế, chúng ta chinh phục được các nguyên tố. (Patanjali Yoga Sutra 3.45, bản dịch của Swami Vivekananda) ↩︎
- Niềm vui của sáng tạo: Thánh đường Si-miệc-nơ với luân xa Swadhisthana hay là luân xa xương cùng quản lý sức mạnh tình dục. ↩︎
- Rộng khoảng bốn ngón tay: 2 ngón phía trước hậu môn, 2 ngón phía sau bộ phận sinh dục, và rộng khoảng bốn ngón tay: thế thì khoảng cách giữa bộ phận sinh dục và hậu môn phải khoảng 8 ngón. Rõ ràng thầy đang mô tả vị trí này trên cơ thể nam giới. ↩︎
- Tính dục song tính (tiếng Anh: intermediate sexuality): trạng thái tính dục không rõ ràng, nằm giữa nam và nữ. ↩︎
- Trong sách “Hell, the Devil, and Karma” thầy Samael nói như sau: “Không nghi ngờ gì nữa, sự đoán phạt vĩnh viễn không tồn tại, vì tất cả việc xử phạt, dù nghiêm trọng đến thế nào, vẫn phải có giới hạn; sau đó, hạnh phúc ngự trị. […] Sau khi chất liệu tâm lý đã khôi phục được trạng thái tinh khiết bằng Cái Chết Thứ Hai, tinh chất được giải phóng để khởi đầu lại một quá trình tiến hóa toàn diện. Vì thế cho nên chúng ta phản đối giáo pháp của sự đoán phạt vĩnh viễn tuyệt đối, điều đó là hiển nhiên và rõ ràng.” ↩︎
- Đa nhãn thông (tiếng Anh: Polyvoyance):
“Đa nhãn thông là nhãn thông với trực giác. Đó là sự toàn trí thần thánh.” (Samael Aun Weor – Hôn Nhân Hoàn Hảo – Chương 18).
“‘Con mắt khai mở’ là con mắt tâm linh nội tại của nhà tiên tri, và khả năng của nó không phải là thấu thị theo cách hiểu thông thường là “khả năng nhìn thấy từ xa”, mà nó là khả năng trực giác tâm linh. Với khả năng đó, chúng ta có thể nhận biết sự thật một cách trực tiếp.” (H. P. Blavatsky – The Secret Doctrine)
“Tuyến tùng là trung tâm của đa nhãn thông trực giác. Trong trái tim, trực giác hiện diện bằng linh cảm. Tuy nhiên, trong tuyến tùng, linh cảm đó được biến thành hình ảnh trực giác.” (Samael Aun Weor – Alchemy and Kabbalah in the Tarot). ↩︎ - Đạo (道) của người Trung Hoa cũng chính là Deus trong tiếng Latinh, Dieu trong tiếng Pháp, Theos trong tiếng Hy Lạp, Dios trong tiếng Tây Ban Nha, và cũng là Teotl trong tiếng Nahuatl của người Aztec. Tất cả các từ này đều có nghĩa là Chúa, Thượng Đế, thần thánh, v.v. “Đạo là bản thể, Đạo là INRI, Đạo là Đấng Kitô nội tại.” – Samael Aun Weor ↩︎
- Trung tâm xương cụt: “Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Ê-phê-sô rằng: Đây là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay phải, và đi giữa bảy chân đèn bằng vàng: ‘Ta biết các công việc của con, sự khó nhọc của con, sự kiên trì của con. Ta biết con không thể dung chịu những kẻ xấu, và đã thử những người tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, và con đã nhận ra rằng họ là những kẻ nói dối. Con kiên trì, chịu đựng vì danh Ta không chút mệt mỏi. Nhưng điều Ta trách con, ấy là con đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy, hãy nhớ lại con đã sa sút từ đâu! Hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với con và truất bỏ chân đèn của con khỏi chỗ nó. Tuy nhiên, con được điều nầy: Ấy là con ghét những công việc của nhóm Ni-cô-la, mà Ta cũng ghét nữa.’ Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống trong Pa-ra-đi của Đức Chúa Trời.’ (Kinh Khải Huyền 2:1-7) ↩︎
- Ê-đen, thanh gươm lửa: Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra. Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống. (Sáng Thế Ký 3:23-24) ↩︎
- ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn. Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”’ (Sáng Thế Ký 2:15-17) ↩︎
- Nâng niu phụ nữ – lúc thầy viết sách này ở Colombia năm 1950, hầu hết các đệ tử của thầy là đàn ông vì ở thời đó phụ nữ chưa được tự do nhiều như bây giờ. ↩︎
- Naassene là một giáo phái Gnosis cổ xưa. Trong tác phẩm “Refutation of All Heresies”, phần 5, chương 1, Hyppolytus cho biết rằng tên của giáo phái này xuất phát từ tiếng Do Thái: נָחָשׁ, phiên âm tiếng Việt: na-khash, có nghĩa là “con rắn”. Vì thế, tín đồ giáo phái này được gọi là “người thờ rắn”. ↩︎
- Rời khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ: Hãy tham khảo Xuất Ai Cập Ký, chương 14. Truyện này tượng trưng cho quá trình tu luyện phép luyện kim đan tình dục. ↩︎
- Huiracocha là pháp danh của tác giả Arnoldo Krumm-Heller ↩︎
- Cây gậy: “Vậy Môi-se làm một con rắn bằng đồng rồi treo lên một cây sào. Người nào bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng thì được sống.” (Dân Số Ký 21:9) ↩︎
- Khem: tên gọi cổ xưa của Ai Cập. Một số nhà sử học cho rằng đó là từ gốc của “chemistry” (hóa học), và “alchemy” (thuật luyện kim đan). ↩︎
- Đức Chúa toàn thiện: Ở bối cảnh này, Đức Chúa toàn thiện chỉ Chúa Giêsu. “Ta đã gọi con ta từ Ai Cập ra.” (Ma-thi-ơ 2:15) ↩︎
- Hãy tham khảo “La Prophétie de Cazotte” của Jean-François de La Harpe. ↩︎
- Áo của Nessus: Trong thần thoại Hy Lạp, Nessus là một con nhân mã đã bắt cóc Deianeira, vợ của Heracles. Heracles đuổi theo và bắn chết hắn bằng mũi tên tẩm nọc độc của Hydra. Trước khi chết, Nessus bảo Deianeira rằng chiếc áo thấm máu của hắn có phép thần kỳ, giúp người mặc luôn chung thủy với vợ. Tin lời, Deianeira mang áo về cho Heracles. Nhưng khi mặc vào, Heracles bị nhiễm độc từ máu của Nessus pha với nọc độc của Hydra và chết trong đau đớn. Hình ảnh này tượng trưng cho một món quà chết người, một tai họa không thể tránh khỏi. ↩︎
- Hydro, carbon ở mặt trời: Ở thời điểm viết sách này (1950) học thuyết vật lý về sự hợp hạt (fusion) trong mặt trời vẫn còn mới. Theo học thuyết mới nhất, carbon chỉ bao gồm 0.29% khối lượng của mặt trời cho nên sự kết hợp hóa học của hydro và carbon mặc dù có xảy ra nhưng không phải là nguồn gốc chính của ánh sáng mặt trời. ↩︎
- Lũ chim ô uế và đáng ghét: “Vị thiên sứ đó cất tiếng dõng dạc nói rằng, ‘Ðã sụp đổ rồi! Ba-by-lon vĩ đại đã sụp đổ rồi! Nó đã trở thành nơi trú ngụ của các quỷ, nơi mà mọi tà thần cùng mọi loài chim ô uế và đáng ghét ẩn nấp!’”
(Khải Huyền 18:2) ↩︎ - Quân đoàn: “Sau đó họ đến bờ biển bên kia, vào miền Ghê-ra-sê-nê. Vừa khi Ngài bước ra khỏi thuyền, một người bị tà linh ô uế nhập từ nghĩa địa ra đón Ngài. Ông sống giữa các mồ mả. Không ai có thể kiềm chế ông, ngay cả xiềng xích cũng vô dụng đối với ông, vì ông thường bị cùm và bị xiềng, nhưng ông đã bứt xiềng và bẻ cùm, và không ai đủ sức để chế ngự ông. Ngày đêm ông ở giữa các mồ mả và trên núi; ông thường gào rú và lấy đá đập vào mình. Khi thấy Ðức Chúa Jesus ở đàng xa, ông chạy đến, sấp mình xuống trước mặt Ngài, và nói lớn tiếng,
“Lạy Ðức Chúa Jesus, Con Ðức Chúa Trời Tối Cao, Ngài định làm gì với tôi? Tôi nhân danh Ðức Chúa Trời van xin Ngài đừng hành hạ tôi.”
Số là Ngài đã nói với ông, “Hỡi tà linh ô uế, hãy ra khỏi người nầy.”
Ngài hỏi ông, “Ngươi tên chi?” Ông đáp, “Tôi tên là ‘Quân Đoàn,’ vì chúng tôi rất đông.”
(Mác 5:1-20) ↩︎ - Cây đèn: “Vậy hãy nhớ lại, xem ngươi đã sa ngã từ đâu, hãy ăn năn, và làm lại những việc ngươi đã làm lúc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với ngươi và cất cây đèn của ngươi khỏi chỗ của nó.” (Khải Huyền 2:5) ↩︎
- Phép thuật Thực tiễn (tiếng Anh: Practical Magic): Từ “thực tiễn” ở đây chỉ các loại phép như phép chữa bệnh, xuất hồn trong cơ thể cảm xúc, ra lệnh cho các tinh linh của bốn nguyên tố, v.v. Ngoài phép thuật thực tiễn, có những chuyên ngành phép thuật khác như Phép thuật Nghi lễ (tiếng Anh: Ceremonial Magic). Lễ Mi-sa của nhà thờ Công giáo là một ví dụ rất phổ biến của Phép thuật Nghi lễ. ↩︎
- Thấu thính, hay là thiên nhĩ thông: tiếng Nam Phạn là dibba-sota; nghĩa là khả năng nghe siêu việt. ↩︎
- Là bản thể: Trong tiếng Tây Ban Nha từ “Ser” (động từ) có nghĩa là tồn tại, và “Ser” (danh từ) là bản thể. Ở đoạn này thầy kết hợp cả hai ý nghĩa trong một. ↩︎
- Ý chí Kitô: Ở đoạn này thầy đang nói về ba cơ thể vi tế bao gồm: cơ thể cảm xúc, cơ thể tư tưởng, và cơ thể căn nguyên hay còn gọi là cơ thể ý chí. Khi được sinh ra, ai cũng có ba cơ thể này nhưng chúng chưa được tổ chức lại, kết tinh, Kitô hoá. Khi chưa được sắp xếp thì các cơ thể này được gọi là âm thân. Sau khi đã được Kitô-hoá thì chúng được gọi là dương thân. Cơ thể cảm xúc âm chính là cơ thể mọi người sử dụng khi mơ. Việc xuất hồn trong cơ thể cảm xúc tương đối dễ cho nên rất nhiều người có kinh nghiệm về nó. Những gì nhìn thấy khi xuất hồn trong cơ thể cảm xúc mang tính tượng trưng giống như giấc mơ, vì vậy chúng ta phải phân tích ý nghĩa thì mới hiểu được các trải nghiệm trong cõi cảm xúc. Xuất hồn trong cơ thể tư tưởng và cơ thể ý chí khó hơn nhiều, vì vậy ít người đã trải nghiệm trực tiếp hai cơ thể này. Những trải nghiệm xuất hồn trong cơ thể tư tưởng thường rõ ý nghĩa hơn và chính xác hơn so với cơ thể cảm xúc. ↩︎
- Ném vương miện của mình dưới chân Con Chiên:
“Hễ khi nào các sinh vật ấy tôn vinh, tôn kính và cảm tạ đấng ngồi trên ngai, là đấng sống muôn đời bất tận, thì trưởng lão sấp mình xuống thờ phượng đấng ngồi trên ngai, là đấng sống muôn đời bất tận.
Họ ném vương miện mình xuống trước ngai mà nói rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, ngài xứng đáng nhận sự vinh hiển, tôn kính và quyền năng, vì ngài đã tạo nên muôn vật, và bởi ý muốn ngài mà muôn vật hiện hữu và được tạo nên”.
(Khải Huyền 4:9-11) ↩︎ - Rasputin: Trong sách “The Mystery of the Golden Flower” thầy Samael giải thích rằng Rasputin là một phù thủy đen. Ông đã hiểu sức mạnh của khí lực tính dục và áp dụng nó để làm các loại phép độc ác. ↩︎
- Hướng dẫn tập niệm thần chú: Hãy nằm hoặc ngồi với cơ thể trong tư thế thoải mái, thả lỏng và dễ tập trung. Nếu bạn dễ buồn ngủ hoặc mất tập trung khi nằm, hãy chọn tư thế ngồi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng. Đọc to từng âm của câu thần chú, phát âm chậm rãi, kéo dài các nguyên âm. Khi thở ra, kéo dài mỗi nguyên âm cho đến khi hết hơi, tập trung vào cảm giác rung động trong cơ thể. Hãy chú ý đến những luân xa bạn muốn phát triển. Tiếp tục kết hợp câu thần chú với hơi thở trong khoảng 10 đến 60 phút. Thường thì học trò cần thực hành hàng ngày trong vài tháng mới cảm nhận được hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi khuyên bạn nên chọn một bài tập và thực hành đều đặn mỗi ngày trong sáu tháng, không bỏ sót ngày nào. ↩︎
- “Chức tư tế” hàm ý quyền lực ra lệnh cho các nguyên tố: lửa, nước, khí và đất. ↩︎
