Nhân Mã

✏ Tác giả: Samael Aun Weor, 📖  Esoteric Treatise of Hermetic Astrology

Trong số tất cả những nhà luyện kim đan và những tu sĩ thành tựu từng rèn luyện trong phòng thí nghiệm của phép luyện kim đan tình dục, nổi bật có Basil Valentine, Ripley, Roger Bacon, v.v.

Rõ ràng là những nhà hiền triết đó đã làm tan rã được cái Tôi âm và coi thường sự phù phiếm của thế giới này, chỉ có họ mới thực sự thành công trong công cuộc tìm tòi của mình.

Từ Geber đến Công tước Cagliostro bí ẩn và uy quyền, người đã chuyển hóa chì thành vàng và chế tạo ra những viên kim cương có chất lượng đỉnh cao, đã có hàng loạt các nhà luyện kim đan và những nhà nghiên cứu về Hòn đá Triết học (tình dục).

Nhà luyện kim đan trong công cuộc tìm kiếm hòn đá triết học. Tranh minh hoạ của Joseph Wright, 1771

Nicholas Flamel là một cái tên vẫn gây nhiều tranh cãi. Một số người cho rằng lúc sinh thời ông đã không đạt được mục tiêu khó khăn đó, vì ông đã từ chối tiết lộ bí mật của mình cho nhà Vua. Ông đã bị nhốt và qua đời trong nhà ngục Bastille đáng sợ. Thành thật mà nói, chúng tôi tin chắc rằng nhà luyện kim vĩ đại Nicholas Flamel đã thành công chuyển hoá tất cả chì trong tính cách của mình thành vàng kỳ diệu của tâm linh.

Trevisan, ngài Trevisan nổi tiếng, đã dành toàn bộ tài sản của mình để tìm kiếm Hòn đá Triết học và cuối cùng cũng khám phá được bí mật này vào tuổi bảy mươi lăm, nhưng đã quá muộn. Hòn đá Triết học này chính là tình dục, và bí mật chính là Maithuna, Phép Tình Dục. Trevisan tội nghiệp, mặc dù ông có một trí tuệ đáng nể nhưng lại chỉ khám phá ra bí mật này khi đã về già.

Paracelsus là học trò của Trithemius. Ông cũng là một nhà luyện kim đan và là một bác sĩ vĩ đại. Ông đã biết bí mật của Hòn đá Triết học, đã biến chì thành vàng và đã thực hiện những liệu pháp chữa trị đáng kinh ngạc. Nhiều người cho rằng Paracelsus đã chết bất đắc kỳ tử, bị ám sát hoặc tự sát, vì ông đã hé lộ một phần của những Bí Ẩn. Tuy nhiên, Paracelsus thực ra đã biến mất mà không ai biết bằng cách nào và vì lý do gì. Tất cả chúng ta đều biết rằng Paracelsus đã có được thứ được gọi là Thuốc Trường Sinh, và với thần dược đó ông ta vẫn duy trì sự sống; ông vẫn sống trong cái thân xác từ thời Trung Cổ của mình.

Bác sĩ nổi tiếng J. Dee đã tìm kiếm Hòn đá Triết học và chưa bao giờ tìm thấy nó. Nhưng ông đã bị chôn vùi trong nỗi khốn khổ đáng sợ nhất. Trong những năm cuối đời, vị bác sĩ tội nghiệp (bị thoái hóa khủng khiếp với thuật lên đồng) đã trở thành một món đồ chơi của những vong linh thấp kém sống trong Thế giới Phân tử.

Seton đã bị bỏ tù vì từ chối tiết lộ bí mật của Hòn đá Triết học. Tiến sĩ Prise thuộc Hiệp hội Hoàng gia London đã thành công trong việc chuyển đổi chì vật chất thành vàng vật chất. Tuy nhiên, khi muốn lặp lại thí nghiệm đó trước các đồng nghiệp của mình thì ông lại thất bại và sau đó ông đã tự sát vì quá hổ thẹn và tuyệt vọng.

Delisle, nhà luyện kim đan vĩ đại, cũng đã bị bỏ tù vì những lý do tương tự. Ông đã bị bọn cai ngục giết chết trong khi cố gắng trốn thoát khỏi ngục tối khủng khiếp nơi ông đã bị giam cầm.

Tất cả những thất bại này và hàng trăm trường hợp khác nữa nói lên rằng huyền học thực tiễn chân chính và những phép thần thông kỳ diệu của nó đòi hỏi một sự nghiêm túc kinh khủng nhất, mà nếu không có nó thì ta không thể đối mặt với những mối nguy hiểm trong phép luyện kim đan và phép thuật.

Trong thời buổi này, nói về đạo đức là một điều rất khó, bởi vì thế giới đầy rẫy những người ngu ngốc tỏ ra mộ đạo, những người tự cho mình là thánh.

Trong khi trò chuyện với chúng tôi ở miền Đông Tây Tạng, vị Đạo sư Morya vĩ đại của [tia sáng] sức mạnh đã nói: “Việc hợp nhất với Bản thể sâu thẳm nhất là rất khó. Trong số những người đã cố gắng hợp nhất với Bản thể sâu thẳm nhất, cứ hai người thì chỉ có một người đạt được mà thôi. Bởi như nhà thơ Guillermo Valencia đã nói, giữa những vần thơ có che giấu cả tội lỗi.”

Tội nhân cải trang thành một vị thánh, một người tử vì đạo, một tông đồ. Hàng triệu người thích văn học huyền bí tự nhận mình có đặc tính thần thánh; họ không ăn thịt, không hút thuốc, không uống rượu, nhưng ở nhà họ lại gây gổ với vợ/chồng mình, họ đánh đập con cái, tà dâm, ngoại tình, trốn nợ, hứa hão, v.v.

Trong thế giới vật chất, nhiều người đã đạt đến sự khiết tịnh tuyệt đối, nhưng khi bị thử thách ở thế giới nội tâm thì họ lại trở thành những kẻ tà dâm ghê tởm.

Có nhiều tín đồ đi theo con đường này, những người trong thế giới vật chất không bao giờ uống một chén rượu nào, nhưng khi bị thử thách trong thế giới nội tâm thì lại trở thành những con sâu rượu bí tỉ.

Có nhiều tín đồ đi theo con đường này, những người trong thế giới vật chất là những con cừu ngoan ngoãn, nhưng khi bị thử thách trong thế giới nội tâm thì lại trở thành loài hổ báo.

Có nhiều tín đồ đi theo con đường này, tuy không thèm khát tiền bạc nhưng lại thèm khát các siêu năng lực.

Trên thế giới, có rất nhiều tín đồ mà sự khiêm tốn của họ làm mọi người kinh ngạc. Họ có thể ngủ yên lành trên mặt đất trước cửa nhà một người giàu có, họ bằng lòng với những vụn bánh mì rơi từ trên bàn ăn của chủ nhân, nhưng họ lại tự hào rằng mình sở hữu những phẩm hạnh tốt đẹp hoặc khoe khoang về sự khiêm tốn của mình.

Nhiều người đã khao khát có được sự thần thánh khi họ biết được rằng có nhiều vị thánh đích thực tồn tại. Nhiều người ghen tị với đạo đức thần thánh của người khác và do đó cũng muốn trở thành những vị thánh.

Nhiều người không rèn luyện để làm tan rã cái Tôi âm, đơn thuần chỉ vì tâm lý lười biếng.

Vô số người khao khát đến với Ánh sáng nhưng họ lại ăn đến ba bữa tiệc một ngày; họ là những kẻ tham ăn kinh khủng.

Nhiều người không phàn nàn ra miệng nhưng họ vẫn phàn nàn trong tâm trí, thế nhưng họ vẫn tin rằng mình không bao giờ phàn nàn.

Hiếm hoi là những người tu hành biết vâng lời Cha – Đức Cha nơi bí ẩn.

Muốn nói thật, nhưng hầu hết học trò huyền học lại đều nói dối; họ có cái lưỡi dối trá. Họ khẳng định những điều mình chưa bao giờ trải nghiệm, và đó là sự dối trá.

Ngày nay, việc làm chứng gian dối ngày càng phổ biến và nhiều học trò huyền học làm như vậy mà không biết rằng họ đang phạm tội.

Những người chạy theo hư danh cũng cải trang mình trong vẻ rách rưới. Có nhiều người tu hành mà ăn mặc tồi tàn và đi trên phố trong vẻ ngoài rách rưới, nhưng tâm kiêu ngạo vẫn toát ra qua từng lỗ thủng trên quần áo của họ.

Vô số người tu hành vẫn chưa từ bỏ được lòng tự ái, họ quá yêu bản thân mình và đau khổ khôn xiết khi bị ai đó làm mất mặt.

Vô số người tu hành còn đầy rẫy những suy nghĩ xấu xa. Họ vẫn chưa học được cách kiểm soát tâm trí của mình, mà vẫn tin rằng mình đang làm rất tốt.

Trong vô số những nhà giả huyền học và giả huyền bí, nếu không hám tiền thì họ cũng tham lam kiến thức và các giáo lý. Họ đã không thể vượt lên nổi được tính tham lam.

Hàng nghìn người tu hành vẫn mang trong mình sự trần tục, ngay cả khi họ không bao giờ tham dự một buổi khiêu vũ hay một bữa tiệc nào cả.

Nhiều tín đồ của con đường này đã không thể bỏ được tính trộm cắp. Họ lấy trộm những cuốn sách, họ vào các trường phái huyền học để lấy đi một thứ gì đó, kể cả là các lý thuyết, các bí mật; họ giả vờ trung thành trong khi thực hiện hành vi trộm cắp của mình và rồi mất hút.

Vô số kẻ mộ đạo nói lời không hay, có người chỉ nói thầm những lời đó trong đầu ngay cả khi miệng họ thốt ra những lời đường mật.

Nhiều người đạo đức mà lại tàn nhẫn với người khác. Chúng ta đã biết về trường hợp một người [mang tiếng là] đạo đức đã nói những lời khó nghe làm tổn thương một người cùng khổ. Con người khốn khổ kia đang đói khát, và vì là một thi sĩ nên anh ta đã sáng tác một đoạn thơ cho người đạo đức kia, với mục đích kiếm được vài đồng. Kết quả thật nghiêm trọng: người đàn ông đạo đức, tự cho mình là giản dị và khiêm nhường, đã xúc phạm người đói khát kia.

Ở một số trường phái, hàng loạt người tu hành trên đường tìm ánh sáng bị các ông thầy xúc phạm và làm nhục một cách tàn nhẫn.

Có nhiều người có khả năng làm mọi điều trong cuộc sống ngoại trừ việc giết người, nhưng họ lại giết người khác bằng lời nói mỉa mai, bằng hành động xấu xa, bằng tiếng cười nhạo sát thương, bằng lời lẽ cay nghiệt.

Nhiều người chồng đã giết vợ bằng những hành động độc ác, bằng lối cư xử tệ bạc, sự ghen tuông lồng lộn, sự vô ơn bạc nghĩa, v.v.

Nhiều người vợ đã giết chồng bằng tính khí tồi tệ của mình, bằng sự ghen tuông ngu xuẩn, bằng những yêu cầu ích kỷ đối với chồng, v.v.

Chúng ta không được quên rằng mọi bệnh tật đều xuất phát từ tâm. Những lời lăng mạ, mỉa mai, những tiếng cười công kích chói tai, những lời ác ý, chúng đều nhằm gây ra tổn thương, bệnh tật, giết người, v.v. Nhiều ông bố bà mẹ trong các gia đình lẽ ra đã có thể sống lâu hơn một chút, nếu con cái không hành hạ họ.

Hầu hết mọi người, một cách vô thức, đều là kẻ nghịch tử giết mẹ giết cha, giết anh em, giết chồng giết vợ, v.v.

Những học trò của huyền học thiếu mất lòng trắc ẩn; họ không có khả năng hy sinh bản thân cho những đồng loại đang đau khổ và khóc than.

Có cả hàng ngàn người tu hành nhưng không có lòng nhân ái thực sự. Họ cho rằng mình nhân hậu, nhưng khi chúng ta kêu gọi họ đấu tranh để thiết lập một trật tự xã hội mới trên thế giới thì họ lại kinh hãi bỏ chạy, hoặc biện hộ rằng luật nhân quả và luật tiến hóa sẽ giải quyết mọi thứ.

Độc ác và tàn nhẫn là những người tu hành trên con đường tìm ánh sáng. Họ nói rằng mình yêu thương người khác nhưng họ không có tình yêu. Họ rao giảng lòng nhân ái nhưng họ lại không thực hành theo.

Cung Nhân Mã làm cho chúng ta suy ngẫm về tất cả những điều này. Biểu tượng của cung Nhân Mã là một người đàn ông nửa người nửa ngựa, cầm trên tay một mũi tên.

Tranh vẽ Nhân Mã trên chất liệu sơn dầu, Iran, thế kỷ 19

Con ngựa đại diện cho cái Tôi thú vật, cái Tôi đa nguyên, được bọc lốt bởi các Âm thân của nó.

Cái Tôi không phải là một cái gì đó riêng lẻ; cái Tôi không phải là đơn vị hợp nhất. Cái Tôi là đa nguyên. Cái Tôi âm được cấu thành bởi vô số cái Tôi nhỏ lẻ. Mỗi cái Tôi nhỏ lẻ ấy nhân cách hoá cho từng khiếm khuyết tâm lý. Còn cái Tôi đa nguyên nhân cách hoá tổng thể tất cả các khiếm khuyết của chúng ta.

Vấn đề quan trọng nhất mà tất cả những người được sinh ra lần thứ hai phải giải quyết, đó là làm tan rã cái Tôi âm.

Vị Đạo sư mới sinh ra được bao bọc bởi các Dương thân của mình, nhưng cái Tôi của vị ấy thì lại được bao bọc bởi các Âm thân.

Bước trên con đường bên phải là các vị Đạo sư tu tập để làm tan rã cái Tôi âm. Còn trên con đường bên trái là những người không quan tâm đến việc làm tan rã cái Tôi âm.

Những vị Đạo sư không làm tan rã cái Tôi âm thì trở thành Hasnamuss. Một Hasnamuss là một người có hai trọng tâm.

Các vị Đạo sư được Dương thân bao bọc, còn cái Tôi âm thì được các phương tiện Âm bao bọc lấy, điều này tạo thành một tính cách kép, một Hasnamuss.

Một nửa của Hasnamuss là thiên thần và một nửa còn lại là thú vật, giống như con Nhân Mã.

Hasnamuss có hai tính cách bên trong, một của thiên thần và một của ác quỷ.

Hasnamuss là một cái thai non của Đức Mẹ Vũ trụ, một sự thất bại. Nếu người học trò Gnosis làm tan rã được cái Tôi âm trước khi sinh ra lần thứ hai thì sẽ được khỏe mạnh lành lặn. Người đó sẽ giải quyết được vấn đề của mình trước thời hạn và đảm bảo được thành công.

Khi một người triệu hồi Andrameleck trong các thế giới nội tâm đều sẽ gặp một bất ngờ kinh khủng nhất, bởi vì họ có thể gặp được quỷ Andrameleck hoặc đạo sư Andrameleck của Bạch Hội Quán. Người này là một hasnamuss với hai trọng tâm.

Việc làm tan rã cái Tôi âm là cơ bản trong công cuộc rèn luyện vĩ đại. Những người được sinh ra lần thứ hai sẽ thấy cần phải loại bỏ các Âm thân. Tuy nhiên, nếu chưa làm tan rã được cái Tôi âm thì sẽ không thể loại bỏ các Âm thân được.

Sự phát triển nội tâm của những người được sinh ra lần thứ hai sẽ bị đình trệ khi họ thiếu đi tình yêu thương.

Người nào quên mất Đức Mẹ Thiêng Liêng đều sẽ bị trì trệ trong tiến trình của mình. Khi chúng ta mắc sai lầm là quên đi Đức Mẹ của mình, chúng ta sẽ bị thiếu mất tình yêu.

Nếu không có sự giúp đỡ của Đức Mẹ, ta sẽ không thể loại bỏ tất cả những cái Tôi nhỏ lẻ cấu thành nên cái Tôi âm.

Khi một người muốn loại bỏ cái Tôi nhỏ lẻ nhân cách hoá một khiếm khuyết nào đó thì việc hiểu rõ khiếm khuyết ấy là cơ bản và tuyệt đối cần thiết. Tuy nhiên, việc loại bỏ cái Tôi ấy sẽ là bất khả thi nếu không có sự trợ giúp của con Bò năm chân linh thiêng.

Đức Mẹ Thần Thánh loại bỏ những cái chai đã vỡ. Mỗi cái Tôi nhỏ lẻ là một cái chai giam giữ một phần Phật tính ở trong nó.

Điều này có nghĩa là Tinh Chất, Phật tính, Tâm Hồn, hoặc một phần của Nhân Hồn mà mọi động vật trí năng đều có, đã bị phân tán thành hàng nghìn mảnh vụn và bị giam giữ.

Ví dụ: Sự tức giận được thể hiện bằng hàng trăm hoặc hàng nghìn cái Tôi. Mỗi cái Tôi là một cái chai giam giữ Phật tính trong đó. Mỗi cái chai tương ứng với một mảnh của Phật tính. Tất cả những cái chai, những cái Tôi của sự giận dữ đó, chúng sống trong từng vùng hoặc từng khu vực trong số bốn mươi chín vùng của tiềm thức. Khi ta hiểu được sự tức giận trong bất kỳ một vùng nào của Tiềm thức thì có nghĩa là ta đã đập vỡ được một cái chai; và rồi phần Phật tính tương ứng sẽ được giải phóng. Khi đó, Đức Mẹ sẽ can thiệp bằng cách tiêu huỷ cái chai vỡ, cái xác của cái Tôi nhỏ lẻ đã vỡ vụn. Mỗi cái xác ấy không còn chứa đựng mảnh Tâm hồn mà nó đã từng giam giữ, và cái xác ấy sẽ dần bị phân hủy trong các hoả ngục.

Ta cần biết rằng Đức Mẹ chỉ can thiệp khi cái chai đã vỡ, khi Phật tính bị kìm giữ bên trong đó đã được giải phóng. Nếu Đức Mẹ loại bỏ một cái chai còn chứa vị thần bé nhỏ bên trong, thì vị thần bé nhỏ tội nghiệp, hay nói cách khác là một phần nhỏ của Tâm Hồn, cũng sẽ bị đưa đến các cõi hoả ngục.

Sau khi tất cả các cái chai đã bị đập vỡ rồi thì toàn thể Phật tính được giải phóng và Đức Mẹ Thiêng Liêng sẽ dốc sức loại bỏ các xác chết.

Khi một người hiểu rõ được sự tức giận trong hai mươi hay ba mươi vùng của tiềm thức thì không có nghĩa là người đó đã hiểu thấu nó ở cả bốn mươi chín cấp độ.

Thấu hiểu được sự tức giận ở cấp độ ba hoặc bốn có nghĩa là người ta đập vỡ, phá tan được một cái chai ở cấp độ ba hoặc bốn. Tuy nhiên, nhiều cái Tôi của sự tức giận, nhiều cái chai khác, vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong tất cả các cấp độ khác của tiềm thức.

Mỗi khiếm khuyết hoạt động ở từng vùng trong số bốn mươi chín vùng của tiềm thức và nó có nhiều gốc rễ.

Giận dữ, tham lam, dục vọng, ghen tị, kiêu ngạo, lười biếng, háu ăn, có hàng nghìn cái chai, hàng nghìn cái Tôi nhỏ đang giam giữ Tinh chất ở bên trong.

Khi cái Tôi đa nguyên bị tiêu diệt và loại bỏ, Tinh chất được hợp nhất với Bản thể, với Phần Sâu Thẳm Nhất. Các âm thân sẽ bị loại bỏ khi người ta ở trong một trạng thái nhập định thần bí kéo dài ba ngày. Sau ba ngày này, vị đạo sư sẽ được bao bọc bởi các Dương thân của mình và sẽ quay lại, trở lại trong cơ thể vật chất của mình. Đây là sự Phục sinh Điểm đạo.

Mọi vị đạo sư phục sinh đều có các Dương thân và không còn Âm thân. Các vị đạo sư phục sinh có siêu năng lực điều khiển đất, nước, gió và lửa.

Các vị đạo sư phục sinh có thể biến đổi chì vật chất thành vàng vật chất.

Các vị đạo sư phục sinh cai quản sự sống và cái chết. Họ có thể duy trì cơ thể vật chất trong hàng triệu năm. Họ biết giải bài toán cầu phương hình tròn và biết sự chuyển động vĩnh cửu. Họ có thuốc trị bách bệnh và nói thứ ngôn ngữ thần thánh vô cùng thuần khiết, thứ ngôn ngữ tuôn chảy mượt mà như một dòng sông vàng óng dưới ánh mặt trời chảy qua một khu rừng rậm rạp.

Người nào đang chết đi trong từng khoảnh khắc là người ấy đang phải trải qua hàng nghìn bài thử thách huyền học ở từng cấp độ trong bốn mươi chín cấp độ tiềm thức của Yaldabaoth. Nhiều điểm đạo đồ đã thành công ở một vài cấp độ hoặc một vài vùng của tiềm thức, rồi lại thất bại ở những cấp độ khác trong một số bài thử thách liên quan đến một khiếm khuyết tâm lý cụ thể nào đó.

Đức Mẹ Thiêng Liêng luôn giúp chúng ta thấu hiểu khi chúng ta kêu cầu Người, khi chúng ta kêu cầu ngọn lửa của con rắn [1].

[1] Con rắn ở đây là Kundalini. Đó chính là Đức Mẹ Thiêng Liêng của chúng ta.

Đức Mẹ Thiêng Liêng cầu nguyện đến Bạch Hội Quán cho chúng ta, và loại bỏ từng cái Tôi đã chết.

Đức Mẹ Thiêng Liêng, con bò năm chân linh thiêng, là Mẹ Không Gian, Mẹ của Đơn Tử tâm linh, người ẩn náu trong Hư Vô – Toàn Thể vĩnh hằng của Đức Cha tối cao, trong Tĩnh Lặng Tuyệt Đối và Bóng Tối Tuyệt Đối.

Lý do chúng ta có Tia Mẫu Tử riêng biệt, Đức Mẹ Thiêng Liêng của riêng chúng ta, chính là vì bản thân Người là Mẹ của Bản thể Nội tâm, ẩn giấu bên trong Đơn tử, là một với Đơn tử.

Đối với người Hy lạp thì Artemis Loquia hay Neiter là mặt trăng trên bầu trời, và Diana thuần khiết chính là Đức Mẹ Thiêng Liêng trên trái đất cai quản sự ra đời và sự sống của đứa trẻ. Đối với người Ai Cập thì Đức Mẹ Thiêng Liêng là Hekate ở hoả ngục, nữ thần của cái chết có quyền năng điều khiển các bùa chú và phép thuật thần thánh.

Đức Mẹ Thiêng liêng là Isis, Người là Ceres trong các trường phái huyền học của Eleusis, là nữ thần Venus trên trời: vào buổi bình minh của thế giới, Người đã khởi tạo sự hấp dẫn giữa hai giới tính đối lập và gieo mầm khả năng sinh sản vĩnh cửu cho các thế hệ loài người.

Người là Proserpina, là người tru lên vào ban đêm, là người có ba hình tướng – thiên đường, trần thế và địa ngục – người áp chế những con quỷ khủng khiếp của địa ngục, giữ cho những cánh cửa nhà tù dưới lòng đất luôn đóng kín, và dạo qua những khu rừng thiêng trong chiến thắng lừng lẫy.

Cai quản dòng sông Styx [2], Người tỏa sáng ngay giữa bóng tối của dòng sông Acheron, cũng như trên Trái đất và trên những cánh đồng Elysium [2].

[2] Trong thần thoại Hy lạp, Styx và Acheron là hai dòng sông trong địa ngục và cánh đồng Elysium là thiên đàng. Câu này nhấn mạnh rằng đức Mẹ tồn tại và có sức mạnh ở cõi địa ngục, cõi vật chất, và cõi trời.

Do một sai lầm của một vài vị thần thời cổ đại, loài động vật trí năng đáng thương đã nhận phải cơ quan Kundabuffer[3] ghê tởm. Cơ quan này là cái đuôi của Satan, là ngọn lửa tình dục hướng xuống dưới, hướng đến các Địa ngục cấp nguyên tử của cái Tôi âm.

[3] Cơ quan Kundabuffer – cụm từ này xuất phát từ tác phẩm “Beelzebub’s Tales to his Grandson” của G. I. Gurdjieff. Samael Aun Weor giải thích về quan điểm của trường phái Gnosis trong sách “The Elimination of Satan’s Tail”. Gurdjieff bảo rằng tổ tiên cổ xưa của con người đã có một cái đuôi tiếp nối từ gốc của cột sống, giống như các loại con vật khác. Cái đuôi được gọi là cơ quan Kundabuffer. Ở thời mà H.P. Blavatsky gọi là Lemuria, cơ quan Kundabuffer là cần thiết để ổn định tâm lý của loài người và kết nối tâm trí với cõi vật chất. Sau một thời gian, các thiên thần (hay còn gọi là các vị Phật) giám sát quá trình phát triển của loài người trên Trái Đất đã tạo điều kiện để cơ quan Kundabuffer tan biến. Từ đó loài người không có đuôi nữa. Đến bây giờ, mặc dù cơ quan Kundabuffer không còn ở cơ thể vật chất nữa nhưng hầu hết chúng ta vẫn còn cái đuôi ở trên cơ thể cảm xúc. Cái đuôi do đó vẫn ảnh hưởng đến tâm lý và đến cách cơ thể xử lý khí lực. Cụ thể là cơ quan Kundabuffer kết nối cơ thể khí lực của chúng ta với Trái Đất và làm cho tâm trí hướng tới những ham muốn liên quan đến dục vọng và vật chất.

Tuy động vật trí năng đã mất đi cơ quan Kundabuffer, nhưng những hậu quả tai ác vẫn còn để lại trong mỗi người. Những hậu quả tai ác này được tạo nên bởi cái Tôi đa nguyên, cái Tôi âm.

Trên cơ sở thấu hiểu sâu sắc và thiền sâu trong nội tâm, cùng với sự giúp đỡ của Đức Mẹ Thiêng liêng, chúng ta có thể và cần phải loại bỏ trong chính mình những hậu quả xấu xa mà cơ quan Kundabuffer gớm ghiếc đã để lại.

Trước kia, loài người đã từng không muốn sống trong thế giới này. Họ đã nhận ra tình cảnh bi đát của mình. Một số vị thần thánh đã gắn cho loài người cơ quan Kundabuffer gớm ghiếc để con người bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của thế giới này. Kết quả là loài người bị thế giới [vật chất] thôi miên.

Khi những vị thần thánh ấy loại bỏ bộ phận Kundabuffer khỏi loài người, những hậu quả tồi tệ vẫn tồn đọng lại trong mỗi con người.

Với sự giúp đỡ của Đức Mẹ Thiêng liêng, chúng ta có thể loại bỏ những hậu quả tai ác của cơ quan Kundabuffer gớm ghiếc đó.

Cung Nhân Mã với hình tượng đầu người mình ngựa nổi tiếng, nửa người nửa thú, là một điều ta không bao giờ được quên.

Nhân Mã ngự trị trong ngôi nhà của sao Mộc. Kim loại của Nhân Mã là thiếc. Loại đá là sapphire xanh.

Thực tế, chúng tôi đã xác minh được rằng người thuộc cung Nhân Mã tà dâm rất nhiều và rất đam mê tình dục.

Người thuộc cung Nhân Mã thích những cuộc hành trình, khám phá, phiêu lưu, và thể thao.

Người cung Nhân Mã dễ nổi nóng rồi sau đó lại tha thứ.

Người cung Nhân Mã rất thông tuệ. Họ yêu những bài nhạc hay và sở hữu trí thông minh tuyệt vời.

Người Nhân Mã rất ngoan cường; ngay khi tưởng như họ chắc chắn đã thất bại thì họ lại trỗi dậy từ đống tro tàn của mình, như loài phượng hoàng trong thần thoại, khiến cho tất cả bạn bè và kẻ thù của họ phải kinh ngạc.

Người cung Nhân Mã có khả năng bắt tay vào làm những công việc vĩ đại, ngay cả khi họ đang bị những nguy hiểm khôn lường bủa vây.

Đôi khi người Nhân Mã có tiền tài rất tốt, nhưng họ cũng trải qua nhiều cay đắng và khó khăn lớn về tài chính.

Dục vọng là thứ gây hại cho người cung Nhân Mã nhiều nhất.

Thực Hành

Ngồi xổm như cách của người Huaca ở Peru, đặt bàn tay lên chân với các ngón trỏ hướng lên trên, hướng lên trời, để thu hút các tia của sao Mộc, để làm cho từ tính ở chân và đùi mạnh lên. Thần chú ISIS là thần chú của bài tập này. Isis chính là Đức Mẹ Thần thánh.

Thần chú này được phát âm bằng cách kéo dài âm của mỗi chữ cái trong số bốn chữ cái tạo nên nó, iiiiiissssss iiiiiissssss, được chia thành hai âm tiết IS-IS.

Với bài tập này, ta sẽ đánh thức khả năng thấu thị và Đa Nhãn Thông [4], khả năng này cho phép tất cả chúng ta có thể nghiên cứu các ghi chép Akasha của thế giới tự nhiên để biết lịch sử của Trái đất và các chủng tộc của nó.

[4] Đa Nhãn Thông một năng lực kết hợp giữa nhãn thông với trực giác. Xem thêm Đa nhãn thông

Cần tập luyện hàng ngày với cường độ cao, để từ hóa máu ở các động mạch đùi. Đây là cách một người có được sức mạnh để nghiên cứu trong bộ nhớ của tự nhiên.

Con nhân mã có hai khuôn mặt, một mặt nhìn về phía trước và mặt kia hướng về phía sau, điều này chỉ cho chúng ta về khả năng thấu thị quý giá này.


Leave a Reply