✏ Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Biện chứng tâm thức
CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC
Tôi sẽ luôn phải nhấn mạnh rằng hệ thống giáo dục và học thuật trong thời kỳ suy thoái này, chỉ phục vụ cho việc làm sai lệch những giá trị đích thực của bản thể.
Sự thật đã chứng minh rằng tôi đúng. Theo thống kê của những năm gần đây [1] thì mỗi năm học có khoảng 500 trẻ em Tây Đức tự tử.
[1] Gần đây: tính từ thời điểm tác giả viết sách này, năm 1977
Uớc tính rằng có khoảng 14.000 thanh thiếu niên cố tự tử [hàng năm ở Đức]. Trong số đó, cứ ba học sinh dưới 16 tuổi thì có một em mắc các triệu chứng căng thẳng nghiêm trọng, gây ra bởi cái mà người Đức gọi là “schulangst” – chứng rối loạn lo âu cấp tính học đường.
Những áp lực và căng thẳng học đường mà một số trẻ không thể chống chọi được, chính là nguyên nhân gây ra một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất mà thế hệ trẻ phải đối mặt.
Schulangst dường như là một hiện tượng xã hội, là kết quả của một hệ thống giáo dục có tính cạnh tranh cao, không chỉ ở Đức mà còn ở tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Hiện tượng này đi cùng với tỷ lệ thất nghiệp cao và một xã hội phân cấp, coi tấm bằng tốt nghiệp học thuật ngu ngốc như một tấm vé để có được một công việc thu nhập cao cùng với một địa vị trong xã hội.
Trẻ em trong độ tuổi đi học mắc phải những chứng rối loạn lo âu, cảm thấy rằng chúng không thể chịu đựng được hệ thống căng thẳng này.
Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Karl Stritt Matter, một giáo sư trong lĩnh vực khoa học giáo dục, cứ ba trẻ em trai dưới 16 tuổi thì có một em mắc các bệnh mãn tính về dạ dày, bị đái dầm lúc ngủ hoặc bị đau đầu dữ dội. Cứ năm học sinh thì có một học sinh phải điều trị tâm thần, và người ta cũng phát hiện ra rằng ngay cả trẻ em chín tuổi cũng bị loét dạ dày do căng thẳng học đường gây ra.
Điều đặc biệt của nghiên cứu này là số liệu thống kê về nạn tự tử học đường, đặc biệt đáng lo ngại do độ tuổi của nạn nhân: trong số 517 học sinh dưới 18 tuổi đã tự tử ở Đức năm 1976, có 103 em nằm trong độ tuổi từ 10 đến 15. Tỷ lệ tự tử của thanh niên dưới 18 tuổi là khoảng 3,3 trên 100.000 người ở Tây Đức, cao hơn 50% so với Hoa Kỳ, nơi mà nạn tự tử ở thanh thiếu niên cũng đang là một vấn đề đáng báo động [2].
[2] Hiện nay, các tỷ lệ đã lên cao hơn nhiều so với năm 1976. https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_suicide_rate
Trong cuốn “Giáo dục Nền tảng”, tôi có giải thích về các nguyên tắc bền vững bao gồm: tự do sáng kiến, không bắt chước, tự do sáng tạo, chú ý có ý thức, can đảm, tình yêu thương, phương pháp suy luận, biết cách lắng nghe, sự thông thái, sự hào phóng, khả năng thấu hiểu, sự hòa hợp, tính đơn giản, hòa bình, sự trung thực, trí thông minh, cảm nhận về mục đích sống, v.v. Chừng nào chúng ta không rèn luyện trên một nền tảng giáo dục dựa trên các nguyên tắc này, thì chừng đó không chỉ trẻ em và thanh thiếu niên, mà cả người lớn sẽ vẫn tiếp tục mắc phải chứng rối loạn lo âu nghiêm trọng với tỷ lệ tự tử gia tăng khủng khiếp.
BÁO CHÍ
Nhiều tờ báo đăng đầy những ý tưởng thực sự bóp méo tâm trí. Trên con đường giải phóng tâm lý này, chúng ta không được để cho tâm trí bị méo mó.
Theo quan điểm của tôi thì để thực sự có sức khoẻ tinh thần, chúng ta cần có đức tin tỉnh thức. Báo chí hay nhồi nhét sự hoài nghi vào tâm trí. Chính sự hoài nghi phá vỡ trạng thái cân bằng của tâm trí và làm cho nó trở nên bệnh hoạn.
Đặc trưng của các nhà báo là tính hoài nghi cực đoan. Tinh thần sẽ không thể khỏe mạnh nếu không có đức tin tỉnh thức. Chủ nghĩa hoài nghi của các nhà báo dễ lây lan và nó phá hủy tâm trí.
Thay vì đọc những thứ vô bổ thì trẻ em nên được đưa về vùng nông thôn và nghe những câu chuyện cổ tích thời xa xưa. Bằng cách này, tâm trí của trẻ sẽ vẫn được rộng mở để sẵn sàng tiếp thu cái mới, và thoát khỏi những định kiến của thời kỳ thoái hóa và suy đồi này.
Trong thời kì suy tàn và vô thức này, chúng ta cần phải phục hồi khả năng ngạc nhiên. Thật không may là thế hệ hiện đại đã mất đi khả năng này.
TRUYỀN HÌNH
Điều quan trọng trong cuộc sống là không được để tâm trí bị lấp đầy bởi những ý tưởng ngoại lai từ truyền hình bởi vì theo thời gian chúng sẽ trở thành những hình nộm [trong tâm trí].
Những hình ảnh chúng ta thấy trên truyền hình sẽ được tái tạo lại trong tâm trí và biến đổi thành những biểu tượng tồn tại thực sự trong tâm lý.
Chúng ta cần phải có tâm trí trong sạch để bản thể có thể điều hành vũ trụ tâm lý của chúng ta thoát khỏi gông cùm của cái tôi.
Những ai tìm kiếm sự thay đổi toàn vẹn có thể xem những bộ phim hữu ích liên quan đến tự nhiên, để có thể nhận được những lợi ích khách quan cho cấp độ ý thức cao nhất của bản thể.
ÂM NHẠC HIỆN ĐẠI CỰC ĐOAN
Âm nhạc hiện đại không có hoà âm hay giai điệu chân thực, nó cũng thiếu đi những nhịp điệu chính xác.
Tôi cho rằng âm nhạc hiện đại không hài hòa, là loại âm thanh khó nghe, gây hại cho cả năm trung tâm xử lý [3] của cỗ máy con người.
[3] Năm trung tâm xử lý bao gồm:
– Trung tâm lý trí
– Trung tâm cảm xúc
– Trung tâm vận động
– Trung tâm bản năng
– Trung tâm sinh dục

Các hình thức âm nhạc “tối tân” gây hại cho hệ thần kinh, và làm thay đổi tất cả các cơ quan sinh lý của con người. Âm nhạc hiện đại không phù hợp với giai điệu của cõi vô cực.
Nếu cái tôi bị tiêu diệt thì con người sẽ hoà nhịp với âm nhạc của vũ trụ, và của các cõi [cao hơn].
Âm nhạc lãng mạn liên quan đến những thứ phù du và ảo ảnh.
Âm nhạc cổ điển hiệp thông chúng ta với cái không thể diễn tả được, cái ở bên ngoài thời gian, sự vĩnh hằng.
SOLIOONENSIUS
Nhà khoa học vĩ đại người Nga Georges Lakhovsky sau khi nghiên cứu chuyên sâu về các vết đen mặt trời, đã phát hiện ra rằng có một mối quan hệ mật thiết giữa những vết đen và các cuộc chiến tranh.
Trong thời đại của tên lửa tự hành này, người ta đã thực hiện một số nghiên cứu chuyên sâu về các tia vũ trụ và ảnh hưởng của chúng đối với tế bào sống và các sinh vật nói chung.
Cơ chế phức tạp của tên lửa điều khiển từ xa được điều khiển bằng sóng phóng xạ. Chúng ta không thể phủ nhận phóng xạ của các hành tinh trong vũ trụ, cũng như không thể phủ nhận ảnh hưởng điện từ của chúng lên các sinh vật sống.
Có một định luật vũ trụ gọi là Solioonensius [4] đã xuất hiện trên Trái Đất của chúng ta bốn mươi lần kể từ khi Atlantis bị nhấn chìm. Định luật vũ trụ này là kết quả của áp lực điện từ giữa các hành tinh.
[4] Solioonensius – trong sách “Beelzebub’s Tales to his Grandson”, tác giả G. I. Gurdjieff định nghĩa Solioonensius là một loại năng lực tâm lý xuất hiện trên Trái Đất theo chu kỳ. Dưới ảnh hưởng của năng lực này, con người ta trở nên dũng cảm hơn trong hành trình đi tìm sự tự do. Với người tu hành thì Solioonensius dẫn đến giải thoát tâm linh. Với những người không quan tâm đến tâm linh, năng lực này dẫn đến các cuộc nổi loạn.
Baleaooto là một hệ mặt trời lân cận với hệ mặt trời Ors [6] của chúng ta. Ngoài ra trong vũ trụ còn có sao chổi nổi tiếng gọi là Solni. Sao chổi này đôi khi tiến gần đến mặt trời Baleaooto rực rỡ một cách nguy hiểm.
[6] Trong sách “Beelzebub’s Tales to his Grandson”, hệ mặt trời của chúng ta được gọi là Ors. Câu chuyện về Baleaooto, Solni, Ors đến từ chương 34 của sách này.
Một mặt trời rực rỡ như vậy đã nhiều lần buộc phải phát triển một áp lực từ trường mạnh mẽ, để có thể duy trì quỹ đạo thông thường của nó một cách vững chãi. Theo lẽ tự nhiên và logic thì áp lực này gây ra một áp lực tương tự ở tất cả các mặt trời lân cận, trong đó có mặt trời của chúng ta, được gọi là Ors.
Khi mặt trời Ors phát ra áp lực điện từ để quỹ đạo của nó không bị thay đổi, thì nó cũng gây ra áp lực tương tự lên tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời Ors, bao gồm cả hành tinh Trái Đất của chúng ta. Đây là Solioonensius, định luật vĩ đại của vũ trụ, tác động lên Trái Đất trong khoảng thời gian rất dài.
Thông thường, định luật vĩ đại này tạo nên lòng sùng đạo mãnh liệt và niềm khao khát sâu sắc cho sự khai ngộ của bản thể. Tuy nhiên, khi nhân loại không có sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho diễn biến của định luật này thì kết quả thường là thảm khốc.
Vào năm 1917, định luật vũ trụ nói trên đã biểu hiện một cách mạnh mẽ, nhưng vì sự oán giận và phẫn uất tràn ngập của giai cấp vô sản Nga nên Solioonensius đã kết hợp với tâm lý của mỗi cá nhân một cách bất thường và tiêu cực. Kết quả của sự kết hợp tiêu cực đó là cuộc cách mạng Bolshevik.

Từ lâu rồi, nước Nga đã chuẩn bị tâm lý cho cuộc cách mạng đẫm máu này. Cuộc cách mạng Bolshevik chắc chắn là kết quả của một sự kết hợp cực kỳ tồi tệ giữa Solioonensius với những đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân. Một trong những đặc điểm biểu hiện của định luật này là lòng khao khát tự do.
Tuy nhiên ở Nga, vào thời điểm diễn ra cách mạng Bolshevik, một vài người đã tận dụng được Solioonensius một cách thông minh để phát triển lý trí khách quan và tâm thức cá nhân. Biện chứng tâm thức cũng xuất hiện trong các thời kỳ như thế.
Đã nhiều năm trôi qua và chúng ta vẫn chưa biết khi nào Solioonensius sẽ trở lại. Nhưng chúng ta biết là mình cần phải chuẩn bị tâm lý để đón nhận Solioonensius một cách trí tuệ, và thông qua đó đạt được sự chuyển hoá toàn vẹn mà tôi đã đề xuất một cách khách quan trong cuốn sách này. Đương nhiên, nếu Solioonensius đến khi chúng ta chưa chuẩn bị về mặt tâm lý thì kết quả sẽ là một thảm họa.
Hãy ghi nhớ và đừng bao giờ quên rằng cách mạng Bolshevik và cuộc chiến bảy ngày [7] thực sự là một thảm họa xã hội.
[7] Cuộc chiến bảy ngày: dịch giả không biết câu này chỉ cuộc chiến nào. Theo sách lịch sử, “cuộc chiến bảy ngày” là trận đánh trong cuộc nội chiến Mỹ.
Chúng ta phải khao khát tiến hành biện chứng tâm thức trên toàn bộ Trái Đất, và đó là lý do tại sao chúng ta cần chuẩn bị tâm lý một cách tốt nhất có thể. Sẽ thật bi đát nếu lần tới khi Solioonensius đến, chúng ta vẫn chưa hề có sự chuẩn bị về tâm lý.
Trong quá khứ, mỗi lần Solioonensius xuất hiện đều là những lần thảm họa khi nhân loại chưa được chuẩn bị. Hãy nhớ lại Ai Cập cổ đại, giữa các triều đại đều xảy ra những sự kiện khủng khiếp. Solioonensius đã hai lần xuất hiện đầy thảm khốc ở xứ Kem đầy nắng.

Lần đầu tiên, trong một cuộc cách mạng đẫm máu, dân chúng đã bầu ra những người cầm quyền bằng máu và cái chết. Các ứng cử viên giết giai cấp thống trị chính đáng, chọc ra con mắt của họ và cho vào một “chiếc bình thiêng”. Ai có nhiều con mắt nhất trong chiếc bình được bầu làm người cai trị mới. Rõ ràng là những cảnh tượng của một cuộc nổi dậy như vậy thật kinh khủng.
Trong lần biểu hiện thứ hai của định luật vũ trụ này, người dân Ai Cập đã vùng lên chống lại những kẻ thống trị trong sự phẫn nộ. Họ giết chết những kẻ cai trị bằng một sợi cáp kim loại thiêng đâm xuyên người. Vào lúc đó, không ai quan tâm đến giới tính và tuổi tác của những kẻ thống trị đó, và sợi dây cáp giống như một chiếc vòng cổ rùng rợn được kéo bởi những con dã thú và ném xuống sông Nile.
Solioonensius sinh ra khát vọng được giải phóng, cuộc cách mạng của tâm thức, nhưng khi con người chưa sẵn sàng thì họ chỉ nghĩ đến việc giết những kẻ thống trị, ám sát người khác, truất ngôi vua và khiêu chiến, v.v.
Chúng ta nên chuẩn bị tâm lý cho Solioonensius. Chúng ta cần ý thức về bản thể và tiến hành cuộc Biện Chứng Tâm Thức trên toàn bộ Trái Đất.
NGUYÊN TẮC TÔN GIÁO
Tất cả mọi tôn giáo đều là những viên đá quý được xâu trên sợi chỉ vàng của thần thánh.
Mọi tôn giáo đều bảo tồn các giá trị vĩnh cửu; không có tôn giáo nào là giả dối. Mọi tôn giáo đều cần thiết, mọi tôn giáo đều có một sứ mệnh trong cuộc sống.
Thật vô lý khi nói rằng tôn giáo của hàng xóm là vô dụng, và chỉ có tôn giáo của tôi mới là đúng đắn. Nếu tôn giáo của hàng xóm không tốt thì tôn giáo của chúng ta cũng không tốt bởi vì các giá trị luôn là giống nhau.
Thật ngu ngốc khi nói rằng tôn giáo của các bộ lạc bản địa châu Mỹ chỉ là một hình thức thờ ngẫu tượng. Như vậy họ cũng có quyền nói rằng tôn giáo của chúng ta là một hình thức thờ ngẫu tượng. [8] Và nếu chúng ta cười họ thì họ cũng có thể cười chúng ta. Và nếu chúng ta nói rằng họ thờ thần tượng hoặc là đã từng thờ thần tượng, thì họ cũng có thể nói rằng chúng ta thờ thần tượng.
[8] Thờ ngẫu tượng là một khái niệm cốt yếu trong đạo Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo, có ảnh hưởng lớn đối với văn hoá, lịch sử, và chiến tranh ở phương Tây. Bài viết này giải thích rõ hơn: https://gnosisvn.org/2022/09/09/tho-ngau-tuong/
Nếu chúng ta phủ nhận giá trị của những tôn giáo khác, thì tức là chúng ta đang phủ nhận những giá trị trong tôn giáo của chính mình, bởi vì các nguyên tắc luôn giống nhau. Tất cả các tôn giáo đều có những nguyên tắc giống nhau.
Dưới ánh mặt trời, mọi tôn giáo đều đã được sinh ra, mở rộng, phát triển, nhân lên thành nhiều giáo phái và diệt vong. Nó đã và sẽ luôn như vậy.
Các nguyên tắc tôn giáo sẽ không bao giờ chết. Các hình thức tôn giáo có thể chết, nhưng các nguyên tắc tôn giáo hay nói cách khác là các giá trị vĩnh cửu thì sẽ không bao giờ chết. Chúng sẽ tiếp tục tồn tại và khoác lên mình những hình thức mới.
Tôn giáo vốn gắn liền với cuộc sống, giống như nước vốn có độ ẩm. Có những người vô cùng sùng đạo nhưng lại không theo bất kỳ hình thức tôn giáo nào.
Bản chất của những người không theo đạo là bảo thủ và phản động. Chỉ có người theo đạo mới có thể đạt được Biện Chứng Tâm Thức.
Chúng ta không thể nào biện minh cho những cuộc chiến tranh tôn giáo như ở Ireland. Thật vô lý khi coi người khác là những kẻ không có đức tin, dị giáo hoặc ngoại đạo, chỉ vì một lí do đơn giản là họ không theo tôn giáo của chúng ta.

Cho dù là vị tu sĩ đang thực thi nhiệm vụ tư tế của mình trước các bộ tộc ăn thịt người ở giữa những khu rừng rậm châu phi, hay là vị tổng giám mục Thiên Chúa giáo quý phái đang điều hành nhà thờ ở thủ đô London, Paris hay Rome, họ đều đang dựa trên các nguyên tắc giống nhau; chỉ khác nhau về hình thức tôn giáo.
Chúa Giê-su, rabbi thần thánh thành Ga-li-lê, đã chỉ cho toàn nhân loại thấy được con đường đến với chân lý và biện chứng tâm thức.
Chân lý đã được hiện thân trong Chúa Giê-su và sẽ được hiện thân trong những người đạt được sự thay đổi toàn vẹn.
Khi nghiên cứu các tôn giáo hoặc thực hiện một nghiên cứu để đối chiếu các tôn giáo, chúng ta sẽ thấy tất cả các tôn giáo đều tôn thờ Đấng Kitô. Điều khác biệt duy nhất là những cái tên mà người ta đặt cho Đấng Kitô.
Vị thầy thần thánh của Ga-li-lê có các đặc điểm giống như Zeus, Apollo, Krishna, Quetzalcoatl, Lão Tử, Phục Hy (Đấng Kitô của Trung Quốc), Đức Phật, v.v.
Chúng ta sẽ ngạc nhiên nếu thực hiện một nghiên cứu đối chiếu về các tôn giáo. Bởi tất cả những nhân vật tôn giáo thiêng liêng nhân cách hóa Đấng Ki-tô đều được sinh ra vào ngày 24 tháng 12 lúc 12 giờ đêm.
Tất cả những nhân vật thiêng liêng này đều được sinh ra từ sự thụ thai tinh khiết. Tất cả những nhân vật này đều được sinh ra từ hành động và ân sủng của Đức Thánh Linh. Tất cả họ đều được sinh ra từ những trinh nữ vô nhiễm nguyên tội trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh.
Maria, người phụ nữ Do Thái nghèo khổ và vô danh, mẹ của Đấng Cứu thế đáng tôn kính Giê-su, Đấng Ki-tô, có những đặc điểm và sức mạnh vũ trụ giống như của các nữ thần Isis, Juno, Demeter, Ceres, Vesta, Maia, Adonin, Insobertha, Rea, Cybele, Tonantzin, v.v.
Tất cả các vị nữ thần này đại diện cho Đức Mẹ thần thánh, tính nữ vĩnh hằng của vũ trụ. Đấng Kitô luôn là con của Đức Mẹ thần thánh và tất cả các tôn giáo đều tôn sùng Đức Mẹ.
Mẹ Maria được thụ thai bởi Đức Thánh Linh. Truyền thống kể lại rằng Ngôi lời thứ ba, dưới hình dạng một con chim bồ câu, đã thụ thai vào tử cung vô nhiễm nguyên tội của Mẹ Maria.
Chim bồ câu luôn là biểu tượng cho dương vật. Chúng ta hãy nhớ đến Peristhera, cô tiên ở trong vườn của thần Vệ nữ, đã biến thành chim bồ câu nhờ tình yêu.

Với người Trung Quốc, Phục Hy chính là Đấng Ki-tô. Đấng Ki-tô của người Trung Quốc được sinh ra bởi hành động và ân sủng của Đức Thánh Linh một cách kỳ diệu.
Khi trinh nữ Hoa Tư [華胥] đi dạo dọc bờ sông, và đặt chân mình lên dấu chân của Đấng vĩ đại; ngay lập tức cô rung động khi thấy ánh sáng lộng lẫy kỳ diệu xung quanh mình, và tử cung của cô đã được thụ thai. Mười hai năm sau, vào lúc nửa đêm ngày thứ tư của tuần trăng thứ mười, Phục Hy [伏羲] được sinh ra, ông được đặt tên theo con sông nơi mà mẹ ông đã được thụ thai.

Ở Mexico cổ đại, Chúa Ki-tô là Quetzalcoatl, người là Đấng Mê-si-ah và là nhà cải cách nền văn minh Toltec.
Một ngày nọ, khi Chimalman đang ở một mình với hai chị gái, một sứ giả từ trên trời xuất hiện trước mặt cô. Khi nhìn thấy sứ giả, hai chị gái của Chimalman sợ chết khiếp. Chimalman khi nghe vị thiên thần nói rằng cô sẽ mang thai một bé trai, ngay lập tức cô thụ thai Quetzalcoatl, Đấng Kitô của người Mexico, mà không nhờ vào bất cứ một người đàn ông nào.

Với người Nhật, Đấng Ki-tô là Đức Phật A-Di-Đà, người khẩn cầu trước Nữ thần Tối cao Ten-sic-dai-tain [9] và cầu nguyện cho tất cả những người có tội.
[9] Ten-sic-dai-tain: dịch giả không rõ đây là nữ thần nào. Có thể là 辯才天 (Phạn: Sarasvatī), mẹ của Đức Phật A-Di-Đà hoặc là シャチー (Phạn: Indrāṇī), vợ của thần tối cao Indra.
Đức Phật A-Di-Đà, Đấng Ki-tô của Thần Đạo Nhật Bản, là người có quyền năng mở cánh cửa Cực Lạc Gokuraku (極楽).
Các kinh Edda của nền văn minh Đức có đề cập đến [các vị hiện thân của] đức Kitô trong danh sách vị thần của họ, cũng tương tự như Chúa Giê-su, sinh vào nửa đêm ngày 24 tháng 12, giống như Odin, Wotan và Belenos.
Khi nghiên cứu Phúc âm của Krishna, Đấng Ki-tô của người Hindu, chúng ta sẽ kinh ngạc khi khám phá ra rằng câu chuyện này giống y hệt phúc âm của Chúa Giê-su, mặc dù Krishna được sinh ra trước Chúa Giê-su nhiều thế kỷ.
Devaki, vị trinh nữ Hindu đã thụ thai Krishna nhờ vào hành động và ân sủng của Đức Thánh Linh. Thần hài nhi Krishna được đưa đến chuồng ngựa của Nanden, và các vị thần cùng thiên thần đến để tôn thờ Krishna. Cuộc đời, cuộc khổ nạn và cái chết của Krishna cũng tương tự như của Chúa Giê-su.
Việc nghiên cứu tất cả các tôn giáo rất có giá trị. Việc nghiên cứu đối chiếu các tôn giáo khiến cho chúng ta hiểu rằng tất cả các tôn giáo đều bảo tồn những giá trị vĩnh cửu, rằng không có tôn giáo nào là sai và tất cả đều đúng.
Tất cả các tôn giáo đều nói về linh hồn, về thiên đường, địa ngục, v.v. Các nguyên tắc luôn giống nhau.
Với người La Mã, địa ngục là Avernus; đối với người Hy Lạp, địa ngục là Tartarus, còn với những người theo đạo Hindu thì địa ngục là Avīcī [A tỳ], v.v. Olympus là thiên đường của người La Mã và Hy Lạp. Mỗi tôn giáo đều có thiên đường của riêng họ.
Khi tôn giáo của người La Mã đi đến hồi kết, khi nó suy thoái, các thầy tu trở thành thầy bói, những kẻ múa rối, v.v., nhưng những nguyên tắc vĩnh cửu không hề chết; chúng được khoác lên một hình thức tôn giáo mới, chính là Ki-tô giáo.
Các linh mục ngoại giáo, những người được gọi là augur, druid, flamen, hierophant, tín đồ của Dionysius, thầy tế, đã được đổi tên trong Ki-tô giáo với các tước hiệu thiêng liêng là giáo sĩ, mục sư, giám mục, giáo hoàng, người được xức dầu, trụ trì, nhà thần học, v.v.
Các sibyl, vestal, druidess, popess, deaconess, menad, pythoness, v.v., trong Ki-tô giáo được gọi là tập sinh, nữ đan viện trưởng, nữ kinh sĩ, giám chức bề trên, khả kính, linh mục, nữ tu, sơ.
Các vị thần, bán thần, titan, nữ thần, sylph, cyclops, sứ giả của các vị thần trong các tôn giáo cổ xưa đã được đổi tên là thiên thần, tổng lãnh thiên thần, luyến thần, quyền thần, dũng thần, ngai thần, v.v.
Nếu xưa kia các vị thần được tôn thờ, thì nay họ cũng vẫn được tôn thờ, chỉ là bây giờ họ được gọi bằng những tên khác.
Các hình thức tôn giáo thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử và theo từng chủng tộc. Mỗi chủng tộc cần một hình thức tôn giáo riêng.
Con người cần tôn giáo. Một dân tộc không có tôn giáo trên thực tế là một dân tộc hoàn toàn man rợ, độc ác và tàn nhẫn.
ĐƠN VỊ LÝ LUẬN THỨ TƯ
Những người cuồng chủ nghĩa duy vật cực kỳ ghét bất cứ thứ gì có hương vị của thần thánh.
Những người cuồng tín duy vật tin rằng với lý luận ba chiều, họ có thể giải quyết tất cả các vấn đề của vũ trụ, và điều tồi tệ nhất là họ thậm chí còn không biết gì về chính mình.
Vị thần vật chất của những người theo chủ nghĩa duy vật không thể kháng cự lại được sự phân tích sâu sắc. Cho đến nay, những người cuồng tín biện chứng chủ nghĩa duy vật vẫn chưa thực sự chứng minh được sự tồn tại của vật chất.
Trong suốt thế kỷ trước và một phần của thế kỷ 20, những người theo chủ nghĩa duy vật cuồng tín đã lãng phí thời gian của mình vào việc tranh luận về chủ đề vốn đã mệt mỏi và nhàm chán là “vật chất và năng lượng”.
Người ta đã nói nhiều về năng lượng và vật chất, tuy nhiên, bất chấp mọi suy đoán thì vật chất và năng lượng vẫn tiếp tục là hai ẩn số X, Y chưa có lời giải đáp. Vậy thì sao?
Điều buồn cười là những kẻ phản động của chủ nghĩa “duy vật biện chứng” nổi tiếng, luôn cố gắng định nghĩa cái này bằng cái kia; thật nực cười khi họ định nghĩa ẩn số bằng ẩn số.
Những đứa trẻ tội nghiệp bị bắt cóc ở Tây Tạng và mang đi học ở Bắc Kinh, được dạy những câu như sau: “Vật chất là thứ mà trong đó, các thay đổi, hay còn được gọi là chuyển động, diễn ra. Và chuyển động là những thay đổi diễn ra trong vật chất”. Đây là đồng nhất thức của ẩn số: X = Y, Y = X. Kết luận lại, đây là một vòng luẩn quẩn, một sự vô minh, một điều ngớ ngẩn.
Không có ai từng thấy “vật chất”, cũng không có ai từng thấy “năng lượng”. Con người chỉ nhận thức các hiện tượng, sự vật, hình dạng, hình ảnh, v.v., mà chưa bao giờ nhìn thấy bản chất của sự vật.
Những người theo chủ nghĩa duy vật hoàn toàn bỏ qua bản chất thực sự của một chất mà chỉ gọi nó một cách giáo điều là “vật chất”, trong khi thực tế họ mới chỉ nhìn thấy gỗ, đồng, vàng, đá, v.v.
Thực sự, cái gọi là “vật chất” là một khái niệm trừu tượng như vẻ đẹp, sự hào phóng, lòng dũng cảm. Không một kẻ cuồng tín nào của chủ nghĩa duy vật biện chứng có thể thấy bản chất đích thực của vật chất. Chúng ta không phủ nhận rằng họ sử dụng cái mà họ quả quyết gọi là “vật chất”. Con lừa cũng ăn cỏ để lấy dinh dưỡng mặc dù nó không biết vì sao, nhưng đây không phải là khoa học, đây cũng chẳng phải là trí tuệ, đây chẳng phải là gì cả. Có phải những kẻ cuồng tín của chủ nghĩa duy vật biện chứng đang muốn biến tất cả loài người thành những con lừa? Theo những gì chúng ta đang thấy thì sự thật là như vậy. Ta liệu có thể mong chờ điều gì khác từ những người còn không muốn biết cả chính mình?
NGHỆ THUẬT
Khi con người ta tự đẩy mình xuống con đường thoái hóa và suy đồi, khi con người ta ngày càng vật chất hơn, thì các giác quan của họ cũng càng suy yếu và thoái hóa hơn.
Tôi nhớ đến một phái tâm linh ở Babylon chuyên nghiên cứu mọi thứ liên quan đến khứu giác. Họ có một phương châm rằng: “Tìm kiếm sự thật trong các sắc thái của mùi vị mà ta tiếp nhận được giữa khoảnh khắc giá lạnh làm đóng băng và khi cái nóng làm phân hủy mọi vật”.
Trường phái đó đã bị bức hại và bị huỷ hoại bởi một thầy trụ trì rất tồi tệ. Ông thầy đó tham nhũng trong công việc, và đã sớm bị các thành viên của trường gián tiếp tố cáo.
Khứu giác phát triển vượt trội cho phép các học sinh của trường phái đó phát hiện ra nhiều điều gây bất lợi cho các quan chức chính phủ.
Có một trường phái khác rất quan trọng ở Babylon, là trường phái họa sĩ. Trường phái này có phương châm là: “Khám phá và làm sáng tỏ sự thật, chỉ bằng những tông màu giữa trắng và đen”.
Vào thời điểm ấy, học viên của trường phái này thường không có vấn đề gì trong việc sử dụng khoảng 1500 sắc thái của màu xám.
Từ thời kỳ Babylon cho đến những ngày đau buồn mà chúng ta đang sống hiện nay, các giác quan của con người đã thoái hóa một cách đáng sợ bởi chủ nghĩa duy vật. Được nhà triết học vô thần biện minh bằng lời ngụy biện rẻ tiền trong phép biện chứng của mình.
Cái tôi tiếp tục tồn tại sau khi chết và được duy trì trong thế hệ con cháu của chúng ta. Cái Tôi bị phức tạp hoá qua những trải nghiệm ở cõi vật chất và được củng cố bởi sự suy yếu của năng lực của con người.
Khi cái Tôi ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn qua nhiều thế kỷ thì các năng lực của con người lại ngày càng suy thoái hơn.
Những vũ điệu thiêng liêng là những cuốn sách giáo huấn đích thực với mục đích truyền tải một số giáo lý càn khôn siêu việt.
Trong vũ điệu của họ, những người Dervish [10] ý thức về sự cân bằng lẫn nhau của bảy cám dỗ trong các sinh vật sống.
[10] Dervish là một người theo trường phái huyền học Hồi giáo Sufi. Vũ điệu xoay tròn là một điệu nhảy hay được các Dervish thực hành. Đây là một dạng thiền động xuất phát từ một số nhóm Sufi. Theo truyền thống thì điệu nhảy này tượng trưng cho hình ảnh các hành tinh xoay quanh mặt trời.

Các vũ công cổ đại biết về bảy phần độc lập của cơ thể, và biết rất rõ bảy đường chuyển động khác nhau. Các vũ công thiêng liêng biết rõ rằng trong mỗi đường chuyển động trên, đều có bảy điểm tập trung động lực.
Các vũ công Babylon, Hy Lạp và Ai Cập cũng biết rằng tất cả nguyên tắc này được kết tinh trong vũ điệu của các nguyên tử cũng như trong các hành tinh khổng lồ đang khiêu vũ xung quanh trọng tâm vũ trụ của nó.
Nếu chúng ta có thể phát minh ra một cỗ máy mô phỏng chính xác tất cả các chuyển động của bảy hành tinh xoay quanh mặt trời, thì chúng ta sẽ khám phá ra bí mật kinh ngạc về điệu nhảy của những Dervish. Thực sự, điệu nhảy của các Dervish mô phỏng tất cả các chuyển động của các hành tinh xoay quanh mặt trời một cách hoàn hảo.
Những vũ điệu thiêng liêng thời Ai Cập, Ba-by-lon, Hy Lạp, v.v., còn đi xa hơn nữa; nó truyền tải những chân lý phi thường về vũ trụ, nhân chủng học, tâm sinh học, toán học, v.v.
Khi những dấu hiệu đầu tiên của chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa duy vật bắt đầu xuất hiện ở Babylon, thì năm giác quan đã thoái hóa với một tốc độ đáng sợ.
Chúng ta cũng thấy rõ rằng con người ta nghĩ sao là vậy, rằng nếu chúng ta nghĩ theo chủ nghĩa vật chất thì chúng ta sẽ thoái hóa và làm hóa thạch bản thân mình.
Nhà triết học chủ nghĩa duy vật đã phạm một tội ác khó có thể tha thứ. Họ đã cướp đi những giá trị tinh thần của nhân loại. Triết lý của họ đã mở cánh của cho các vụ đàn áp tín đồ tôn giáo, và đã đẩy nhân loại đến sự thoái hóa toàn diện.
Chủ nghĩa duy vật đã thâm nhập vào khắp nơi, từ trường học đến gia đình, trong cả đền chùa và công sở, v.v.
Các nghệ sĩ của mỗi thế hệ mới đều trở thành những nhà biện hộ chân chính cho phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật. Hơi thở cuối cùng của tâm linh học đã biến mất khỏi nghệ thuật tối tân rồi.
Các nghệ sĩ đương đại không còn biết gì về định luật của bộ bảy. [11] Họ không còn biết gì về các vở kịch siêu cấp và họ không còn biết gì về vũ điệu thiêng liêng của các giáo phái huyền học cổ xưa.
[11] Xem thêm về định luật của bộ bảy tại Chương 7 – Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳ – P. D. Ouspensky.
Những kẻ đen tối đã đánh cắp, phỉ báng một cách thảm hại và hoàn toàn bán rẻ nhà hát và sân khấu.
Ngày xưa, ngày thứ bảy, ngày lễ diễn kịch, ngày của giáo phái huyền học thu hút rất nhiều người đến các ngôi đền cổ. Vào ngày lễ đó các vở kịch siêu việt được trình diễn.
Kịch có vai trò truyền tải giáo lý quý giá cho các điểm đạo đồ. Thông qua kịch, các hình thức trải nghiệm về bản thể và các biểu hiện của bản thể đã được truyền tải cho các điểm đạo đồ.
Trong số các vở kịch, cổ xưa nhất là vở kịch về Kitô Vũ trụ. Các điểm đạo đồ biết rất rõ rằng mỗi người chúng ta nên trở thành đấng Kitô trong vở kịch này, nếu chúng ta thực sự khao khát vương quốc siêu nhân.
Các vở kịch siêu cấp đều dựa trên định luật bộ bảy. Một số biến đổi thông minh của định luật này luôn được sử dụng để truyền đạt những giáo lý siêu việt cho môn đồ mới.
Rõ ràng rằng trong âm nhạc, một số nốt nhạc nhất định có thể mang lại niềm vui trong trung tâm lý trí; có những nốt khác lại tạo ra nỗi buồn ở trung tâm cảm xúc, và cuối cùng là những nốt có thể tạo ra lòng mộ đạo ở trung tâm vận động.
Thực sự, các thầy tư tế cổ xưa không bao giờ quên rằng chúng ta chỉ có thể đạt được kiến thức hợp nhất thông qua cả ba não bộ cùng một lúc; một não bộ riêng lẻ không thể cung cấp đầy đủ thông tin được.
Vũ điệu thiêng liêng và ca kịch siêu cấp, khi được kết hợp khéo léo với âm nhạc, có vai trò truyền tải cho các môn đệ những giáo lý cổ xưa vĩ đại về nguồn gốc của vũ trụ, tâm sinh học, tâm hoá học, siêu hình học, v.v.
Một chủ để đáng đề cập đến ở đây là điêu khắc; nghệ thuật điêu khắc đã từng rất hoành tráng trong quá khứ. Các biểu tượng ẩn giấu trong những bức tượng khắc đá tiết lộ cho chúng ta thấy rằng các bậc chân sư cổ xưa không bao giờ phớt lờ định luật bộ bảy này.
Chúng ta hãy nhớ đến tượng nhân sư ở Giza, Ai Cập. Nhân sư cho chúng ta biết về bốn nguyên tố tự nhiên và bốn điều kiện cơ bản của siêu nhân. [11.1]
[11.1] Tượng nhân sư ở phía dưới kết hợp hình người, chim đại bàng, sư tử, và trâu. Đầu người tượng trưng cho nước, sư tử tượng trưng cho lửa, trâu tượng trưng cho đất và chim đại bàng tượng trưng cho khí. Vì tượng nhân sư Ai Cập ở Giza đã bị thoái hoá nhiều, chúng ta không biết bốn nguyên tố tự nhiên được thể hiện như thế nào trong bức tượng này.



Triết học hiện sinh và nghệ thuật hiện sinh ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai. Khi nhìn những diễn viên theo chủ nghĩa hiện sinh trên sân khấu, chúng ta đi đến kết luận rằng họ thực sự là những kẻ bệnh hoạn điên cuồng và truỵ lạc.
Nếu chủ nghĩa duy vật tiếp tục được truyền bá, thì cuối cùng con người sẽ hoàn toàn mất đi năm giác quan vốn đã và đang trong quá trình thoái hóa.
Các quan sát và kinh nghiệm đã chứng minh rằng việc vắng mặt của các giá trị tâm linh sẽ dẫn đến sự thoái hóa.
Ngày nay, hội họa, âm nhạc, điêu khắc, kịch nghệ, v.v., chẳng qua chỉ là sản phẩm của sự thoái hóa mà thôi.
Các điểm đạo đồ thời xưa, những vũ công thiêng liêng, nghệ sĩ chân chính của thời đại vĩ đại không còn xuất hiện trên sân khấu nữa. Giờ đây, trên sân khấu chỉ là những người máy bệnh hoạn, những ca sĩ thoái hóa, những kẻ nổi loạn vô cớ, v.v.
Các vở kịch tối tân cực đoan chính là phản đề của các vở kịch thiêng liêng về những bí ẩn vĩ đại của Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ, v.v.
Nghệ thuật hiện đại thật đen tối, nó đi trái ngược với ánh sáng, và các nghệ sĩ hiện đại cũng thật tối tăm.
Hội họa siêu thực và hội hoạ của chủ nghĩa duy vật, điêu khắc đương đại, âm nhạc Phi châu-Cuba và các vũ công hiện đại, tất cả đều là kết quả của sự thoái hóa của nhân loại.
Khả năng thu nhận thông tin qua ba não bộ đã thoái hoá cũng đủ để biến những thanh thiếu niên của thế hệ mới thành những kẻ lừa đảo, trộm cắp, sát thủ, kẻ cướp, đồng tính luyến ái, bán dâm, v.v.
Không một ai đã làm gì để chấm dứt thứ nghệ thuật tồi tệ này, và mọi thứ đều đang tiến tới một thảm họa cuối cùng do thiếu một cuộc biện chứng tâm thức.
KHOA HỌC DUY VẬT
Vào một dịp nọ, một người theo chủ nghĩa vô thần duy vật, kẻ thù của Đức Cha Vĩnh Hằng, và một người sùng đạo tranh luận với nhau. Họ tranh luận về chủ đề: quả trứng có trước hay con gà có trước? Một người trả lời rằng, “Quả trứng có trước. Đương nhiên là như thế: quả trứng.”
“Vậy thì ai đã đẻ trứng?”
“Vâng, con gà.”
Vậy nên người kia nói rằng con gà có trước.
“Và con gà đến từ đâu?”
“Vâng, từ quả trứng.”
Đây là một câu chuyện không có hồi kết. Cuối cùng, người sùng đạo cảm thấy hơi sốt ruột và nói: “Ông có thể tạo ra một quả trứng như Thượng Đế đã làm không?”
Nhà duy vật trả lời: “Có, tôi làm được!”
Người sùng đạo kêu lên “Thế thì làm đi!”
Rồi, nhà duy vật đã tạo ra một quả trứng giống hệt một quả trứng gà với lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng. Thấy vậy, người sùng đạo nói: “Vì ông đã tạo ra một quả trứng kỳ diệu, nó sẽ nở thành một chú gà con. Chúng ta hãy cho nó vào lồng ấp.”
Nhà duy vật nói “Đồng ý!” và họ đặt quả trứng vào lồng ấp, nhưng không có con gà nào chui ra cả.
Nhà thông thái Alfonso Herrera, người thành lập phái sinh học plasmogeny [tích hợp chất nguyên sinh], đã tạo được ra một tế bào, nhưng đó chỉ là một tế bào chết mà chưa bao giờ có sự sống.

Phương pháp ghép cành được thực hiện bằng cách cấy một nhánh cây này vào nhánh cây khác nhằm nâng cao chất lượng quả. Những kẻ ‘biết tuốt’ muốn chỉnh sửa tự nhiên. Việc này thật ngớ ngẩn. Các cành cây ghép chứa năng lượng sống của đại vũ trụ không giống cây tự nhiên. Về mặt năng lượng thì việc ăn các loại trái cây bị pha ghép sẽ gây hại cho cơ thể.
Tuy nhiên, các nhà khoa học đã hài lòng với thí nghiệm của mình. Họ không hiểu rằng các loài cây đều thu nhận năng lượng, chuyển hóa và truyền lại năng lượng đó vào quả. Khi cây bị biến đổi thì năng lượng của đại vũ trụ cũng bị thay đổi và quả sẽ không như trước nữa; nó là sản phẩm của sự pha tạp và có hại cho các sinh vật.
Tuy nhiên, các nhà khoa học duy vật tin rằng họ biết, trong khi sự thật là họ không biết gì cả. Họ không những không biết, mà tệ hơn cả là họ không biết rằng mình không biết.
Việc thụ tinh nhân tạo ra đời, các tế bào tạo ra sự sống, tinh trùng, được chiết xuất. Vì thế mà các tín đồ của chủ nghĩa duy vật nghĩ rằng họ đang tạo ra sự sống. Họ không nhận ra rằng họ chỉ đang tận dụng những gì tự nhiên đã tạo ra mà thôi.
Hãy đặt các nguyên tố hóa học cần thiết để tạo ra tinh trùng và trứng lên bàn thí nghiệm. Và hãy nói với các nhà khoa học, hãy tạo ra tinh trùng và trứng. Họ có làm được không? Tôi cho rằng họ sẽ làm điều đó. Nhưng liệu có sự sống trong đó hay không? Liệu họ có thể tạo ra được một đứa trẻ từ đó hay không? Không bao giờ, bởi vì họ không biết cách tạo ra sự sống. Thế thì, họ có bằng chứng nào để phủ nhận trí tuệ tạo hoá siêu việt nếu họ thậm chí không thể tạo ra được hạt giống của một loài cây, một hạt giống có thể nảy mầm?
Người tin theo chủ nghĩa duy vật dựa trên cơ sở nào để phủ nhận trí tuệ tạo hoá? Tại sao họ lên tiếng chống lại Đấng Vĩnh cửu?
Đã từng có nhà khoa học duy vật nào có khả năng tạo ra sự sống chưa? Điều này xảy ra khi nào?
Chơi với những gì tự nhiên đã tạo ra thì dễ, nhưng để tạo ra sự sống thì khác. Không một nhà khoa học nào có thể làm được điều này.
Họ có đang tạo ra sự sống hay không khi chia đôi một con amip, tách rời các bộ phận của nó trên bàn thí nghiệm rồi ghép các bộ phận đó với một vi sinh vật khác và reo lên: Eureka! Eureka! Eureka! Nhưng họ không có khả năng tạo ra một con amip. Khoa học của những người theo chủ nghĩa duy vật này từ đâu ra vậy? Họ đã chứng minh rằng mình có thể thay thế thánh thần từ khi nào vậy? Thực tế là họ không chỉ không biết, mà tệ hơn cả là họ còn không biết rằng mình không biết. Chỉ có hành động và kết quả mới là quan trọng nhưng cho đến nay họ vẫn chưa làm được.

Họ nói rằng con người tiến hóa từ khỉ. Họ đưa ra giả thuyết về cynocephalus [12] có đuôi, khỉ không đuôi và về loài người sống trên cây, hậu duệ của loài neo-pithecoid [13], v.v. Thế nhưng mắt xích nào còn thiếu ở đây? Họ đã tìm được chưa? Ở đâu và khi nào? Ngày nào tháng nào họ đã tìm thấy một con khỉ biết nói, được trời phú cho khả năng ngôn ngữ? Điều này chưa từng xảy ra. Những người theo chủ nghĩa duy vật này thật lố bịch; họ chỉ đang đưa ra cho chúng ta những giả định chứ không phải sự thật.
[12] Cynocephalus là tên gọi của một số loài động vật linh trưởng. Ví dụ như “khỉ đầu chó vàng” (Papio cynocephalus).
[13] Neo-pithecoid: hình như từ này chỉ loài khỉ mà sinh học hiện đại gọi là “khỉ tân thế giới”.
Chúng ta hãy đo thể tích não của những con khỉ thông minh nhất và so sánh với bộ não của một người lạc hậu, chẳng hạn như một thổ dân bộ lạc ở Úc. Chúng ta thấy rõ ràng loài khỉ đó sẽ không bao giờ đạt đến khả năng nói.
Chẳng phải những người theo chủ nghĩa duy vật sau đó đã bác bỏ lý thuyết của chính Darwin và học trò của ông ta hay sao? Có phải loài người tiến hóa từ loài khỉ hay không? Họ đưa ra giả thuyết như vậy dựa trên cơ sở nào? Làm thế nào để họ chứng minh điều đó? Chúng ta phải đợi chờ cho đến bao giờ để có thể thấy được mắt xích còn thiếu? Chúng ta muốn thấy loài khỉ đó có thể nói như người. Điều này chưa bao giờ xuất hiện, và do đó nó chỉ là một giả định vô nghĩa không có thực tế.
Tại sao họ lại có thể nói về những điều mà họ không hề biết? Tại sao lại có nhiều điều không tưởng rẻ tiền đến vậy? Đơn giản là vì ý thức của họ đang ngủ mê, bởi vì họ chưa bao giờ hứng thú với việc thực hiện một cuộc cách mạng tâm lý ở bên trong, và bởi vì họ không thực hành siêu động lực tình dục. Sự thực phũ phàng là họ đang bị thôi miên.
Những người không thực hành giáo lý của biện chứng tâm thức cũng sẽ phạm phải những sai lầm giống như các nhà khoa học duy vật.
Các nhà khoa học duy vật liên tục đưa ra nhiều lý thuyết. Chúng ta lấy ví dụ lý thuyết chọn lọc giống: bắt đầu từ một loài nhuyễn thể nhỏ bé, và từ đó các loài sinh vật khác được hình thành thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên cho đến khi trở thành loài người. Họ có thể chứng minh lý thuyết này không? Rõ ràng là không!
Chúng ta không phủ nhận rằng ở mỗi loài đều tồn tại một số quá trình chọn lọc nhất định. Ví dụ, có những loài chim di cư vào những thời điểm nhất định, người ta kinh ngạc khi thấy các đàn chim kéo đến, và sau đó chúng cùng nhau bay vượt qua đại dương. Cơ số đã phải chết; chỉ những con mạnh nhất sống sót sau quãng đường gian nan này. Những con vượt qua cuộc vật lộn truyền lại đặc tính của mình cho thế hệ sau. Đây là cách chọn lọc tự nhiên vận hành.
Có những loài không ngừng đấu tranh sinh tồn nơi biển khơi, và bởi vì phải chiến đấu rất nhiều nên chúng trở nên mạnh mẽ và truyền lại những đặc tính cho thế hệ sau.
Có những con thú nhờ chiến đấu nhiều mà ngày càng trở nên mạnh hơn, chúng truyền lại những đặc tính tâm lý của mình cho thế hệ sau. Nhưng chưa bao giờ chọn lọc tự nhiên có thể mang đến cho chúng ta một loài mới. Tuy vậy, có nhiều người lại cho rằng quá trình chọn lọc tự nhiên có những đặc điểm như Đấng Tạo Hóa.
Người ta cũng đã nói nhiều về nguyên sinh chất. Từ nguyên sinh chất chìm trong biển mặn từ hàng triệu năm trước, sự sống phổ quát đã được hình thành.
Nhà sinh học duy vật khiến những người thiếu hiểu biết tin vào một điều giống họ, rằng sự phát triển tâm lý của động vật trí năng, được gọi nhầm là con người, xuất phát từ sự phát triển phân tử của nguyên sinh chất và rằng quá trình này diễn ra song song với các quá trình tương tự khác.
Những người theo chủ nghĩa duy vật mong muốn rằng tâm thức, hay bất cứ cái tên nào mà họ muốn gọi nó, là kết quả của sự tiến hóa của nguyên sinh chất trong suốt nhiều thế kỷ. Đây là cách những người theo thuyết nguyên sinh, những người tự cho rằng mình có kiến thức, tin như vậy.
Tôi nhớ đến lý thuyết về giới khởi sinh (tiếng Anh: monera) của Haeckel, nguyên tử bị nhấn chìm trong vực thẳm đại dương nơi mà từ đó sự sống trỗi dậy. Đây là cách Haeckel và những người ủng hộ ông ấy nghĩ.
Chưa từng có một cơ chế phức tạp nào được tổ chức mà không phải trải qua nhiều quá trình liên quan đến toàn bộ vũ trụ.
Thực tế là các nhà khoa học không biết gì về sự sống và cái chết, họ cũng không biết chúng ta đến từ đâu hay chúng ta sẽ đi về đâu, và họ càng không biết mục đích của cuộc sống là gì. Tại sao? Đơn giản là ý thức của họ đang mê ngủ, bởi vì họ chưa thực hành biện chứng tâm thức bên trong, bởi vì họ đang ở trong trạng thái thôi miên tập thể do thiếu sự thay đổi toàn vẹn mà tôi dạy trong tác phẩm này.
Khoa học duy vật tiến bước trên con đường sai lầm. Khoa học duy vật không biết gì về nguồn gốc của con người, và càng không biết gì về tâm lý nội tại của con người.
Chúng ta không thể phủ nhận sự tồn tại của quy luật chọn lọc tự nhiên. Tuy nhiên, quá trình chọn lọc tự nhiên chưa bao giờ tạo ra loài mới. Chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng các loài sinh vật thay đổi theo thời gian, nhưng các yếu tố mới chỉ được kích hoạt sau khi nguyên mẫu căn nguyên được kết tinh trong thế giới vật chất. [14] Nguyên mẫu căn nguyên của bất kỳ loài sinh vật nào trước đây đều phát triển trong cõi lý trí, trong các chiều không gian cao hơn của tự nhiên, trong các chiều siêu việt mà các nhà khoa học duy vật phủ nhận bởi vì họ không nhận thức được, và họ không nhận thức được vì họ đang bị thôi miên tâm lý.
[14] Nguyên mẫu căn nguyên – từ này đề cập đến lý thuyết của nhà triết học Platon, nói rằng trước khi một hiện tượng được kết tinh ở cõi vật chất, một nguyên mẫu của nó phải tồn tại ở các cõi siêu việt trước. Ví dụ: chúng ta không thể xây nhà bằng xi mang và thép nếu không “xây” một nguyên mẫu trong tâm trí trước. Nguyên mẫu đó chính là bản thiết kế của kiến trúc sư.
Nếu họ thoát ra khỏi trạng thái thôi miên trước khi nói chuyện thì khái niệm của họ sẽ khác, nhưng họ lại đang ngủ mê do thiếu động lực tinh thần và động lực tình dục.
Nếu ai đó muốn biết về nguồn gốc của loài người, thì người đó phải quan sát sự phát sinh cá thể [tiếng Anh: Ontogeny]. Sự phát sinh cá thể là một bản tóm tắt của sự phát sinh chủng loài [tiếng Anh: Phylogeny]. [15, 16, 17]
[15] Phát triển cá thể (Ontogeny) – https://vi.wikipedia.org/wiki/Phát_triển_cá_thể
[16] Phát sinh chủng loài (Phylogeny) – https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1t_sinh_ch%E1%BB%A7ng_lo%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc
[17] “Sự phát sinh cá thể là một bản tóm tắt của sự phát sinh chủng loài.” Đây là câu nổi tiếng của nhà sinh học Ernst Haekel. Ý là nếu chúng ta muốn biết quá trình tiến hoá của một loài thì chúng ta chỉ cần quan sát quát trình phát triển của phôi thai trong tử cung, vì mọi loài sinh vật lặp lại quá trình tiến hoá trong quá trình phát triển.

Sự phát triển cá thể [Ontogeny] trong nhân chủng học là gì? Đó là quá trình phát triển của thai nhi trong bụng mẹ. Nếu quan sát quá trình mang thai của một người mẹ, thì chúng ta có thể thấy rằng phát sinh cá thể [ontogeny] là một quá trình tóm tắt của phát sinh loài [philogeny]. “Phát sinh loài” là quá trình tiến hóa và biến đổi mà loài người đã trải qua trong suốt nhiều thế kỷ.
Sự phát sinh cá thể tóm tắt lại những trạng thái này trong tử cung người mẹ. Khi phân tích sự phát sinh cá thể, chúng ta có thể đi đến kết luận hợp lý rằng loài người và các loài động vật khác có những điểm giống nhau về nguồn gốc, và đến từ cõi tâm lý.
Nhưng quá trình chọn lọc tự nhiên, các biến thể hoặc các yếu tố tạo ra sự biến đổi của loài người, chỉ bắt đầu hoạt động sau khi loài đó đã hình thành cơ thể vật chất. Trước khi có cơ thể vật chất thì quá trình tâm lý đã tồn tại và phát triển trong lòng sống của tự nhiên. Điều này Haeckel, Darwin và những người ủng hộ ông không biết, bởi vì thực tế là họ không biết gì về nguồn gốc của con người cả.
Làm thế nào mà các nhà khoa học duy vật lại có thể nói rằng một số biến thể nhất định tồn tại trong các loại sinh vật khác nhau? Cho dù là tình cờ hay tự phát, lẽ nào đây không phải là một mâu thuẫn hay sao?
Chẳng phải chính họ nói rằng vũ trụ này là kết quả của năng lượng, vật chất và nhu cầu hay sao? Làm thế nào mà họ lại tự mâu thuẫn với chính mình khi sau đó họ nói với chúng ta về các biến thể tự phát trong một vũ trụ của năng lượng và nhu cầu. Điều đó có thể chăng?
Một vũ trụ được tạo ra bằng năng lượng, vật chất và nhu cầu sẽ không có các biến thể tự phát hoặc ngẫu nhiên. Những biến thể trong các loài sinh vật tồn tại vì một lý do mà các tín đồ của chủ nghĩa duy vật không biết. Khoa học duy vật không những không biết, mà tệ hơn cả là nó không biết rằng mình không biết.
LỊCH SỬ CỦA NHÂN LOẠI TRÊN TRÁI ĐẤT
Nhánh phân tâm học của nhân chủng học Gnosis nghiên cứu sâu sắc về quá khứ. Loài người sinh sống trên bề mặt Trái Đất ngày nay không khác gì một chủng tộc động vật trí năng bị gọi nhầm là con người. Các bạn có thể cảm thấy bị xúc phạm, nhưng trước khi chủng tộc động vật trí năng này xuất hiện thì đã có người Lemuria, Hyperborea và Polar rồi. [18] Động vật trí năng có nguồn gốc từ Atlantis và được sinh ra ở Atlantis. Những con người thực sự của Lemuria đã rút khỏi thế giới trong giai đoạn cuối cùng của chủng tộc họ. Họ để lại trật tự [xã hội] của mình cho những yếu tố cao nhất của giới động vật.
[18] Lemuria, Hyperborea, Polar, Atlantis: https://gnosisvn.org/2022/10/18/chung-toc-goc/
Chủng tộc của các loài động vật trí năng xuất hiện sau người Lemuria, trên lục địa Hyperborea và ở cực bắc, vào thời kỳ đó nằm ở vùng xích đạo. Nhánh phân tâm học của nhân chủng học Gnosis dựa vào cơ sở nào để khẳng định điều này? Tại sao lại nói như vậy? Nhân chủng học Gnosis không chỉ dựa trên tất cả các truyền thống có trong các kinh sách cổ xưa ở Ai Cập cổ đại, ở vùng đất của người Inca, vùng đất của người Maya, từ Hy Lạp, Ấn Độ, Ba Tư, Tây Tạng, v.v., mà còn dựa trên sự tìm hiểu trực tiếp của những người đã thành công trong việc đánh thức tâm thức thông qua cách mạng tâm lý.
Thông qua tác phẩm này, tôi muốn cung cấp tất cả các hệ thống cần thiết cho việc đánh thức tâm thức và khi thức tỉnh, các bạn sẽ có thể tự mình điều tra và xác minh những gì tôi đang khẳng định và nhấn mạnh. Nhưng cần phải thức tỉnh để chạm, nhìn, nghe, cảm nhận và để mình không trở thành nạn nhân của những lý thuyết của Haeckel, Darwin, Huxley và những người theo họ.
Có ba chủng tộc loài người nhưng làm sao bạn biết được điều này khi tâm thức của bạn vẫn đang ngủ mê? Những người thành công trong việc thức tỉnh sẽ có thể điều tra được trong kho dữ liệu akasha của tự nhiên.
Chủng tộc đầu tiên như thế nào? Chủng tộc này đã tồn tại theo cách nào? Vào thời điểm khoảng 300 triệu năm trước đây, theo như điều tra mà chúng tôi đã thực hiện, những người nguyên sinh đã tồn tại và Trái Đất lúc đó vẫn là nguyên sinh chất.
Đó không phải là nguyên sinh chất của Haeckel hay biển mặn, hay hàng ngàn khái niệm ngu ngốc khác chưa từng được xác minh, không phải vậy. Chủng tộc nguyên sinh là điều khác. Đó là một chủng tộc người nổi lơ lửng trong bầu khí quyển. Chủng tộc này vẫn chưa rơi xuống mặt đất ẩm ướt.
Chủng tộc này sinh sản như thế nào và nguồn gốc từ đâu? Chủng tộc này đã tiến hóa và thoái hóa trong các chiều không gian siêu việt của tự nhiên, và của vũ trụ. Cuối cùng chủng tộc này được kết tinh trên một Trái Đất cũng là nguyên sinh chất, sau nhiều quá trình tiến hóa, phát sinh từ nguyên mầm nằm ở trong Chaos, trong Magnus Limbus, trong Yliaster của thế giới. Khi chủng tộc đó kết tinh thì nguyên mầm đó trở thành tia sáng hay là hạt nhân mà vừa có thể phóng to khổng lồ vừa có thể thu gọn lại thành một điểm toán học.
Tôi căn cứ vào đâu để khẳng định điều này? Vào tâm thức tỉnh thức! Tôi đã thực chứng được điều này chưa? Chắc chắn là rồi! Và nếu bạn chấp nhận giáo lý luân hồi thì càng tốt. Rõ ràng là tôi đã được tái sinh trong chủng tộc đó, và vì đã thức tỉnh nên tôi không thể quên được quá trình tiến hóa và thoái hóa của chủng tộc này. Đó là lý do tại sao tôi có thể làm chứng trước các bạn. Dù biết rằng các bạn đang mê ngủ, nhưng tôi phải gửi gắm tất cả những dữ liệu mà các bạn cần để thức tỉnh.
Chủng tộc đó đã nhân giống như thế nào? Chủng tộc đó đã sinh sản như thế nào? Không phải như chân sư Blavatsky đã nói, rằng họ sinh sản vô tính, rằng họ không cần tình dục để sinh sản. Khẳng định như vậy là sai lầm, bởi vì sức mạnh của Maha-Chohan, năng lượng sáng tạo của Ngôi lời thứ ba, đã và sẽ luôn lưu chuyển mạnh mẽ trong mọi thứ. Kiểu sinh sản bằng cách phân đôi đã được thể hiện dưới một hình thức hữu tính khác. Dưới hình thức này, các sinh vật tự phân chia theo như cách các tế bào sống tự phân chia vậy. Học sinh học môn sinh học biết rõ cơ chế phân chia của tế bào hữu cơ: tế bào chất với một phần nhân tách khỏi nhau, điều này học sinh nào cũng biết.
Kể từ đó, quá trình sinh sản bằng cách phân đôi vẫn có ở trong máu và tiếp tục xảy ra trong hàng triệu tế bào của chúng ta. Phải vậy không? Ai dám phủ nhận điều này? Tôi chỉ đang nói ra sự thật mà thôi! Có lẽ nào các bạn lại tin rằng quá trình tế bào đó không có nguồn gốc? Nếu các bạn suy nghĩ như vậy thì thật là vô lý, bởi vì không có nhân nào lại không có quả và không có quả nào lại không có nhân. Vì vậy chúng ta đã được kế thừa điều đó. Từ ai? Từ chính người của chủng tộc đầu tiên.
Sau khi được tách ra, các sinh vật tiếp tục phát triển bằng cách tiếp tục hấp thụ và tích lũy nguyên sinh chất từ môi trường xung quanh.
Sau đó, xuất hiện người Hyperborea. Họ là những người được Friedrich Nietzsche nhắc đến, những người sống trên [lục địa] hình móng ngựa bao quanh Bắc Cực, đó là quốc gia ở phía Bắc. Chúng ta đã thực chứng điều này chưa? Thực chứng được chưa? Chưa, vì các bạn đang ngủ mê. Tôi đã thực chứng điều này rồi bởi vì tôi đã thức tỉnh. Phủ nhận ư? Tôi không phủ nhận điều này! Nếu các bạn nghĩ là tôi bị điên, thì cứ hãy coi như tôi bị điên, nhưng dù thế nào tôi cũng phải làm chứng, phải luôn nói ra sự thật.
Người Hyperborea cũng đã tồn tại thực sự. Họ không còn đặc sệt như người nguyên sinh chất. Khi nói theo cách này, tôi không đề cập đến linh hồn tế bào của Haeckel trong biển mặn, tôi cũng không nói về nguyên tử moneron nổi tiếng. Các khái niệm đó chỉ là những giả thuyết ngớ ngẩn của Haeckel và những người ủng hộ ông ta.
Bây giờ tôi muốn nói rõ về chủng tộc Hyperborea, có nguồn gốc từ chủng tộc nguyên sinh chất. Hyperborea là một chủng tộc có giác quan tâm linh mạnh hơn, được sinh ra bởi bản năng tình dục dưới hình thức nảy mầm. Các bạn đã bao giờ nhìn thấy các nhánh san hô trên vách đá của đại dương bão tố chưa? Từ nhánh san hô này mọc ra nhánh khác, và từ nhánh san hô khác lại mọc ra nhánh khác nữa, và cứ thế. Có nhiều loài thực vật mà mầm của chúng sinh sôi liên tục. Điều tương tự cũng xảy ra với người Hyperborea. Một số mầm nhất định xuất hiện ở trong Cha-Mẹ, chúng vận hành năng lực tình dục cho đến khi mầm đó tách ra và sinh ra một đứa trẻ mới. Đó là phương pháp sinh sản của chủng tộc Hyperborea.
Cuối cùng, chủng tộc này đã bị nhấn chìm dưới đáy biển Thái Bình Dương đầy bão tố trong suốt hàng triệu năm tiến hóa và thoái hóa của tự nhiên màu mỡ này.
Lemuria là một lục địa khổng lồ đã nổi lên từ dưới đáy biển và sau đó bao phủ toàn bộ Thái Bình Dương. Đó là nơi lần đầu tiên loài người sống trên lớp vỏ cứng của Trái Đất. Lục địa Lemuria xuất hiện, không phải thông qua một thế hệ tự phát như Epicurus và những người theo ông đã tin, cũng không phải qua chọn lọc tự nhiên, mặc dù lý thuyết đó đã được nâng lên tầm của một vị thần tạo hoá. Đó đều là những lời hùng biện tuyệt vời xuất phát từ sự phi lý, phải vậy không? Lý thuyết ấy xuất hiện như thế nào? Theo cách nào vậy?
Khi người Hyperborea kết tinh, thân thể của họ bắt đầu hình thành và trở nên cứng cáp. Theo cách này, chủng người lưỡng tính Lemuria xuất hiện, giống như cách mà họ được tượng trưng trong các tác phẩm điêu khắc khổng lồ ở Tula, Hidalgo, Mexico. Họ thực sự đã từng tồn tại trên bề mặt địa cầu này. Thuở đầu, họ sinh sản bằng cách tách một tế bào trứng ra khỏi cơ thể và tế bào trứng này phát triển để tạo nguồn gốc cho một sinh thể mới. Đó là thời kỳ mà dương vật và tử cung chưa được hình thành, đó là thời kỳ mà các lingam-yoni mới đang nảy mầm. Đó là thời kỳ mà buồng trứng chưa phát triển.

Thời gian trôi qua ở Lemuria và rồi hệ thống sinh sản bằng cách nảy mầm cũng đã xuất hiện. Hệ thống này đã gây ra kinh ngạc ở thời đại đó. Buồng trứng nhận được một tế bào sinh sản hay nói cách khác là một tinh trùng, theo cách mà trứng được thụ tinh trước khi tách ra khỏi buồng trứng của sinh vật lưỡng tính.
Khi xuất hiện, trứng sẽ mở ra sau một khoảng thời gian phát triển nhất định và từ đó sinh ra một đứa trẻ mới. Đó là lý do tại sao người Nahua nói: “Những đứa trẻ của mặt trời thứ ba tự biến mình thành chim”, đây là một lời khẳng định trí tuệ của nền văn hóa Nahua cổ đại.
Nhưng khi Lemuria sắp diệt vong thì từ chủng tộc phụ thứ ba hoặc thứ tư trở đi, loài người chia thành hai giới tính khác nhau. Sau đó thì hai giới tính phải hợp tác với nhau để sinh sản. Hệ thống hợp tác để sinh sản bắt đầu từ thời kỳ Lemuria. Rõ ràng là việc thụ tinh tế bào trứng là cần thiết. Chỉ bằng cách này, trong sự kết hợp của một tế bào thụ tinh với một noãn, tế bào đầu tiên của phôi thai với 48 nhiễm sắc thể mới có thể xuất hiện. Không thể chối cãi là chúng ta đều mang bên trong mình 48 nhiễm sắc thể đại diện cho 48 định luật tạo hóa.
