Chương 3 – Trận chiến vĩ đại

✏ Tác giả: Samael Aun Weor, 📖 Hôn nhân hoàn hảo
Sagar mathan corrected version brightened Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Thần thánh và ma quỷ giằng co ở hai đầu đối nghịch của một con rắn quấn ba vòng quanh tảng đá – bức minh họa trong Vishnu Purana này là biểu tượng cho cuộc chiến giữa tình yêu và dục vọng, diễn ra khi người tu luyện tâm linh thực hành phép tình dục để đánh thức sức mạnh Kundalini trong cột sống. Tranh “Sagar Manthan”, khoảng năm 1820.

Trong sách Giê-rê-mi-a, chương 21, câu 8, có lời chép rằng: “Này, ta đặt trước mặt các ngươi con đường của sự sống và con đường của cái chết.” Đàn ông và phụ nữ có thể dùng quan hệ tình dục cùng khoái cảm của nụ hôn và tình yêu để trở thành vị thần hoặc quỷ dữ.

Kể từ buổi bình minh của sự sống, luôn tồn tại một cuộc đại chiến giữa hai thế lực ánh sáng và bóng tối. Nguồn gốc bí mật của cuộc chiến này chính là tình dục.

Có một cách diễn giải đúng cho các bí ẩn về tình dục. Các pháp sư trắng không bao giờ xuất tinh. Các pháp sư đen thì luôn xuất tinh. Các pháp sư trắng đưa con rắn rực lửa của phép thần thông đi lên dọc theo ống tủy sống. Các pháp sư đen lại đưa con rắn đi xuống về phía các địa ngục nguyên tử của con người.

Thánh thần và quỷ dữ luôn ở trong một cuộc chiến bất tận. Thánh thần bảo vệ giáo lý của sự khiết tịnh, trong khi quỷ dữ căm ghét sự khiết tịnh. Cội nguồn của sự xung đột giữa thánh thần và quỷ dữ nằm ở tình dục.

Trận chiến vĩ đại diễn ra trong ánh sáng tinh tú. Ánh sáng tinh tú là nơi lưu giữ tất cả các hình tướng của tự nhiên vĩ đại từ quá khứ, hiện tại và tương lai. Ánh sáng tinh tú là Azoth và Magnesia của các nhà luyện kim đan cổ đại, là con Rồng Bay của Medea, là INRI của Kitô giáo, và là Tarot của người Bohemia.1

Ánh sáng tinh tú là ngọn lửa tình dục dữ dội tỏa ra từ vầng hào quang của Mặt Trời và được cố định vào Trái Đất bởi lực hấp dẫn và trọng lượng của khí quyển. Mặt Trời vừa hút vừa đẩy luồng ánh sáng huyền diệu mê hoặc này. Ánh sáng tinh tú chính là đòn bẩy của Ác-si-mét. Vị hiền triết này từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, và tôi sẽ nâng cả thế giới lên.”

ArchimedesLever Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Ảnh minh họa cho câu nói nổi tiếng của Ác-si-mét: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả Trái Đất lên.” Xuất bản trong báo Mechanic’s Magazine, 1824.

Tinh là chất lỏng chứa sức mạnh tinh tú của con người. Trong tinh có ánh sáng tinh tú. Tinh là chìa khóa mở ra tất cả quyền năng và là chìa khóa dẫn đến mọi vương quốc.

Ánh sáng tinh tú có hai cực: âm và dương. Con rắn đi lên là cực dương. Con rắn đi xuống là cực âm. Khi đi lên, nó là con rắn đồng đã chữa lành cho người Do Thái trong sa mạc hoang dã2. Khi đi xuống, nó là con rắn cám dỗ ở vườn Ê-đen34.

Moi se con ran dong Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“Môi-se với con rắn đồng” – tranh của Giuseppe Angeli, k. 1770. Đây là con rắn chữa lành cho người Do Thái ở sa mạc. Đọc thêm.
0253 framed Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“A-đam và E-va bị con rắn cám dỗ trong Vườn Ê-đen”, tranh của Jan Brueghel và Peter Paul Rubens, khoảng năm 1615. Con rắn cám dỗ tượng trưng cho năng lượng Kundalini đi xuống do dục vọng.

Khi chúng ta biết yêu và trao nhau những nụ hôn với sự dịu dàng vô hạn và lòng khiết tịnh tối thượng, con rắn sẽ đi lên. Khi chúng ta chìm đắm trong dục vọng và làm đổ chén thánh, con rắn sẽ trở nên điên cuồng trong cơn say và lao xuống các địa ngục nguyên tử của con người.5

Ở cõi Ánh Sáng cư ngụ những người yêu nhau. Những linh hồn say sưa với chén dục vọng sống ở cõi bóng tối; sau khi đã say, họ làm đổ Chén. Những linh hồn ấy bị thiêu rụi trong ngọn lửa dục vọng của chính mình.

Kitô6 và Yahweh7 cùng cai trị Trái Đất và luôn ở trong một cuộc chiến không hồi kết. Kitô lãnh đạo các vị thần, còn Yahweh cầm đầu bầy quỷ dữ.

Yahweh chính là con ác quỷ đã đưa Đấng Kitô lên đỉnh núi để cám dỗ ngài. Hắn đã nói rằng:

“I-ta-ba-bô, nếu ngươi thờ lạy ta thì ta sẽ ban tất cả các vương quốc này cho ngươi.”

Đấng Kitô trả lời: “Hỡi quỷ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: ‘Ngươi không được dụ dỗ Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, mà ngươi phải thờ phụng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi.’”8

Ary Scheffer Temptation of Christ Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Tranh “Chúa Giêsu bị cám dỗ” của Ary Scheffer, 1854.

Yahweh là một thiên thần sa ngã vô cùng độc ác. Yahweh là thần linh của tội ác. Đức Kitô dẫn dắt Bạch Đại Hội Quán, còn Yahweh – đối lập với Kitô – chỉ huy Hắc Đại Hội Quán. Các thế lực của ánh sáng và bóng tối sống trong một cuộc chiến không ngừng nghỉ. Nguồn gốc của cuộc tranh đấu này chính là tình dục, và tinh là chiến trường. Trong tinh, thiên thần và ác quỷ chiến đấu đến chết. Cốt lõi của cuộc xung đột lớn giữa thiên thần và ác quỷ chính là tình dục. Vấn đề nằm ở đó. Đó là cội nguồn của tất cả các giáo lý trắng và đen.

Đấng Kitô có kế hoạch hành động của ngài và Yahweh cũng thế. Những người được chọn thì đi theo Đấng Kitô. Đại đa số nhân loại thì đi theo Yahweh một cách cuồng tín. Tuy nhiên, tất cả đều ẩn mình sau cây thánh giá.9

Trên cây thập tự tinh tú, từng đoàn thiên thần và quỷ dữ giao chiến với nhau. Đối mặt với mỗi thiên thần là một ác quỷ.

Mỗi con người đều có một bản song trùng. Đây là bí ẩn về linh hồn song sinh. Các Lạt Ma nói rằng Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) là em trai và cũng là đối thủ của Đức Phật. Hắn là quỷ vương của địa ngục.

Devadatta Buddha Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) cố gắng ám sát Đức Phật bằng cách đẩy một tảng đá từ trên cao xuống phía Ngài. Devadatta là bản song trùng của Đức Phật.
Dante Gabriel Charles Rossetti How They Met Themselves topaz upscale Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Tranh “How They Met Themselves” của Dante Gabriel Rossetti, khoảng năm 1862, minh họa về bản song trùng.

Hai bản song trùng giống nhau ở mọi khía cạnh. Họ như hai phiên bản phản chiếu qua gương, có cùng những khuynh hướng, nhưng mang tính chất đối lập với nhau. Đối diện với một nhà chiêm tinh trắng sẽ luôn có một nhà chiêm tinh đen. Nếu một bậc thầy dạy phép tình dục trắng, thì bản song trùng của họ sẽ dạy phép tình dục đen. Hai bản song trùng tương đồng ở mọi điểm nhưng lại trái ngược nhau.

Hai phiên bản song trùng có diện mạo và cơ thể giống nhau bởi họ là song sinh. Đây là một trong những bí ẩn lớn của huyền học. Mỗi linh hồn trắng đều có một bản song trùng đen, là một linh hồn đối nghịch luôn đối kháng và tranh đấu với linh hồn trắng.

Tình yêu và phản-tình-yêu luôn tranh đấu với nhau. Kha-ni-el10 là thiên thần của tình yêu. Li-lit11 là bản song trùng đen tối của Kha-ni-el. Li-lit tượng trưng cho phản-tình-yêu. Vào những thời xa xưa, nhà thần thuật vĩ đại Iamblichus đã triệu gọi hai thần linh này. Khi ấy, từ dưới sông xuất hiện hai đứa trẻ: tình yêu và phản-tình-yêu, Eros12 và Anteros, Kha-ni-el và Li-lit. Đám đông chứng kiến phép lạ của Iamblichus đều quỳ xuống phủ phục trước nhà thần thuật13 vĩ đại này.14

Trên con đường gập ghềnh dẫn đến Niết Bàn, người học trò sẽ ngất ngây trong niềm hạnh phúc mỗi khi được chiêm ngưỡng Kha-ni-el, thiên thần tình yêu. Kha-ni-el hiện ra trước những người biết cầu gọi ngài. Kha-ni-el là đứa trẻ tuyệt vời của bình minh. Đứng trước thiên thần tình yêu, ta cảm thấy mình đã trở về với sự ngây thơ đã mất của vườn Ê-đen. Mái tóc của Kha-ni-el tựa như dòng thác vàng đổ xuống bờ vai trắng ngần như đá cẩm thạch. Khuôn mặt của thiên thần tình yêu có sắc hồng nhẹ nhàng của buổi bình minh. Kha-ni-el khoác chiếc áo choàng trắng, đẹp đến mức không thể tả nổi bằng lời. Kha-ni-el là thiên thần của âm nhạc và tình yêu, của vẻ đẹp và sự dịu dàng, là thần Cupid ngọt ngào của những người yêu nhau, là đỉnh cao của mọi sự thăng hoa trong tình yêu thương.

Li-lit là người anh em đối nghịch, là kẻ phản diện độc ác của Kha-ni-el. Li-lit là một đứa trẻ vô cùng quái ác, là ác thần của mọi sự dối trá tồi tệ nhất trong tình yêu, và là vua của hỏa ngục nguyên tử trong con người chúng ta.

Li-lit không thể cưỡng lại được ánh mắt của thiên thần tình yêu, nhưng Li-lit chính là cái bóng của Kha-ni-el. Li-lit có diện mạo của một đứa trẻ vô cùng quái ác. Tóc của Li-lit rối bù và bạc màu, khuôn mặt đầy ác ý cùng chiếc áo choàng màu xanh đen cho ta thấy rõ cả một thế giới đầy tàn nhẫn và cay đắng.

Kha-ni-el đại diện cho tia sáng tích cực của sao Kim, trong khi Li-lit đại diện cho tia sáng tiêu cực của sao Kim.

Truyền thống Kabbalah vĩ đại nói rằng Adam có hai người vợ: Li-lit và Na-hê-ma. Li-lit là mẹ đẻ của những vụ phá thai, ấu dâm, đồng tính luyến ái, suy đồi tình dục, giết hại trẻ sơ sinh, v.v.15

Na-hê-ma là mẹ đẻ của sự ngoại tình. Na-hê-ma dùng vẻ đẹp quyến rũ và sự trinh trắng của mình để cám dỗ người khác.

Samson and Delilah by Rubens Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“Nàng dỗ Sam-sôn ngủ trên đùi nàng, rồi sai người cạo sạch bảy lọn tóc trên đầu” – tranh “Sam-sôn và Đê-li-la” của Peter Paul Rubens, 1609.

Các thiên thần ánh sáng và thiên thần bóng tối sống trong một cuộc chiến không hồi kết. Nguồn gốc của cuộc chiến vĩ đại giữa các thế lực ánh sáng và bóng tối chính là tình dục.

Theo định luật vĩ đại, mỗi hành tinh có hai cực. Êlohim Ghi-bôr đại diện cho tia sáng tích cực của sao Hỏa.16 Bản song trùng của Êlohim này đại diện cho tia sáng tiêu cực của sao Hỏa và được gọi là A-đra-me-lec.17 Hiện giờ, con quỷ A-đra-me-lec độc ác này đã đầu thai và sống ở Trung Quốc.18

Lãnh đạo tối cao của tia sáng tích cực của Mặt Trăng là Đức Giê-hô-va. Kha-va-iot chính là bản đối lập, là người anh em đối địch của Ngài. Đức Giê-hô-va cai trị tia sáng tích cực của Mặt Trăng, còn Kha-va-iot cai trị tia sáng tiêu cực của Mặt Trăng. Đức Giê-hô-va dạy phép tình dục trắng, trong khi Kha-va-iot dạy phép tình dục đen.

Có hai mặt trăng: mặt trăng trắng và mặt trăng đen. Cả hai mặt trăng này đều đại diện cho các sức mạnh tính dục phổ quát mang tính nữ.19

Tạo hoá bắt nguồn từ quá trình tiến hóa của âm thanh. Âm thanh là biểu hiện của tính dục. Các thiên thần tạo tác bằng sức mạnh tính dục của thanh quản sáng tạo.

Qua quá trình tiến hóa không ngừng nghỉ, âm thanh từ trạng thái nguyên thủy chưa biểu hiện dần trở thành những hình thái năng lượng của vật chất đặc và ổn định. Âm thanh nguyên thủy chưa biểu hiện chính là tiếng nói vi tế.20 Âm thanh nguyên thủy chứa đựng cả năng lực tính dục nam và nữ. Càng đi sâu xuống phía địa ngục của vật chất, các năng lực này càng được nhân lên và trở nên phức tạp hơn.

Cực dương của âm thanh là sức mạnh kỳ diệu kéo chúng ta về phía cõi Tuyệt đối chưa biểu hiện, nơi chỉ có hạnh phúc ngự trị. Cực âm của âm thanh là lực lượng đen tối kéo chúng ta xuống thung lũng đắng cay. Cực dương thuộc về Mặt Trời, Kitô, và các vị thần thánh. Cực âm thuộc về Mặt Trăng. Li-lit là cái bóng của Mặt Trăng trắng, là nguồn gốc của tội tà dâm. Li-lit cũng chính là khởi nguồn của tính nhất thể tách biệt. Nói cách khác, nguồn gốc của cái tôi chính là Mặt Trăng đen. Mặt Trăng đen là Li-lit.

Đức Giê-hô-va hoạt động với Mặt Trăng trắng. Kha-va-iot hoạt động với Mặt Trăng đen. Việc tạo ra các hiện tượng của vũ trụ là không thể nếu thiếu sự can thiệp của các lực lượng Mặt Trăng. Thật không may, các lực lượng đen tối của Mặt Trăng đen đã can thiệp và gây tổn hại cho Tạo hoá.

Mặt Trời và Mặt Trăng đại diện cho các cực dương và âm của âm thanh. Mặt Trời và Mặt Trăng là nguồn gốc của Tạo hoá. Mặt Trời là dương tính, còn Mặt Trăng là âm tính. Mặt Trời là chồng, còn Mặt Trăng là vợ; ác quỷ Li-lit đã chen vào giữa, phá hoại Công trình Vĩ đại.21 “Trên sao thì dưới cũng vậy.”22 Đàn ông là Mặt Trời và phụ nữ là Mặt Trăng. Li-lit là Sa-tan cám dỗ cả hai, dẫn họ đến tội tà dâm và khiến họ rơi xuống địa ngục. Li-lit là Mặt Trăng đen, là khía cạnh đen tối của Mặt Trăng trắng, là nguồn gốc của cái tôi và tính nhất thể tách biệt.

Hermes Trismegistus topaz upscale Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“Hermes Trismegistus với Bản Bích Ngọc” – tranh của J. Augustus Knapp trong sách “Secret Teachings of All Ages” của Manly P. Hall, 1928.

Giê-hô-va không có cơ thể vật chất. Kha-va-iot thì có cơ thể vật chất. Hiện giờ, Kha-va-iot đã đầu thai và sống ở Đức.23 Hắn giả làm một cựu chiến binh và làm việc cho Hắc Đại Hội Quán. Trong các thế giới nội tại,24 tên phù thủy đen Kha-va-iot này mặc áo choàng đỏ và đội khăn quấn đỏ. Con ác quỷ này tu luyện các bí pháp tình dục đen trong một hang động tối tăm. Hắn có rất nhiều đệ tử ở châu Âu.

Đấng Giê-hô-va thường ngự trong vườn Ê-đen. Ê-đen là cõi ê-te.25 Bất kỳ ai trở về Ê-đen đều được Đấng Giê-hô-va chào đón. Cánh cửa để vào Ê-đen chính là tình dục.26

Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“Sự trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng”, tranh của Thomas Cole, 1828.

Trong cõi cảm xúc có đền thờ của ánh sáng và của bóng tối. Nơi nào ánh sáng tỏa chiếu càng rực rỡ, thì nơi đó bóng tối cũng càng trở nên dày đặc hơn.

Ở Cataluña, Tây Ban Nha, có một đền thờ tuyệt đẹp nằm trong trạng thái Jinn. Đó là đền thờ Montserrat, nơi bảo tồn Chén Thánh. Đó là chiếc chén bạc mà Chúa Giêsu Kitô đã dùng để uống rượu vang trong Bữa Tiệc Ly. Chén Thánh ấy chứa máu đông của Đấng Cứu Thế. Truyền thuyết kể lại rằng thượng nghị sĩ La Mã Giô-sép thành Arimathê đã dùng Chén Thánh để hứng lấy dòng máu vương giả chảy ra từ vết thương của Đấng Đáng Kính dưới chân cây thánh giá, cho đến khi chiếc chén đầy tràn.27

1ob 54a996 estoire del saint graal am1 eg f006v 1 gigapixel cgi Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Trong tranh, Thánh Giô-sép thành Arimathê ngồi dưới chân thập tự giá để lấy máu của Chúa Giêsu. Hình ảnh này đến từ sách “Estoire del Saint Graal” (Lịch sử của Chén Thánh), được viết bởi Robert de Boron vào khoảng năm 1200.

Hiện có một nhóm chân sư của Bạch Đại hội quán cư ngụ tại đền thờ Montserrat. Họ là các Hiệp sĩ Chén Thánh.

Thời xưa, cả thế giới có thể nhìn thấy đền thờ Montserrat cùng với Chén Thánh. Nhưng về sau, ngôi đền và Chén Thánh đã tàng hình và chỉ còn tồn tại trong trạng thái Jinn. Cả ngôi đền và Chén Thánh đã chìm vào trong siêu không gian. Ngày nay, chúng ta chỉ có thể đến thăm đền thờ này khi xuất hồn trong cơ thể cảm xúc hoặc khi sử dụng cơ thể vật chất ở trạng thái Jinn.28

Cơ thể vật chất có thể được mang ra khỏi thế giới ba chiều và đặt vào chiều thứ tư bằng cách sử dụng siêu không gian một cách khôn ngoan. Trong tương lai không xa, vật lý thiên văn sẽ chứng minh được sự tồn tại của siêu không gian. Các bộ tộc bản địa ở châu Mỹ đã có hiểu biết rất uyên thâm về khoa học Jinn. Ở Mexico, các Hiệp sĩ Hổ đều biết cách đưa cơ thể vật chất của mình vào siêu không gian.29

Tại châu Mỹ, có nhiều hồ nước, núi non và đền thờ tồn tại trong trạng thái Jinn. Ở Mexico có đền thờ Chapultepec, hiện đang ở trong trạng thái Jinn, ẩn sâu trong siêu không gian. Chính tại ngôi đền này, Thầy Huiracocha đã nhận được lễ điểm đạo.

c47d6932cc401531082f640372d1c4ce8e3d155d topaz upscale Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Nhà huyền học, bác sĩ Arnold Krumm-Heller, pháp danh Huiracocha.

Bên cạnh mỗi ngôi đền ánh sáng là một ngôi đền bóng tối. Nơi nào ánh sáng càng tỏa chiếu rực rỡ thì nơi đó bóng tối càng trở nên dày đặc hơn.

Các Hiệp sĩ Chén Thánh Trắng không thể tránh khỏi việc chiến đấu với các Hiệp sĩ Chén Thánh Đen.

Sảnh đường Ma thuật ở Salamanca, Tây Ban Nha, là bản đối lập chết chóc của đền thờ Montserrat.

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về sự tương đồng kỳ lạ của các thế lực đối lập. Đền thờ Chén Thánh Trắng là một tu viện tráng lệ của ánh sáng vĩ đại. Trong khi đó, đền thờ Salamanca là một tu viện tráng lệ của bóng tối.

Tu viện Montserrat có hai tầng; lâu đài ma thuật cũng vậy. Xung quanh tu viện Montserrat có những vườn hoa tuyệt đẹp ngát hương thơm. Lâu đài ma thuật cũng được bao quanh bởi những khu vườn thơ mộng, nơi mỗi bông hoa đều tỏa ra hơi thở của thần chết.

Cả hai tu viện đều là những tòa nhà tráng lệ. Trong cả hai nơi ấy, người ta đều nói về sự thật và công lý bằng những lời lẽ đẹp đẽ. Trật tự và văn hóa đều ngự trị trong cả hai đền thờ. Tình yêu và sự thánh thiện cũng được ca ngợi ở cả hai nơi. Điều này hẳn sẽ khiến độc giả ngạc nhiên và tự hỏi: “Làm sao có thể nói về sự thánh thiện và tình yêu trong những đền thờ của ác quỷ?” Xin quý độc giả đừng quá bối rối trước điều này. Anh chị em thân mến, hãy nhớ rằng các Hiệp sĩ Chén Thánh Đen đều là những con sói đội lốt cừu.

Các đạo sư của con đường tả đạo rất thích phóng xuất tinh dịch Kitô hóa, và chính vì thế họ là những pháp sư đen. Triết lý của họ là triết lý chết người: đối với họ, mọi điều thiện là ác, và mọi điều ác lại là thiện. Họ xem giáo lý của Yahweh là thiêng liêng, còn giáo lý của Đấng Kitô là giáo lý của ma quỷ. Các chúa tể bóng tối căm ghét Đấng Kitô. Những đứa con của địa ngục căm ghét Đức Mẹ. Trong cõi của mình, họ tấn công dữ dội bất kỳ ai cầu gọi Đức Mẹ hoặc Người Con rất mực yêu dấu của Mẹ.30

Nếu một nhà nghiên cứu tâm linh học bước vào lâu đài ma thuật trong cơ thể cảm xúc, họ sẽ thấy những cầu thang xoắn ốc tao nhã tuyệt đẹp dẫn đến nơi bí ẩn nhất trong tòa nhà. Đây là một đại sảnh trang nhã, được trang trí theo phong cách xa hoa lộng lẫy của các dinh thự quý tộc thế kỷ XVIII. Nơi đây tỏa sáng với những chiếc gương kỳ ảo giống như trong sách Nghìn lẻ một đêm,31 những tấm thảm thần và toàn bộ vẻ đẹp tà ác của Na-hê-ma. Kẻ thống trị cơ ngơi lộng lẫy chết người đó là Don Ramon Rubifero, hiệp sĩ Chén Thánh Đen lừng danh, con ác quỷ khủng khiếp của bóng tối.

Khốn thay cho những học trò đặt chân vào lâu đài ma thuật. Vẻ đẹp chết người của Na-hê-ma sẽ mê hoặc họ bằng tất cả bùa chú ma lực quyến rũ ngọt ngào của cô ta. Rồi họ sẽ bị cuốn xuống vực thẳm, nơi chỉ còn tiếng khóc than và tiếng nghiến răng vang vọng. Thà rằng những kẻ ấy chưa từng được sinh ra, hoặc bị buộc đá cối xay quanh cổ mà ném xuống biển sâu, thì cũng vẫn còn tốt hơn.32

Trong đền thờ Montserrat, vinh quang của Chén bạc chứa máu của Đấng Cứu Thế tỏa sáng rực rỡ. Trong đền thờ Salamanca, bóng tối của Chén Thánh Đen bừng lên. Ở đền Montserrat, người ta tổ chức những lễ hội tâm linh vĩ đại. Còn tại đền Salamanca, người ta tổ chức những điệu nhảy phàm tục và các buổi hội phù thủy ghê tởm.

Các Hiệp sĩ Chén Thánh tôn thờ Đấng Kitô và Đức Mẹ. Các Hiệp sĩ Chén Đen tôn thờ Yahweh và bóng đen chết người của tự nhiên vĩ đại. Bóng đen đó là Santa Maria.33 Vương quốc của Santa Maria là địa ngục. Cuộc chiến vĩ đại giữa các thế lực ánh sáng và bóng tối cổ xưa như chính sự vĩnh cửu.

Cốt lõi của cuộc chiến vĩ đại này chính là tình dục. Các pháp sư trắng muốn đưa con rắn đi lên. Các pháp sư đen thì muốn làm con rắn đi xuống. Pháp sư trắng đi theo con đường của Hôn nhân hoàn hảo. Pháp sư đen lại thích ngoại tình và tà dâm.

Bạch Đại Hội Quán có các bậc thầy, Hắc Đại Hội Quán cũng có bậc thầy. Bạch Đại Hội Quán có các đệ tử, Hắc Đại Hội Quán cũng có đệ tử.

Đệ tử của Bạch Đại Hội Quán biết di chuyển một cách tích cực và chủ động trong cơ thể cảm xúc. Đệ tử của Hắc Đại Hội Quán cũng biết du hành trong cơ thể cảm xúc.

Tất cả chúng ta khi còn nhỏ đều từng nghe nhiều truyện cổ tích về phù thủy và thần tiên. Các bà của chúng ta thường kể cho ta nghe chuyện về những mụ phù thủy cưỡi chổi bay xuyên qua mây vào lúc nửa đêm. Mặc dù điều này có vẻ khó tin đối với nhiều học trò của huyền học, Thông Thiên Học, Thập Tự Hoa Hồng, v.v., nhưng những phù thủy đó có thật. Họ không cưỡi chổi như các bà vẫn tưởng, nhưng họ biết cách bay qua không trung. Những người được gọi là “phù thủy” đó có thể di chuyển xuyên qua không gian bằng chính cơ thể bằng xương bằng thịt của mình. Họ biết cách tận dụng siêu không gian để di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cơ thể vật chất.34 35

Chẳng bao lâu nữa, vật lý thiên văn sẽ khám phá ra siêu không gian. Sự tồn tại của siêu không gian có thể được chứng minh bằng hình học đa chiều. Khi một vật thể được “nhúng” vào siêu không gian, người ta nói rằng vật thể đó đã bước vào trạng thái Jinn. Trong trạng thái Jinn, vật thể vượt ra ngoài định luật hấp dẫn — và do đó, nó sẽ lơ lửng trong siêu không gian.

Có thể tích và siêu thể tích. Những người được gọi là phù thủy di chuyển trong siêu thể tích của không gian cong nơi chúng ta đang sống. Không gian cong không chỉ tồn tại ở Trái Đất mà còn thuộc về toàn bộ không gian vô tận của các vì sao. Nếu như lốc xoáy là minh chứng cho sự quay của Trái Đất, thì chuyển động quay của các mặt trời, chòm sao và các hành tinh chắc chắn là bằng chứng cụ thể cho thấy không gian có độ cong.36

coriolis reference photorealistic cloud wonder 3 3400w Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Hiệu ứng Coriolis khiến các cơn bão ở Bắc bán cầu xoáy ngược chiều kim đồng hồ, trong khi ở Nam bán cầu, chúng xoáy theo chiều kim đồng hồ.

Các pháp sư trắng cũng biết cách đưa cơ thể vật chất vào trạng thái Jinn. Chúa Giêsu đã đi trên mặt nước biển Ga-li-lê bằng cách khéo léo sử dụng siêu không gian. Các đệ tử của Đức Phật cũng đã từng sử dụng siêu không gian để đi xuyên qua đá. Tại Ấn Độ, có những yogi có thể đi qua lửa mà không bị bỏng nhờ sử dụng siêu không gian. Thánh Phêrô đã dùng siêu không gian để thoát khỏi ngục và tự cứu mình khỏi án tử hình. Bậc yogi vĩ đại Patanjali viết trong các cách ngôn của mình rằng khi thực hành samyama trên cơ thể vật chất, thân thể ấy sẽ trở nên nhẹ như bông và có thể bay lơ lửng trong không trung.

332721 Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Chúa Giêsu đi bộ trên mặt nước – tranh của Ivan Aivazovsky, năm 1888.

Một samyama bao gồm ba bước: quán tưởng, thiền và định.37 Đầu tiên, người yogi chú tâm vào cơ thể vật chất của mình. Tiếp theo, người ấy thiền và tập trung vào thân thể, khiến nó dần rơi vào trạng thái ngủ.38 Cuối cùng, trong trạng thái định, người yogi ngồi dậy, rời khỏi giường với cơ thể vật lý trong trạng thái Jinn. Khi đó, người ấy có thể thâm nhập vào siêu không gian, thoát khỏi luật hấp dẫn và lơ lửng trong không trung.

Tín đồ của Santa Maria — phù thủy và pháp sư — cũng làm được như vậy, nhưng bằng các phương thức của ma thuật đen.

Pháp sư trắng đưa cơ thể của mình vào trạng thái Jinn để đi vào một chiều không gian cao hơn. Pháp sư đen cũng đưa cơ thể vật chất vào trạng thái Jinn, nhưng để bước vào một chiều không gian thấp hơn.

Trong toàn thể tự nhiên luôn có một quá trình cộng trừ giữa các chiều không gian vô tận. Chúng ta rời khỏi một chiều không gian này để bước vào một chiều không gian khác — cao hơn hoặc thấp hơn. Đấy là quy luật.

Vương quốc của Santa Maria là địa ngục của những kẻ thất bại. Vương quốc của ánh sáng là nơi ngự trị của các vị thần.

Chỉ những ai đã đạt đến sự khiết tịnh tối thượng mới có thể sống trong vương quốc của ánh sáng. Trong địa ngục, khiết tịnh bị xem là một tội lỗi, và tà dâm trở thành luật lệ.

Kẻ nào nhìn thấy lâu đài tráng lệ của Yahweh-Semo đều sẽ bị choáng ngợp trước sự xa hoa và niềm hoan lạc. Ở đó, họ sẽ gặp hàng ngàn phù thủy đen được phú cho vẻ đẹp tà ác khủng khiếp. Người nào thiếu kinh nghiệm bước chân vào những nơi độc địa như vậy có thể lạc vào con đường sai lầm và rơi xuống địa ngục vĩnh viễn của sự diệt vong. Vẻ đẹp tà ác của Na-hê-ma rất nguy hiểm.

Trong những ngôi đền của ánh sáng, chỉ có tình yêu và trí tuệ ngự trị. Những kẻ u tối không thể bước vào, vì họ sống trong một chiều không gian thấp hơn.

Sắc đẹp của Na-hê-ma chính là sự diệt vong. Những người từng yêu nhau tha thiết, những ai đã thề nguyện yêu nhau trọn đời, lẽ ra đã có thể hạnh phúc. Nhưng không may thay, vì bị mê hoặc bởi sắc đẹp của Na-hê-ma, họ đã quay sang say mê vợ hoặc chồng của người khác và rơi vào vực thẳm của tuyệt vọng. Trong lâu đài của Yahweh-Semo, sắc đẹp của Na-hê-ma tỏa sáng một cách chết người.

Các pháp sư đen có một biểu tượng linh thiêng: đó là cái vạc đồng. Các pháp sư trắng thì có biểu tượng thiêng liêng là cây Thánh Giá. Thánh Giá còn tượng trưng cho dương vật. Dương vật thẳng đứng được đưa vào tử cung nằm ngang tạo thành hình thánh giá. Thánh Giá mang quyền năng sáng tạo. Không thể có sự sáng tạo mà không có dấu hiệu của Thánh Giá. Các loài động vật được phối giống với nhau, các nguyên tử và phân tử cũng được kết hợp với nhau để duy trì sự sống.

Những đóa hồng thiêng liêng của tâm linh nở rộ trên thánh giá của cuộc Hôn nhân hoàn hảo. Hôn nhân hoàn hảo là sự hợp nhất giữa hai người: một người yêu nhiều hơn và một người yêu tốt hơn. Tình yêu là tôn giáo tốt đẹp nhất mà nhân loại có thể tiếp cận.

Pháp sư đen căm ghét Hôn nhân hoàn hảo. Sắc đẹp chết người của Na-hê-ma và những tội ác tình dục của Li-lit chính là mặt đối lập chết người của Hôn nhân hoàn hảo.

Pháp sư trắng tôn thờ Đấng Kitô nội tại. Pháp sư đen thì tôn thờ Sa-tan. Đó chính là cái tôi, cái “bản thân tôi”, cứ mãi đầu thai trong luân hồi. Thật vậy, cái tôi chính là Bóng ma ở Ngưỡng cửa39, kẻ cứ mãi đầu thai để thỏa mãn các dục vọng. Cái tôi là ký ức. Trong cái tôi chứa đựng tất cả ký ức về các tính cách xưa cũ của chúng ta. Cái tôi chính là Ahriman, là Lu-xi-phe, là Sa-tan.

Bản thể đích thực của chúng ta là Đấng Kitô nội tại. Bản thể của chúng ta có bản chất phổ quát, chứ không phải là một cái tôi cá nhân ở cấp thấp hoặc cấp cao. Bản thể không mang tính cá nhân mà mang tính phổ quát và thiêng liêng, vượt lên trên mọi khái niệm về cái tôi, “bản thân tôi”, v.v.

Pháp sư đen củng cố sức mạnh cho Sa-tan bên trong và lấy đó làm nền tảng cho sức mạnh chết chóc của mình. Hình dạng và kích cỡ của Sa-tan tùy thuộc vào mức độ tà ác của con người. Khi chúng ta bước vào con đường Hôn nhân hoàn hảo, Sa-tan sẽ bắt đầu mất đi kích cỡ và độ xấu xí của nó. Chúng ta cần phải làm tan rã Sa-tan. Việc này chỉ có thể thực hiện được thông qua Hôn nhân hoàn hảo.

Chúng ta phải vươn lên đến trạng thái thiên thần. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách thực hành phép tình dục với người vợ/chồng tu sĩ của mình. Thiên thần là con người hoàn hảo.

Có hai loại phép tình dục: trắng và đen; tích cực và tiêu cực.

Phép tình dục có xuất tinh là ma thuật đen. Phép tình dục không xuất tinh là phép thuật trắng.

Các thầy Bon và Drukpa của hội “Mũ Đỏ” xuất tinh rồi sau đó thu lại tinh dịch từ trong âm đạo.40 Tinh dịch đã xuất ra này, sau khi được pha lẫn với dịch sinh dục nữ, được hấp thụ ngược trở lại qua niệu đạo bằng một phương pháp đen tối.

Kết quả chết người của phép Tantra đen làm con rắn thức tỉnh theo hướng hoàn toàn tiêu cực. Khi đó, thay vì đi lên theo ống tủy sống thì con rắn đi xuống về phía các hỏa ngục nguyên tử của con người. Đó chính là cái đuôi ghê sợ của Sa-tan. Bằng phương pháp này, các thầy Drukpa và Bon mãi mãi rời bỏ Đấng Kitô nội tại và chìm xuống địa ngục khủng khiếp vĩnh viễn.

rsw 1280 Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Ảnh minh họa về quỷ dữ với cái đuôi. Cái đuôi này phát triển trên cơ thể cảm xúc khi sức mạnh tâm linh của con rắn Kundalini được thức tỉnh theo cách tiêu cực và đi xuống thay vì đi lên. Tranh: “Chúa Giêsu Bị Cám Dỗ”, Cambridge Psalter, Bản thảo Arundel 157, khoảng năm 1200–1225. Đọc thêm về ý nghĩa của cái đuôi này tại đây.

Không một pháp sư trắng nào xuất tinh; pháp sư trắng luôn đi theo con đường của Hôn nhân hoàn hảo.

Các thầy Bon và Drukpa của trường phái “Mũ Đỏ” muốn dùng phương thức chết người này để kết hợp các nguyên tử âm và dương nhằm đánh thức Kundalini. Kết quả của sự vô minh ấy là họ mãi mãi xa rời Đức Cha nội tại.

Pháp sư trắng kết hợp các nguyên tử âm và dương trong lò luyện kim đan tình dục của chính mình. Đó chính là mục đích của cuộc Hôn nhân hoàn hảo. Hãy tôn thờ phụ nữ. Hãy sùng mộ tình yêu.

Cuộc chiến vĩ đại giữa các pháp sư đen và pháp sư trắng bắt nguồn từ tình dục. Con rắn cám dỗ của vườn Ê-đen và con rắn đồng từng chữa bệnh cho người Israel ở sa mạc luôn chiến đấu với nhau. Khi con rắn đi lên, chúng ta trở thành thiên thần; khi nó đi xuống, chúng ta biến thành ác quỷ.

Trong khi thực hành phép tình dục, ba hơi thở Akasha tinh khiết chảy xuống dọc theo dây mạch Brahman sẽ được tăng thêm sức mạnh.41 Khi một pháp sư xuất tinh, họ đánh mất hàng nghìn tỷ nguyên tử thái dương. Những nguyên tử đó sẽ bị thay thế bởi hàng nghìn tỷ nguyên tử ác quỷ mà cơ quan sinh dục hấp thu qua các rung động thần kinh xảy ra sau khi xuất tinh. Các nguyên tử Sa-tan này sẽ tìm cách đi lên não qua dây mạch Brahman, nhưng ba hơi thở Akasha sẽ đẩy chúng xuống địa ngục.42 Khi chúng đập vào vị thần nguyên tử đen nằm ở xương cụt, con rắn sẽ thức tỉnh và trườn xuống dưới, tạo thành cái đuôi của quỷ trong cơ thể cảm xúc.

nadis Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Ảnh minh họa về ba dây mạch dẫn khí lực dọc cột sống. Iđa và Pingala dẫn khí âm và dương ở hai bên cột sống. Sushumna nằm bên trong cột sống. Bên trong Sushumna có hai nadi nhỏ hơn: Vajra và Chitrini. Bên trong Chitrini là Brahmanadi, ống dẫn Kundalini.

Thiên thần là những Con Người hoàn hảo. Chúng ta cần có Hôn nhân hoàn hảo để vươn tới trạng thái thiên thần. Còn ác quỷ là những con người đồi trụy.

Có hai loại phép tình dục: đen và trắng. Người tập phép tình dục trắng thì cả đời không bao giờ xuất tinh. Người tập phép tình dục đen thì xuất tinh.

Các thầy Bon và Drukpa của Hắc Hội Quán Tây Tạng luôn xuất tinh. Những kẻ đen tối ấy, sau khi xuất tinh, sẽ dùng một dụng cụ đặc biệt để thu lại tinh dịch từ âm hộ của người phụ nữ. Sau đó, họ hấp thụ ngược tinh dịch đó qua niệu đạo bằng một sức mạnh đen tối — một biến thể của ấn Vajroli.43 Chúng tôi không tiết lộ phương pháp này ở đây để tránh truyền bá thứ khoa học chết người của bóng tối.

Các pháp sư đen tin rằng họ có thể đánh thức Kundalini bằng cách pha trộn các nguyên tử âm và dương. Kết quả là, thay vì đi lên qua ống tủy sống, ngọn lửa trong cột sống lại đi xuống địa ngục nguyên tử của con người và biến thành cái đuôi của Sa-tan.

Pháp sư trắng kết hợp các nguyên tử âm và dương trong lò luyện kim đan tình dục của mình mà không phạm tội xuất rượu tinh. Theo cách này, Kundalini được đánh thức một cách tích cực và đắc thắng đi lên qua ống tủy sống. Đây là con đường để trở thành thiên thần.

Pháp sư trắng khao khát trở thành thiên thần. Còn các chúa tể phe bóng tối muốn đạt đến cấp bậc Anagarika.44

Những linh hồn đi theo con đường Hôn nhân hoàn hảo thì sẽ hợp nhất với Đức Cha nội tại và vươn tới vương quốc của Siêu Nhân.45

Những linh hồn căm ghét con đường của Hôn nhân hoàn hảo sẽ tự tách mình khỏi Đức Cha nội tại và chìm xuống địa ngục.

Pháp sư trắng đưa năng lượng sinh dục đi lên qua hai dây thần kinh giao cảm của ống tủy sống. Hai dây này quấn quanh ống tủy sống, tạo thành hình số tám thiêng liêng. Đây chính là hai nhân chứng của sách Khải Huyền.46

ZechariahMenorah BibliaDeCervera Scaled Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
“Tôi thấy một cây đèn từ đầu đến chân đều bằng vàng; trên đầu có một bầu đèn chứa dầu. Trên bầu đèn ấy chĩa ra bảy ngọn đèn. Trên đầu bảy ngọn đèn là bảy nụ hoa đèn có tim đèn dẫn xuống bầu đèn chứa dầu bên dưới. Bên cạnh cây đèn ấy có hai cây ô-liu. Một cây ở bên phải bầu đèn, và một cây ở bên trái bầu đèn.” (Xa-cha-ri 4:2–3)

Ảnh minh hoạ từ Kinh Thánh tiếng Do Thái Biblia de Cervera, năm 1299–1300. Theo sách Xa-cha-ri, hai cây ô-liu tượng trưng cho “hai người được xức dầu”. Thầy Samael giải thích rằng hai cây ô-liu cùng với hai nhân chứng trong sách Khải Huyền tượng trưng cho Ida và Pingala, là hai đường mạch chạy hai bên cột sống, dẫn khí lực từ trung tâm sinh dục lên não bộ.
1BambergApocalypseFolio027v2ProphetsAndBeastFromAbyss gigapixel wonder Chương 3 – Trận chiến vĩ đại
Hai nhân chứng của sách Khải Huyền – Ảnh minh hoạ từ Bamberg Apocalypse, trang 27 – thế kỷ 11.

“Hỡi người anh em, hãy rót rượu thiêng của ánh sáng cho đầy chén của mình.”

Hãy nhớ rằng chén thánh chính là bộ não. Bạn cần có đôi mắt của đại bàng và đôi cánh rực lửa.

Các thế lực đen tối luôn tìm cách kéo bạn ra khỏi con đường chân chính. Hãy biết rằng ba mối nguy hiểm lớn nhất rình rập người học trò là những bà đồng, ông cốt gọi hồn, các nhà tiên tri giả và những cám dỗ tình dục.47

Đây là con đường lưỡi dao – con đường đầy rẫy nguy hiểm, từ trong ra ngoài.

Hãy sống tỉnh thức và cảnh giác như lính gác trong thời chiến. Đừng để mất cảnh giác trước những kẻ xem tình dục chỉ là một chức năng thuần túy của loài vật mà hoàn toàn không mang bất kỳ ý nghĩa siêu việt nào về tâm linh. Các nhà tiên tri giả nói chung đều căm ghét tình dục. Họ thường đưa ra những giáo lý mới lạ khiến những người yếu đuối kinh ngạc; sau khi mê hoặc họ, các nhà tiên tri giả dẫn họ xuống địa ngục.

Đừng bị rối trí trước lời giả dối của các thế lực đen tối. Hãy nhớ rằng những ông đồng, bà cốt gọi hồn thường làm phương tiện cho các vong linh đen tối. Những vong linh này giả vờ thánh thiện và khuyên mọi người không nên theo con đường Hôn nhân hoàn hảo. Họ hay tự xưng danh là Chúa Giêsu, Đức Phật, v.v. để lừa gạt người nhẹ dạ cả tin.

Hãy đề phòng những cám dỗ luôn rình rập phía trước. Hãy sống cẩn trọng và tỉnh thức.

Hãy nhớ rằng cuộc chiến vĩ đại giữa các thế lực ánh sáng và bóng tối diễn ra trong tình dục.

Bất kỳ ai bước vào con đường của Hôn nhân hoàn hảo đều phải hết sức cẩn trọng với ba mối nguy hiểm nghiêm trọng này. Các thế lực đen tối sẽ không ngừng tìm cách kéo bạn ra khỏi con đường của Hôn nhân hoàn hảo.

Đừng bị cám dỗ bởi những giáo lý tưởng chừng siêu phàm mà khuyến khích việc xuất tinh, bởi đó chính là ma thuật đen. Vua của các nguyên tử độc ác luôn đợi sẵn ở xương cụt, chực chờ cơ hội để đánh thức con rắn theo hướng tiêu cực và đưa nó đi xuống.

Khi tinh bị xuất ra, vị thần nguyên tử đen nhận được một xung điện mạnh mẽ — đủ để đánh thức con rắn và dẫn nó đi xuống các địa ngục nguyên tử trong con người. Bằng cách này, con người trở thành quỷ dữ. Chính như vậy mà con người rơi xuống vực thẳm.

  1. Trong thuật ngữ của nhà huyền học Éliphas Lévi, ánh sáng tinh tú (tiếng Pháp: Lumière Astrale) là trường năng lực trong bầu khí quyển xung quanh mỗi hành tinh. Đó là nơi các linh hồn cư ngụ trong khoảng thời gian sau khi chết và trước khi tái sinh vào kiếp sau. Trường năng lực này hấp thụ năng lượng Mặt Trời. Người nào biết cách kết nối với nguồn năng lượng này sẽ có thể thực hiện được phép thần thông. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2025/04/17/anh-sang-tinh-tu/ ↩︎
  2. Con rắn đồng chữa lành: https://gnosisvn.org/2022/01/07/mo-se-treo-con-ran-dong-len-cay-sao-dan-so-ky-124-9/ ↩︎
  3. Con rắn cám dỗ: https://gnosisvn.org/2021/09/24/chuyen-ngu-ngon-cua-a-dam-va-e-va/ ↩︎
  4. Đọc thêm về con rắn đi xuống ở đây: https://gnosisvn.org/2021/09/01/kundabuffer/ ↩︎
  5. Đổ chén thánh: “Chén của Hermes” tượng trưng cho trung tâm sinh dục. Đánh đổ chén rượu nghĩa là xuất tinh. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2023/09/08/chiec-chen-cua-hermes-trismegistus/ ↩︎
  6. Kitô – https://gnosisvn.org/2017/01/20/kito/ ↩︎
  7. Yahweh – https://gnosisvn.org/2024/06/04/gie-ho-va-yahweh/ ↩︎
  8. Đọc thêm về câu chuyện này trong Kinh Thánh. ↩︎
  9. Ẩn mình đằng sau thánh giá: họ giả vờ đi theo Đức Kitô để che giấu tội lỗi của mình. Câu này phản ánh văn hóa Thiên Chúa giáo của người Mexico. ↩︎
  10. Kha-ni-el – bản tiếng Tây Ban Nha phiên âm tên này là “Anael”. Dịch giả viết phiên âm tiếng Việt “Kha-ni-el” theo cách phát âm tên này trong tiếng Do Thái. ↩︎
  11. Li-lit – trong tiếng Anh, tên này được đánh vần thành “Lilith”. ↩︎
  12. Trong thần thoại Hy Lạp, Eros là thần tình yêu. Đọc thêm. ↩︎
  13. Nhà thần thuật – Thầy Samael Aun Weor định nghĩa nhà thần thuật như sau:
    “Một nhà thần thuật phải phát triển khả năng xuất hồn trong cơ thể cảm xúc một cách hiệu quả. Phép màu này phải thành thói quen, đến nỗi có thể xuất hồn bất kỳ lúc nào, trong mọi hoàn cảnh, dù đang ở một mình hay đứng trước mặt nhân chứng. Nếu không làm được như vậy, thì không thể gọi là nhà thần thuật.” (Logos, Mantra, Theurgy – Samael Aun Weor). ↩︎
  14. Iamblichus và câu chuyện về Eros, Anteros:
    “Sau đó, họ quyết định đi đến Gadara, nơi có hồ bơi ấm ở Syria, chỉ kém một chút so với những hồ bơi ở Baiae, Italia, là những hồ bơi đẹp nhất thế giới. Họ đi vào mùa hè. Khi tới đó, [Iamblichus] đi tắm cùng với [các đệ tử], và họ vẫn tiếp tục cầu xin ngài [biểu diễn phép thần thông, mặc dù ngài đã từ chối nhiều lần rồi]. Khi nghe, Iamblichus mỉm cười và nói:
    ‘Biểu diễn như thế là bất kính với thánh thần. Tuy nhiên, thầy sẽ chiều các con.’
    Ở đó có hai suối nước nóng, nhỏ hơn và đẹp hơn so với các suối bên cạnh, và ngài đã bảo các đệ tử hỏi dân ở đó người xưa đã gọi hai suối nước nóng này bằng tên nào. Khi các đệ tử đã tuân lời rồi thì thầy bảo:
    ‘Không nghi ngờ gì nữa, suối nước này được gọi là Eros và suối nước bên cạnh là Anteros.’
    Ngay lập tức thầy chạm tay vào nước – thầy đang ngồi ở một góc của suối nước đó, chỗ nước tràn xuống – sau khi đã nói một lời triệu tập ngắn gọn, ngài gọi một chàng trai lên từ sâu thẳm của suối nước. Chàng trai đó có da trắng, chiều cao trung bình, tóc vàng, lưng và ngực tỏa sáng, và giống y hệt như một người đang tắm hay vừa mới tắm xong. Các môn đệ choáng ngợp vì ngạc nhiên, nhưng Iamblichus bảo:
    ‘Chúng ta hãy đi xem suối nước tiếp theo.’
    Thầy đứng lên và dẫn đường với dáng điệu chu đáo. Ở đó thầy biểu diễn như lần trước và gọi được một người giống Eros ở tất cả các khía cạnh, ngoại trừ mái tóc màu tối hơn, bù xù ở dưới ánh nắng Mặt Trời. Cả hai chàng trai ôm Iamblichus và bám vào người như thể ngài là cha thật của họ. Sau đó ngài đã trả hai chàng trai về chỗ cũ và sau khi tắm xong, ngài đi, và được các đệ tử kính trọng.”
    (Nguồn: “Lives of the Philosophers and Sophists” của Eunapius) ↩︎
  15. Adam có hai vợ: Theo Kinh Thánh, vợ của Adam là Eva, nhưng theo Kinh Zohar, có một thời điểm Adam bỏ Eva:
    “Adam bỏ vợ và sống cùng với hai tinh linh nữ. Từ việc giao hợp với hai tinh linh này đã sinh ra rất nhiều con quỷ và các tinh linh có hình thức rất quyến rũ, thường xuất hiện vào ban đêm. Từ đó, nhiều tinh linh tương tự lại được sinh ra.”
    (Nguồn: Kinh Zohar)
    Chú ý rằng trong tiếng Do Thái, từ A-đam (אָדָם) có nghĩa là “người”. Vì thế, chúng ta có thể hiểu thông tin này như một câu chuyện tượng trưng cho nhân loại nói chung. ↩︎
  16. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, danh hiệu “Elohim” nghĩa là “thiên thần”. ↩︎
  17. Tên A-đra-me-lec xuất hiện trong Sách II Các Vua 17:31. Kinh Thánh tiếng Việt phiên âm tên này thành Át-ram-mê-léc. Chúng tôi viết “A-đra-me-lec” để giống phiên âm tiếng Hebrew. ↩︎
  18. Đọc thêm về Elohim Ghi-bôr và A-đra-me-lec tại đây. ↩︎
  19. Mặt trăng đen, hay còn gọi là mặt trăng thứ hai: Thiên văn học hiện đại đã phát hiện ra nhiều thiên thể nhỏ có quỹ đạo gần Trái Đất. Hành tinh Cruithne là một ví dụ. Cruithne được gọi là “mặt trăng thứ hai” của Trái Đất. “Mặt trăng đen” mà thầy Samael mô tả ở đây có thể là Cruithne hoặc có thể là một hành tinh khác. Đọc thêm về Cruithne tại đây. ↩︎
  20. Tiếng nói vi tế:
    “Nhưng Đức Chúa Trời nói: ‘Con hãy ra ngoài và đứng trên núi, trước mặt Đức Giê-hô-va.’ Kìa! Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một cơn gió rất mạnh xẻ các ngọn núi và làm các vách đá vỡ ra trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn gió. Sau cơn gió là một trận động đất, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận động đất. Sau trận động đất là một ngọn lửa, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong ngọn lửa. Sau ngọn lửa là một giọng nói êm dịu, nhỏ nhẹ. Khi vừa nghe giọng nói ấy, Ê-li-gia lấy áo choàng quấn mặt lại và ra đứng tại cửa hang. Có một giọng nói hỏi ông: ‘Con làm gì ở đây vậy, Ê-li-gia?’”
    (Nguồn: I Các Vua 19:11–13, Kinh Thánh). ↩︎
  21. “Công trình Vĩ đại” là thuật ngữ chuyên môn của thuật luyện kim đan chỉ quá trình tu tập. ↩︎
  22. “Trên sao thì dưới cũng vậy”: Câu nói này được rút gọn từ một khái niệm trong Bản Bích Ngọc của Hermes Trismegistus: “Cái gì ở dưới tương ứng với cái gì ở trên, và cái gì ở trên tương ứng với cái gì ở dưới, để đạt tới những phép nhiệm màu của Nhất Thể.” Nói cách khác, vũ trụ được tạo dựng theo một cơ cấu chung, trên dưới như nhau, nhằm thể hiện rằng tất cả đều là một. Đọc thêm. ↩︎
  23. Đọc thêm về Kha-va-iot tại đây. ↩︎
  24. Các thế giới nội tại: cụm từ này chỉ cõi cảm xúc, cõi lý trí và cõi ý chí; đôi khi, cụm từ này cũng có thể chỉ các cõi cao hơn nữa. Đọc thêm. ↩︎
  25. Cõi ê-te là cõi khí lực. Đọc thêm. ↩︎
  26. Đọc chuyện A-đam và Ê-va bị trục xuất khỏi vườn Ê-đen trong Kinh Thánh Cựu Ước tại đây. ↩︎
  27. Trong trạng thái Jinn, các đối tượng vật chất có khả năng thực hiện những hiện tượng kỳ diệu như xuyên qua tường đặc, bay lơ lửng trên không, biến đổi hình dáng và kích cỡ, hoặc trở nên vô hình. Những hiện tượng như vậy đã được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo, Kitô giáo và đa số các tôn giáo khác. Đọc thêm. ↩︎
  28. Siêu không gian (tiếng Anh: hyperspace): trong toán học, không gian nào có hơn 3 chiều được gọi là siêu không gian. ↩︎
  29. Hiệp sĩ Hổ là những chiến binh ưu tú trong văn hóa Aztec. ↩︎
  30. Đọc thêm về con đường tả đạo và con đường hữu đạo. ↩︎
  31. Tập Nghìn lẻ một đêm có hai câu chuyện kể về những chiếc gương thần kỳ. “Chuyện kỳ lạ về chiếc gương của các nữ đồng trinh” kể về một chiếc gương có khả năng cho biết một cô gái có còn trinh tiết hay không. Phiên bản tiếng Anh của Mardrus và Mathers dịch tên truyện này là Strange Tale of the Mirror of Virgins. Trong truyện “Ông chồng và con vẹt”, một chiếc gương được dùng để đánh lừa một con vẹt. Có thể Thầy Samael đang muốn nói đến chiếc gương đánh lừa này trong Nghìn lẻ một đêm. ↩︎
  32. Buộc đá cối xay quanh cổ:
    “Nếu ai làm cho một trong những em nhỏ này đã tin ta mà phạm tội, thì lấy tảng đá buộc vào cổ người ấy quăng cho chết chìm dưới biển còn dễ chịu hơn là trả nghiệp.” (Ma-thi-ơ 18:6, Kinh Thánh) ↩︎
  33. Ở một bài viết khác, thầy Samael giải thích rằng người này không phải là Đức Mẹ Maria, mẹ của Chúa Giêsu, mà là bản phản chiếu đối lập của Đức Mẹ Maria. Sách Hôn nhân hoàn hảo là sách đầu tiên của Samael Aun Weor. Một số thông tin trong sách này đã được chỉnh sửa ở những tác phẩm thầy viết trong những năm sau. Liên quan đến chủ đề của Santa Maria, ở chương 66 của sách Tarot và Kabbala, thầy giải thích như sau:

    “Santa Maria là một người đã chia sẻ cuộc đời mình với biết bao pháp sư hắc đạo, đã từng chen chân vào vô số giáo phái. Khi tôi nghiên cứu thế lực kỳ lạ ấy trong cõi Kliphoth [là các cõi địa ngục], tôi vẫn chưa từng thấy nơi nàng điều gì có thể gọi là sự sa đọa. Những kẻ u tối của ‘con đường tả đạo’, các sinh linh của các cõi thái âm, đều tôn thờ nàng và xem nữ pháp sư này không phải là một thực thể đen tối mà đúng hơn là một vị thánh. Tôi muốn biết liệu trong đó có sự thật nào không, sự ‘thánh thiện’ bị đồn đại của một sinh thể hòa mình vào bóng tối, hiện diện trong nhiều giáo phái và tu viện của thời Trung cổ. Ai đã từng nghiên cứu các ghi chép cổ xưa về thần thuật cao cấp và hạ cấp thời Trung cổ mà chưa từng nghe đến Maria xứ Antilla? […] Có biết bao bí mật còn ẩn trong lớp bụi của các thư viện! […] Dĩ nhiên, tôi biết mình phải làm rõ điều này! Và tôi đã làm rõ điều đó chính xác vào lúc tôi triệu thỉnh bà ấy trong thế giới Tiphereth. Bà đã đến khi nghe tôi gọi, và thật bất ngờ, tôi gặp một bậc thầy khai sáng. Khi ấy tôi hiểu rằng bà đã gửi vị Bồ Tát của mình hóa thân vào thế giới, và vị Bồ Tát ấy chuyên về thần thuật trong Tam giác thần thuật, hay Tam giác thứ ba [trên Cây Sự Sống, bao gồm cõi lý trí, cõi cảm xúc và cõi khí lực]. Nàng đang trải qua một sự huấn luyện nghiêm khắc, khởi đầu từ các cõi Kliphoth nhưng không gây hại cho bất kỳ ai.” ↩︎
  34. Siêu không gian là không gian bốn chiều. Đọc thêm. ↩︎
  35. Siêu không gian cũng liên quan đến trạng thái Jinn. Đọc thêm. ↩︎
  36. Tác giả đang đề cập đến hiệu ứng Coriolis. ↩︎
  37. Quán tưởng, thiền, định: Ba khía cạnh cuối cùng trên con đường Ashtanga Yoga của Patanjali là Dharana (chú tâm), Dhyana (thiền) và Samadhi (định). Dưới đây là phần giải thích được dịch từ Yoga Sutra của Patanjali, theo bản dịch của Swami Vivekananda:

    III.1. Dhāranā tức là chú tâm vào một đối tượng nhất định.
    Lời giải của Swami Vivekananda: Tâm cố tập trung ý niệm ở một nơi, ví dụ như đỉnh đầu, trái tim, v.v. Khi thành công trong việc tập trung giác quan ở bộ phận đó và không nhận tín hiệu giác quan từ bất kỳ chỗ nào khác, đó là Dhāranā (chú tâm).

    III.2. Khi sự tập trung vào đối tượng diễn ra liên tục, đó là Dhyāna (thiền).
    Lời giải của Swami Vivekananda: Khi tâm thành công trong việc duy trì trạng thái tập trung đó trong một thời gian, ta gọi đó là Dhyāna (thiền).

    III.3. Khi [Dhyāna] từ bỏ tất cả các loại hình thức và chỉ phản chiếu mỗi ý nghĩa thì đó là Samādhi (định).
    Lời giải của Swami Vivekananda: Việc này xảy ra khi trong thiền, chúng ta bỏ hình thức bên ngoài. Giả sử tôi đang quán tưởng về một cuốn sách và dần dần tôi đã thành công trong việc tập trung tâm vào đó, và chỉ cảm nhận ý nghĩa [của đối tượng] từ bên trong, [dù ý nghĩa đó] không được biểu hiện dưới bất kỳ hình thức nào – trạng thái đó được gọi là Samādhi (định).

    III.4. Khi áp dụng cả ba trạng thái ở trên với một đối tượng, đó là Samyama.
    Lời giải của Swami Vivekananda: Khi một người có thể chú tâm vào một đối tượng nhất định và duy trì sự tập trung trong một khoảng thời gian, với đối tượng tách ra khỏi phần bên trong, đó là Samyama; hay nói cách khác, Dharana, Dhyana (thiền) và Samadhi (định) là ba khía cạnh nối tiếp nhau và trở thành một. Hình thức đã biến mất và chỉ còn mỗi ý nghĩa được để lại trong tâm.

    III.43. Khi tập Samyama đối với mối quan hệ giữa Akasha và cơ thể, cũng như đối với việc trở nên nhẹ như bông len, v.v., bằng cách quán tưởng về chúng, bậc yogi có thể bay qua trời.
    Lời giải của Swami Vivekananda: Akasha là bản chất của cơ thể này; khi Akasha được biểu hiện ở một hình dáng nhất định thì nó hình thành một cơ thể. Nếu một bậc yogi thực hiện Samyama trên chất Akasha của cơ thể, cơ thể sẽ trở nên nhẹ như Akasha và bậc yogi có thể đi đến bất kỳ đâu qua không trung. ↩︎
  38. Thiền để đi vào trạng thái ngủ: Đây không phải là trạng thái ngủ bình thường. Trong trạng thái ngủ này, cơ thể vật chất ngủ, nhưng tâm thức vẫn tỉnh giác. ↩︎
  39. “Bóng ma ở Ngưỡng Cửa” là một tên gọi khác của “Bảo Hộ Ngưỡng Cửa”. Đây là một con quái vật xấu xuất hiện trong mơ, tượng trưng cho tổng thể các cái tôi và những nỗi sợ hãi liên quan đến nghiệp chướng. Đọc thêm. ↩︎
  40. “Mũ đỏ” là thuật ngữ thầy Samael vay mượn từ sách của Helena Blavatsky để chỉ một nhóm thực hành phép thuật đen. Tuy nhiên, trong những tác phẩm sau này, thầy có thừa nhận rằng thông tin này không chính xác. Khi sửa lỗi này, thầy Samael giải thích như sau:

    “Ở Tây Tạng, các tu sĩ Bon có một số phương pháp tu tập rất cực đoan, và đó là lý do tại sao Blavatsky cho rằng họ là những pháp sư hắc ám. Tất cả chúng tôi đều đã lặp lại sai lầm này, và bây giờ chúng tôi cảm thấy buộc phải sửa chữa nó. Tôi không nói rằng các Drukpa là thánh nhân hay là những con chiên hiền lành. Họ là những pháp sư hắc ám bởi vì họ dạy về tantra đen, nhưng phái Bon (mặc dù họ đội mũ đỏ) không phải là pháp sư đen như Blavatsky đã sai lầm khi nói.” (Samael Aun Weor, “Ma Quỷ và Lucifer”) ↩︎
  41. Dây mạch Brahman (Brahmanadi): “Kinh sống cùng với hai đường kinh bên cạnh chính là Dây Mạch Brahman.” (Samael Aun Weor – Khóa Học về các Cung Hoàng Đạo) Đọc thêm. ↩︎
  42. Akasha là dạng vật chất vi tế nhất, nguồn gốc phi vật chất của bốn nguyên tố. ↩︎
  43. Vajroli Mudra là một thuật ngữ tiếng Sanskrit, được kết hợp từ vajra – có nghĩa là “sấm sét, tia chớp, kim cương, bất hoại, dương vật” – và mudra, nghĩa là “ấn, con dấu”. Đây là một pháp môn bí truyền trong Yoga Ấn Độ và Tây Tạng, thường được giữ kín và chỉ truyền dạy dưới sự hướng dẫn trực tiếp của một đạo sư có kinh nghiệm. Mặc dù có nhiều biến thể và ứng dụng, ấn Vajroli đã bị sử dụng sai lệch trong các pháp môn đối nghịch. Đọc thêm về ấn Vajroli tại đây. ↩︎
  44. “Anagarika” (tiếng Pāli: anāgārika, nghĩa đen là “người không nhà”) theo truyền thống chỉ một cư sĩ Phật giáo từ bỏ đời sống thế tục để tận hiến cho việc tu tập tâm linh. Tuy nhiên, trong đoạn này, thuật ngữ ấy chỉ cấp bậc thuộc Hắc Đạo do Omar Cherenzi Lind truyền dạy. Cherenzi là một pháp sư hắc đạo từng diễn thuyết tại Colombia và lãnh đạo cái gọi là “Tôn phái Anagarika Khả kính”. Ông truyền bá Mật giáo hắc ám và dẫn các môn đồ vào những cuộc điểm đạo của Hắc Hội. Vì vậy, cấp bậc Anagarika được trình bày như đối cực đen tối của trạng thái Thiên Thần mà các pháp sư bạch đạo khao khát đạt tới. Đọc thêm. ↩︎
  45. Siêu Nhân (tiếng Đức: Übermensch), một thuật ngữ do nhà triết học Friedrich Nietzsche phổ biến, chỉ Con Người đích thực đã vượt lên trên những giới hạn tâm lý thông thường và trở thành sự biểu hiện sống động của những phẩm chất tinh thần cao cả nhất trong chính mình. Đọc thêm. ↩︎
  46. “Hai nhân chứng” trong Kinh Thánh được nhắc đến trong Khải Huyền chương 11:3–14 và liên hệ với hình tượng “hai cây ô-liu và hai cây đèn” được mô tả ở Xa-cha-ri chương 4. Đọc thêm. ↩︎
  47. Những bà đồng, ông cốt gọi hồn thường chỉ tiếp nhận thông tin từ các loại vong linh thuộc mức độ trí tuệ thấp kém nhất. Vì vậy, những người hành nghề gọi hồn thường mô tả thế giới bên kia như một nơi đầy rẫy ma, quỷ và người chết. Nguy hiểm hơn nữa, họ không có cách nào để biết rõ các linh hồn đang nhập vào cơ thể họ là ai, khiến họ dễ dàng trở thành công cụ bị các phù thủy lợi dụng.
    Ngược lại, khi con người đánh thức được các giác quan cao cấp (chẳng hạn như thần nhãn), họ có khả năng giao tiếp với các thiên thần và tinh linh có trí tuệ cao hơn. Điều này hoàn toàn khác với gọi hồn: thay vì thụ động để vong linh nhập vào cơ thể, người tu luyện có thể chủ động trò chuyện với các sinh linh cao hơn trong trạng thái nhận thức rõ ràng. ↩︎

Gửi phản hồi