Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học

Bài viết này được dịch từ bài giảng có tiêu đề: “El Septenario Teosófico”, bởi Samael Aun Weor

Lời giới thiệu của dịch giả

Trong những năm phát triển giáo pháp của hội Thông thiên học, các thuật ngữ chỉ bảy cơ thể đã được sửa nhiều lần để phân biệt rõ hơn giữa các khái niệm tinh tế. Tác phẩm “Esoteric Buddhism” của A. P. Sinnett liệt kê bảy thành phần của con người như sau:

Tiếng ViệtTiếng PhạnTiếng Anh
Cơ thể vật chấtRūpaPhysical body
Khí lựcPranaVitality
Cơ thể cảm xúcLinga ShariraAstral body
Thú hồnKāma rūpaAnimal soul
Nhân hồnManasHuman soul
Linh hồnBuddhiSpiritual soul
Tâm linhAtmanSpirit

Thầy Samael Aun Weor mượn thuật ngữ về bảy cơ thể từ sách Thông Thiên Học. Đôi khi thầy sử dụng ngôn từ của A. P. Sinnett như ở trên. Tuy nhiên, trong bài giảng ở dưới đây thầy dùng thuật ngữ mới hơn của H. P. Blavatsky, Max Heindel, và nhiều tác giả khác. Bảng trên được chép từ sách “Esoteric Buddhism” để giúp độc giả có thể đối chiếu các cụm từ cũ và mới trên một trang web duy nhất.

Lời nói đầu của Samael Aun Weor

Anh chị em thân mến, trước tiên, chúng ta cần có ý thức hơn về bí ẩn của sự sống và cái chết. Chúng ta cần hiểu chính mình để một ngày nào đó có thể đạt được sự chuyển hóa triệt để bên trong. Đây là điều căn bản.

Vì vậy, thầy thực sự mong muốn tất cả anh chị em có mặt ở đây phải toàn tâm toàn ý.

Tất cả các trường phái giả bí truyền và giả huyền bí đều khẳng định dứt khoát rằng con người có bảy cơ thể:

  • Cơ thể đầu tiên được gọi là cơ thể vật chất (hay thể xác). Cơ thể này chính là stula-sarira nổi tiếng của Thông Thiên Học phương Đông.
  • Cơ thể thứ hai được gọi là linga-sarira ở phương Đông, hay là cơ thể khí lực vì cơ thể này là nền tảng của sự sống hữu cơ, hay nói cách khác nó là phần thuộc chiều không gian thứ tư của cơ thể vật chất.
  • Cơ thể thứ ba là Kamas, căn nguyên của ham muốn, đó là cơ thể cảm xúc nổi tiếng mà các nhà luyện kim đan thời Trung cổ hay đề cập đến.
  • Cơ thể thứ tư được người Ấn Độ gọi là thể tâm trí, còn được gọi là manas hạ đẳng trong tiếng Phạn.
  • Cơ thể thứ năm là cơ thể căn nguyên, hay còn gọi là cơ thể arupi theo cách gọi của các nhà Thông Thiên Học.
  • Cơ thể thứ sáu là cơ thể Buddhi hay cơ thể trực giác, là tâm thức siêu việt của bản thể.
  • Cơ thể thứ bảy được người Ấn Độ gọi là Atman [Bản thể], cái không thể diễn tả được, cái được coi là tâm linh sâu thẳm.

Rõ ràng, minh triết cổ xưa đã nói:

“Trước khi bình minh giả phủ xuống trái đất này, những người sống sót qua cơn cuồng phong bão tố đã ca ngợi Bản thể và những sứ giả của bình minh đã xuất hiện trước mắt họ.”

(Trích sách Bình Minh Tuổi Trẻ)

Chúng ta phải kính yêu Bản thể, phải ca ngợi và tôn thờ Bản thể.

Thầy đã nói, hay đúng hơn là thầy đã phác ra cho các bạn một sơ đồ [về các cơ thể] của các nhà Thông thiên học, sơ đồ của minh triết phương Đông. Tuy nhiên nếu thực sự muốn hiểu đầy đủ về chính mình thì chúng ta phải phân tích thêm một chút.

Một thực tế phũ phàng là khi phát triển khả năng thấu thị thì chúng ta sẽ có khả năng biết nhiều hơn về một điều gì đó. Mặc dù các nhà Thông thiên học, các yogi, người theo phái Thập tự Hoa hồng giả cùng những trường phái tương tự khác đều hoàn toàn bị thuyết phục về cơ cấu bảy cơ thể này, họ sẽ không bao giờ chấp nhận một thực tế rõ ràng là chúng ta vẫn chưa sở hữu bảy cơ thể đó. Vì vậy, chủ đề này xứng đáng được phân tích một cách kĩ lưỡng.

Trong trường phái của Max Heindel cũng có nhắc đến bảy cơ thể:

  • Thể vật chất được gọi đơn giản là “cơ thể vật chất”.
  • Trung tâm của sự sống hữu cơ được gọi là “cơ thể khí lực”.
  • Căn nguyên của ham muốn được gọi là “cơ thể cảm xúc”.
  • Thể cô đọng của tâm trí được gọi là “cơ thể lý trí”.
  • Thể thứ năm là “cơ thể căn nguyên”.
  • Thể thứ sáu là “cơ thể ý thức”.
  • Thể thứ bảy được họ gọi là “tia lửa nguyên sơ”.

Bắt đầu từ kỷ nguyên của Kalki[1] này, các trường phái đều tin vào cơ cấu bảy cơ thể này. Thế nhưng, thầy nhắc lại, khả năng thấu thị cho phép nhìn xa hơn nhiều. Vậy nên cá nhân thầy sẽ truyền đạt lại cho các bạn kết quả nghiên cứu của thầy mà không dựa vào bất kỳ lời xác nhận nào, từ phái Thông thiên học cho đến Thập tự Hoa hồng giả v.v. Một điều chúng ta phải lưu ý rõ ở đây là có nhiều trường phái và mỗi trường phái có quyền ủng hộ luận điểm của họ. Thế nên thầy xin rút khỏi các trường phái này một lúc để nói với các bạn kết quả nghiên cứu của thầy.

[1] Kỷ nguyên Kalki: Kinh sách Ấn Độ giáo ghi chép lời tiên tri rằng ở đoạn cuối của kỷ nguyên Kali, một vị thầy tâm linh vĩ đại sẽ đến. Vị thầy này được gọi là Kalki Avatar. Khi sách nói về “kỷ nguyên Kalki”, chúng tôi hiểu đó là đoạn cuối của kỷ nguyên Kali (Tiếng Phạn: Kali Yuga), thời mà Kalki Avatar đang làm việc trên Trái Đất. Đọc thêm về Kali Yuga ở đây.

Cơ thể cảm xúc

Thầy đã tận mắt chứng kiến rằng một số người đã chết có một cơ thể cảm xúc, họ cũng có một tính cách nhất định. Hiển nhiên, tính cách đó tồn tại trong cõi cảm xúc và tiếp tục tồn tại sau khi chết. Nhưng thầy cũng nhận ra rằng không phải ai cũng có một cơ thể cảm xúc.

Với những người có cơ thể cảm xúc thì họ thực sự sở hữu một cơ thể cảm xúc. Trong cõi cảm xúc, cơ thể cảm xúc đó giống như một phương tiện thực sự được làm bằng xương bằng thịt. Đó là một cơ thể được hình thành một cách rõ ràng với các cơ quan, nó có sinh lý, bệnh lý, và có khía cạnh siêu sinh học riêng của nó, v.v.

Khi ở trong cõi cảm xúc thì chúng ta có thể biết ngay ai không có cơ thể cảm xúc. Khi không có cơ thể này, họ trông như một bóng ma mộng du, di chuyển trong chiều không gian thứ năm, tức là trong cõi vĩnh cửu, trong cõi cảm xúc.

Đương nhiên, những gì thầy đang nói không thể nào xác minh được bằng các giác quan của nhận thức bên ngoài. Thầy đang nói về một thứ không thuộc về thế giới của năm giác quan, một thứ chỉ có thể được chứng minh và xác minh trong cõi cảm xúc bằng những giác quan khác.

Tối hôm qua, thầy đã hỏi mọi người là: “Cái gì sẽ tiếp tục sau khi chết?”

Rõ ràng câu trả lời là: nếu người chết có một cơ thể cảm xúc thì cơ thể đó là thứ sẽ tiếp tục. Nhưng hãy cho phép thầy nhắc lại (mặc dù thầy cảm thấy chán ngán vì đã lặp đi lặp lại quá nhiều) là không phải ai cũng có cơ thể này. Nên với hầu hết mọi người, thứ tiếp tục tồn tại sau cái chết là cái tôi.

Thế nên cần phải phân biệt rõ ràng giữa cái tôi và các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể. Cụ thể lần này khi đang nói về “thể cảm xúc”, thầy sẽ nói rằng: hãy phân biệt rõ ràng giữa cái tôi và cơ thể cảm xúc, vì chúng khác nhau.

Tuy nhiên, thầy e rằng mặc dù thầy đang cố gắng giải thích chủ đề, nhưng có lẽ thầy vẫn chưa thành công trong việc giúp các bạn hiểu thầy một cách trọn vẹn. Vì vậy, chúng ta cần minh họa chủ đề này bằng một số câu chuyện mà thầy đã trải qua.

Thầy có một ví dụ rất hay. Một người đàn ông nọ là điều hành của một Lumisial Gnosis.[Các bạn nghe bản ghi âm này ở nhà] hãy lưu ý thêm rằng chúng ta đang giảng bài này trong một Lumisial. [2] Hiển nhiên là như thế. Anh X này nhìn có vẻ rất tậm tâm và thực sự yêu quý Gnosis.

[2] Lumisial là đền thờ nhỏ của trường phái Gnosis.

Khi anh này qua đời, thầy đã quyết định tìm hiều về anh ta bằng các siêu năng lực của thầy trong chiều không gian thứ năm, tức là trong trục thứ năm của không gian đa chiều. Những thuật ngữ và khẳng định này có thể làm phiền lòng các “học giả vô minh”. Nhưng các bạn đều chân thành và đang ở đây để lắng nghe thầy và đương nhiên thầy ở đây để giải thích, để nói với các bạn. Do đó, thầy muốn rằng chúng ta đều nhất trí với tất cả các thuật ngữ này để có thể hiểu nhau.

Có những phương pháp cho phép chúng ta chủ động rời khỏi cơ thể vật chất. Chúng ta cũng có thể thực hiện được việc này bằng phương pháp thôi miên. Nếu chúng ta đưa một người vào trạng thái thôi miên, khi họ đã ở trong trạng thái xuất thần, thì bằng sức mạnh ý chí chúng ta có thể tách tâm thức của người đó ra khỏi cơ thể vật chất. Khi ấy, người bị thôi miên có thể nhìn, nghe, chạm và cảm nhận những thực tại không thuộc về thế giới của hình học ba chiều.

Nhưng thẳng thắn mà nói thì thầy không dùng phương pháp thôi miên này vì thầy coi nó như một thứ khoa học quá dư thừa và non trẻ, như là khoa học cho trẻ mới biết đi. Người thực hành Gnosis thì đi xa hơn. Thầy nhắc lại, chúng ta có thể rời khỏi cơ thể vật chất bằng cách nhập định hoặc bằng những phương pháp khoa học tổng hợp cụ thể, để khám phá cuộc sống trong các thế giới siêu việt. Các bạn đừng ngạc nhiên nếu thầy nói rằng thầy có thể làm được việc này, vì thầy là chủ tịch và người sáng lập phong trào Gnosis phổ quát. Thầy đã dạy phương pháp khoa học này cho nhiều người và thầy sẽ tiếp tục dạy nó cho nhiều người khác nữa.

[Băng cassette thiếu một đoạn ở đây.]

Vì thế, lần đó thầy đã rời khỏi cơ thể vật chất của mình để tìm hiểu về anh bạn kia, người dẫn đầu một nhóm Gnosis, vị linh mục bí truyền của một Lumisial. Thầy thật đau đớn khi phải nói rằng chẳng bao lâu sau thầy đã tìm thấy anh ấy trong một trạng thái có thể nói là mộng du. Anh chàng ấy trông như một bóng ma mộng du. (Dùng chữ “người” ở đây đối với thầy có vẻ cường điệu nên nói là “bóng ma” thì có lẽ sẽ chính xác hơn.) Anh ấy đang đi trên đường của một thành phố lớn. Thành phố nào? Thành phố nơi anh ấy đã sống trước khi qua đời. Vẻ ngoài của anh ta chẳng đẹp đẽ gì: nó cho thấy tình trạng đang phân hủy của thân xác anh ấy. Thầy chạm vào anh ấy và thấy anh rất lạnh, vô cùng lạnh lẽo. Chắc chắn rằng người này (thầy lặp lại, lần này thầy dùng chữ “người” theo nghĩa thông thường) chưa bao giờ rèn luyện với ngọn lửa thiêng.

Hỡi ôi! Điều này thật nghiêm trọng. Anh ấy có một người vợ nữ tu, như vậy có nghĩa là khi còn sống anh ấy khiến mọi người tin rằng anh đang rèn luyện trong lò rèn của Cyclops, nhưng thực ra anh ấy cũng phạm lỗi tà dâm như bất kỳ người bình thường nào khác.

“Anh đã chết rồi”, thầy nói với anh ta như vậy, “thân xác anh đã chết, nó đã nằm dưới mộ. Hãy nhận thức thực tại của mình đi!”

Anh ấy đáp: “Không, tôi chưa chết, tôi vẫn còn sống.”

“Cơ thể vật chất của anh đã chết rồi.”

“Không thể nào”, anh ấy nói, “vì tôi vẫn cảm nhận bản thân như cũ.”

“Nào, thế thì hãy làm một thí nghiệm, hãy tự nhìn vào anh trong gương đi.” Đúng lúc đó hai người đi ngang qua một tấm gương. Thầy đang ở trong cơ thể cảm xúc của mình còn anh ta trông như một bóng ma. Hai người lại gần chiếc gương.

“Hãy nhìn chính anh xem, nhìn mặt anh xem!” Anh ấy soi gương và nhìn thấy mình trong tấm gương của cõi cảm xúc đó. Đương nhiên trông anh ta như một cái bóng phản chiếu trong gương. Hai người rời khỏi nơi đó và thầy nói:

“Anh vẫn chưa tin à, mặc dù đã nhìn thấy mình trong gương? Anh có muốn tự thuyết phục rằng mình đã chết không?”

“Không thể nào”, anh ấy nói, “Tôi không thể tin là mình đã chết!”

“Nào, vậy chúng ta hãy thử một việc khác: hãy nhảy lên một cái thật cao với ý định bay lơ lửng trên không trung. Anh sẽ thấy mình bay lơ lửng. Hãy làm thế và anh sẽ thấy rằng mình đã chết”. Bởi vì trong thế giới vật chất có trọng lực nên khi nhảy lên chúng ta sẽ rơi xuống. Nhưng trong cõi cảm xúc thì cơ thể sẽ bay lơ lửng nhờ có luật bay lên.

Anh ta nói: “Thôi được, tôi sẽ làm thử để xem có đúng là tôi đã chết hay không, vì tôi không nghĩ vậy”.

“Nào, anh nhảy đi…”

Anh chàng ấy nhảy lên với ý định nổi lơ lửng lên không trung (một bóng ma lơ lửng!). Nhưng chẳng bao lâu sau, trong lúc lơ lửng, trong cái đầu nóng nảy vụng về của anh ta hiện lên ý nghĩ rằng mình có thể rơi chúc đầu xuống, và thế là ý nghĩ đó trở thành hiện thực. Phải, ý nghĩ đó đã trở thành hiện thực, thế nên anh ta rơi chúc đầu xuống và cắm đầu xuống đất, hai chân hướng lên tạo thành dấu hiệu ngôi sao năm cánh ngược. Lúc đó thầy đã nói rằng:

“Chính anh là người nhét vào tâm trí mình cái ý nghĩ rằng anh có thể bị rơi cắm đầu xuống…”

Mọi cố gắng đều vô ích! Thế rồi đột nhiên từ bóng ma đó hiện ra nhiều hình dáng con vật khác nhau. Có một cái bóng trông như một con bò đực hung hãn, thầy tự nhủ rằng đó là con quỷ giận dữ của anh ta. Một cái bóng khác là một con chó giận dữ, đó là tính dâm dục của anh ta. Rồi đến một con ngựa nổi điên phi nước kiệu, đó là dục vọng của anh ta, v.v. Nhiều loài quái thú phi nhân tính hiện ra từ anh ta, từ bóng ma ấy. Đó là các cái tôi của anh ta.

Chúng ta đã nói rất nhiều về việc này trong bài giảng hôm qua. Đó là sự thật. À, một số người ở đây đã không tham dự bài giảng hôm qua, nhưng thầy nghĩ mọi người đã nghe về cái tôi đa nguyên, những cái tôi (trong ngoặc) cần phải được tan rã.

Cuối cùng thì thầy phải rút lui khỏi lũ bóng ma khốn khổ đó vì đã đến lúc thầy phải trở về cơ thể vật chất. Như vậy, anh chàng ấy là một bóng ma và không gì khác hơn một bóng ma, nhưng những người có cơ thể cảm xúc thì khác hẳn.

Vì vậy, chúng ta cần phân biệt giữa người có cơ thể cảm xúc và người không có cơ thể cảm xúc. Quả thực, chúng ta đã thấy rằng không phải ai cũng có bảy cơ thể. Thật ngớ ngẩn khi cho rằng tất cả mọi người đều có sẵn bảy cơ thể. Việc này quả là đã được phóng đại. Có thể thấy rằng những tuyên bố kiểu giả huyền học và giả bí truyền này không hề có sự phân tích kỹ lưỡng.

Chúng ta phải sâu sắc hơn, phải phân tích kỹ lưỡng hơn.

Cơ thể lý trí

Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục với cơ thể lý trí, vốn là một loại giáo lý theo kiểu của Heindel, Steiner, Blavatsky v.v. và nhiều tác giả tương tự. Họ gọi đó là “Manas hạ đẳng” hay là “tâm trí cô đọng”! Nhưng họ đang nói về cái gì vậy? Ôi ôi! Từ đâu mà những “sinh vật hình người” có được cơ thể lý trí? Chà, bọn họ cũng đang phóng đại chủ đề này.

Thầy không phủ nhận rằng các chân sư của hội Huynh đệ ánh sáng nội tại đều sở hữu một cơ thể lý trí cá nhân. Phủ nhận điều này thì thật ngớ ngẩn. Thế nhưng thầy cũng không khẳng định rằng tất cả mọi “sinh vật hình người” đang sinh sống trên mặt đất này đều có sẵn cơ thể lý trí. Làm ơn đừng phóng đại mọi thứ! Những tính cách Kalki từ các trường phái giả bí truyền thời đại này không chỉ không để ý đến vấn đề này, mà nghiêm trọng nhất là họ còn không để ý rằng mình không để ý. Họ không chỉ không biết mà thậm chí không biết rằng mình không biết, điều đó thật đau đớn.Thầy không phủ nhận rằng các chân sư của hội Huynh đệ ánh sáng nội tại đều sở hữu một cơ thể lý trí cá nhân. Phủ nhận điều này thì thật ngớ ngẩn. Thế nhưng thầy cũng không khẳng định rằng tất cả mọi “sinh vật hình người” đang sinh sống trên mặt đất này đều có sẵn cơ thể lý trí. Làm ơn đừng phóng đại mọi thứ! Những tính cách Kalki từ các trường phái giả bí truyền thời đại này không chỉ không để ý đến vấn đề này, mà nghiêm trọng nhất là họ còn không để ý rằng mình không để ý. Họ không chỉ không biết mà thậm chí không biết rằng mình không biết, điều đó thật đau đớn.

Tâm trí cá thể ư? Đó là một điều xa xỉ, một thứ xa xỉ mà rất ít người có thể đạt tới, rất ít người có thể có được. Nếu xem xét lại một cách thấu đáo, chúng ta có thể thấy rằng tâm trí của mình giống như một chiếc chong chóng quay theo chiều “gió”. Lúc này một ý tưởng, lúc sau một ý tưởng khác. Ngay khi khẳng định một điều gì đó thì chúng ta lại lập tức phủ nhận nó. Chúng ta đầy những mâu thuẫn khủng khiếp. Nếu có một tâm trí cá thể thì chúng ta sẽ không có nhiều nghịch lý như thế, nghĩa là không thể nào mâu thuẫn với chính mình nhiều đến thế trong từng khoảnh khắc.

Chúng ta có quá nhiều mẫu thuẫn với chính mình, nhưng chúng ta xoay sở bằng cách tự lừa dối bản thân để không thấy rằng mình quá điên rồ. Chúng ta luôn tìm ra một lời biện minh hoặc lảng tránh, những lời “biện minh chân ái” kiểu như, “vâng, đó là vì tôi chưa suy nghĩ chuyện đó cho chín chắn thế nên tôi đã nghĩ như vậy, nhưng hôm nay tôi đã nghĩ khác”. Hoặc kiểu “đó là vì tôi đã phân tích sự việc kĩ hơn và việc mà tôi nghĩ mình sẽ làm thì giờ tôi không làm nữa”, v.v. Chúng ta luôn dùng hiểu biết của mình để chơi trò tung hứng, để lừa dối chính mình. Chúng ta không thích nghĩ rằng mình bị điên, vì việc trở nên điên rồ làm chúng ta thấy ghê tởm.

Thực tế tâm trí cá thể là rất hiếm. Tâm trí cá thể phải được tạo ra, và hầu hết mọi người chưa làm được điều đó. Thay vì có một tâm trí hợp nhất thì chúng ta có nhiều tâm trí nhỏ. Và nó rất khác.

Trong con người chúng ta (mà thầy thắc mắc liệu có thể gọi đó là “người”) có nhiều thành phần tâm lý. Hãy quan sát sự mâu thuẫn trong tâm lý chúng ta: khi chuẩn bị ăn, ta nói “tôi sẽ đi ăn”, nhưng đột nhiên một ý nghĩ khác tấn công chúng ta, một ý nghĩ đến từ một cái tôi liên quan đến sự chuyển động, thế là ta nói “không, tôi chưa ăn đâu, tôi sẽ đi chỗ này, chỗ kia”. Ý nghĩ đó cũng có thể bị phá hoại bởi một cái tôi khác từ lý trí và ta nói: “Nhưng này, tại sao tôi lại đi đến chỗ đó? Tốt nhất tôi nên ngồi xuống đọc báo đã…”

Như ta thấy đấy, có ba loại người đang đấu tranh ở bên trong: một kẻ đói bụng đang muốn ăn, một kẻ thích di chuyển chưa muốn ăn ngay mà muốn đi đến chỗ khác, và một cái tôi thứ ba từ lý trí đang muốn đọc báo. Điều này thể hiện rõ ràng là bên trong con người tâm lý của chúng ta có rất nhiều “thành viên tâm lý”. Không chỉ thế, đây không chỉ là những thành viên mơ hồ mà là những thành viên tâm lý có thực. Chúng ở bên trong không gian tâm lý của chúng ta. Nếu chấp nhận rằng có không gian ba chiều tồn tại thì chúng ta cũng phải chấp nhận rằng có không gian tâm lý tồn tại. Chắc chắn là như thế.

Người ta kể rằng Kabir Giêsu vĩ đại đã trừ bảy con quỷ khỏi cơ thể của Maria Ma-đa-lê-na. Rõ ràng đó là bảy đại tội: sân hận, tham lam, dục vọng, đố kỵ, kiêu mạn, lười biếng và tham ăn, v.v.

Nếu ta đem bảy con quỷ đó nhân lên bảy lần, rồi nhân lên bảy lần nữa, ta sẽ đi đến kết luận rằng có một quân đoàn tồn tại bên trong chúng ta. Trong sách Phúc âm, khi người bị ma quỷ nhập gặp chúa Giêsu, họ nói: “Tên tôi là Quân Đoàn, vì chúng tôi đông.” Phúc âm đã nói như vậy, và thầy nhắc lại vì nó đúng là như thế.

Phải, chúng ta là quân đoàn, nhưng quân đoàn của cái gì? Quân đoàn của ác quỷ. Rõ ràng như thế, vì chúng ta không phải là những “vị thánh bé xinh”.

Ai có thể nói rằng trong chúng ta không có bảy đại tội cũng như nhiều tội lỗi khác nữa? Virgil, thi sĩ xứ Mantua, đã nói trong sử thi Aeneid (một tác phẩm theo phong cách Latinh cổ điển):

“Dù ta có đến hàng nghìn cái miệng để nói và lưỡi ta bằng thép thì ta cũng chẳng thể nào kể hết một nửa những khiếm khuyết tâm lý của ta…” (Aeneid, quyển VI)

Thế nên chúng ta không hẳn là những con cừu hiền lành, đúng không? Mỗi con quỷ ở bên trong đều có một tâm trí của riêng nó. Vậy nên chúng ta có nhiều “tâm trí”, đó là điều không thể nghi ngờ.

Nhưng đó không phải là tâm trí cá thể hay là cơ thể lý trí như Thông thiên học phương Đông rao giảng hoặc như Max Heindel liệt kê. Không! Loài người hiện tại không có tâm trí cá thể.

Max Heindel topaz face denoise upscale Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Max Heindel – người thành lập hội Thập tự Hoa hồng ở Oceanside, California.

Nhưng thầy dựa vào đâu để đưa ra những lời tuyên bố như đinh đóng cột này trước những khán giả đáng kính ở đây? Hẳn là các bạn không nghĩ rằng thầy đang bịa ra những khẳng định giáo điều này. Bởi vì nhiều người ở đây có sự chân thành, và không đời nào thầy thích sự giáo điều vì giáo điều là hoàn toàn ngớ ngẩn.

Thế thì thầy dựa trên cơ sở nào để đưa ra những tuyên bố như vậy? Thầy có thẩm quyền gì mà bác bỏ những sơ đồ cơ thể của các trường phái giả bí truyền và giả huyền bí này? Thầy làm vậy với quyền lực nào? Nhân danh sự thật, thầy nói với các bạn rằng chúng ta phải làm chứng cho những gì mình biết và thầy ở đây trước mặt các bạn để làm chứng cho sự thật. Thầy đã nghiên cứu kỹ lưỡng về chủ đề tâm trí này khi ở bên ngoài cơ thể vật chất. Phải, thầy đã nghiên cứu việc này một cách cẩn thận.

Một lần nọ, chính xác là lúc gặp ông Leadbeater, thầy đã có một trải nghiệm rất ấn tượng. Ông Leadbeater là một trong những nhà Thông Thiên Học xuất sắc nhất vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông là tác giả của nhiều quyển sách, trong đó có thể kể đến “The Inner life” [Đời sống nội tâm], “The chakras” [Các luân xa], v.v. Khi ấy, Leadbeater nói với thầy:

“Chúng tôi ở đây trong các thế giới nội tại đang cố gắng giúp đỡ anh, để anh có thể truyền tải những thông điệp mà anh sẽ được nhận ở đây, để anh có thể truyền tải chúng cho nhân loại ở thế giới vật chất ngoài kia.”

“Vâng, thưa ông Leadbeater”, thầy nói, “và ông nhận xét thế nào về những quyển sách ông đã viết?”

Ông nói rằng: “À, cái đó không có gì quan trọng cả!”

Ông nói như thế và nở một nụ cười. Bằng cách đó, ông đã cho thầy hiểu rằng, thẳng thắn mà nói, những quyển sách mà ông đã viết chỉ là sơ khai và mang tính văn chương. Ông chỉ viết ra những chữ đầu tiên như để khơi dậy khao khát tâm linh, chứ chưa từng viết ra những tác phẩm huyền học sâu sắc.

CWL 1914 Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Charles Leadbeater

Leadbeater là tác giả của sách “The chakras” [Các luân xa] và nhiều sách Thông Thiên Học khác. Đó là một quý ông đáng kính. Trong các thế giới siêu việt, ông Leadbeater rõ ràng là một chân sư của Bạch hội quán đáng kính, không phải là một người vô danh. Trong Thông Thiên Học, sách của ông được nghiên cứu kỹ lưỡng.

Sau đó, ông Leadbeater đã cho thầy một số trợ giúp cụ thể và rõ ràng. Trong khoảnh khắc đó, bản thể sâu thẳm của Leadbeater đã tách cơ thể lý trí của thầy ra khỏi cơ thể cảm xúc rồi đưa thầy đến Ai Cập, vùng đất của các Pharaon.

Thầy bước vào một ngôi đền, ở đó thầy nhận ra một số điểm đạo đồ cổ xưa, là bạn của thầy. Thầy trò chuyện với họ một cách thân thiện. Đó là những bậc trưởng lão đáng kính từ thời Pharaon Khafre.
Thầy quay lại trong cơ thể cảm xúc. Thầy đã thực hiện chuyến đi đó trong cõi lý trí và với cơ thể lý trí của mình, thế nên khi quay lại là thầy quay về trong cơ thể cảm xúc và thầy nói: “Thật là tuyệt vời và thật đáng kinh ngạc!”

Thầy cảm ơn ông Leadbeater và chào tạm biệt. Ông ấy rời đi, bước trên những con phố của Luân Đôn vì ông là người Anh. Thầy vẫn đứng chào khi ông đi đã xa… đó là một con người có ý thức, một con người đã thức tỉnh, một bậc chân sư thực sự.

Sau đó thầy tự nhủ: “Tại sao mọi người nghĩ rằng mình có cơ thể lý trí?” Thầy có cơ thể lý trí, phải, thầy có vì thầy đã tạo ra nó từ thời xa xưa. Nhưng trên thế giới này không phải ai cũng cống hiến hết mình cho những công việc rèn luyện này.

Ý tưởng rằng con người ai cũng có một cơ thể lý trí cá thể từ đâu ra? Tại sao sách vở của mọi trường phái giả bí truyền và giả huyền học đều phóng đại việc này? Cái mà người ta có là các cái tôi và mỗi cái tôi có tâm trí riêng của nó. Nói cách khác, cái mà chúng ta có là nhiều tâm trí mâu thuẫn lẫn nhau, không phải một tâm trí duy nhất hay một thể tâm trí như họ vẫn tưởng.

Cơ thể Căn Nguyên

Bây giờ, chúng ta hãy chuyển sang chủ đề về cơ thể căn nguyên. Cơ thể căn nguyên là cơ thể của ý chí thức tỉnh. Trong thế giới của ý chí thức tỉnh, chúng ta nhận ra căn nguyên của các lỗi lầm, căn nguyên của những hiểu lầm, căn nguyên của các cái tôi, vì mỗi cái tôi được tạo ra từ một nguyên nhân riêng.

Trong thế giới căn nguyên có luật cân bằng, luật của công lý vũ trụ. Trong thế giới căn nguyên, chúng ta khám phá ra rằng mỗi nguyên nhân có một kết quả và kết quả đó lại trở thành một nguyên nhân khác.

Có một lần, thầy đang ở trong cơ thể căn nguyên của mình, ở trong thế giới của căn nguyên tự nhiên, bên trong một ngôi đền nguy nga. Thầy đến gặp một diễn giả (người ấy đang giảng giải cho học trò của mình trong thế giới căn nguyên tự nhiên). Thầy đã hỏi ông ấy một điều gì về chuỗi nhân quả. Thầy đã phủ nhận về một khái niệm mà thầy không đồng ý cho lắm. Ông ấy cảm thấy hơi khó chịu với lời phản bác của thầy và đưa ra một tuyên bố khác. Câu nói ấy trở thành một câu nói khác, rồi câu khác ấy trở thành một câu khác nữa, cuối cùng phản bác nho nhỏ của thầy đã kích hoạt một chuỗi các nguyên nhân và kết quả. Việc này giúp cho thầy hiểu được về thế giới căn nguyên. Ở đây, chúng ta có thể gặp các bậc thầy của nghiệp, họ sống trong thế giới của căn nguyên tự nhiên.

Nhưng không phải ai cũng có cơ thể căn nguyên. Trong thế giới của căn nguyên tự nhiên, chúng ta sẽ thấy hàng triệu trẻ nhỏ. Vâng, có thể nói những đứa trẻ này là nhân hồn của hàng triệu người vì mỗi người có riêng một phần tâm mang tính người của họ trong thế giới căn nguyên tự nhiên. Nhưng những “linh hồn nhỏ” đó – thứ lỗi cho thầy vì cách gọi này, mà thầy cố ý gán như vậy vì có mục đích cụ thể – họ vẫn chưa phát triển bản thân, vì nói chính xác là họ chưa có cơ thể của căn nguyên tự nhiên, cơ thể căn nguyên. Họ còn chưa đạt được tầm vóc của “con người” trong thế giới căn nguyên.

Nếu gọi những đứa trẻ hay những “linh hồn nhỏ” đó là các “bóng ma căn nguyên”, thì cách gọi này sẽ chỉ cho bạn một khái niệm mờ nhạt. Thực sự là rất xa với bản chất thực sự của chúng, bởi vì chúng ta không thể nào gọi các linh hồn căn nguyên là “ma” vì họ là những sinh thể rất thực. Tuy nhiên những đứa trẻ đó cũng chưa đạt đến trạng thái con người căn nguyên.

Con người căn nguyên là con người căn nguyên. Con người căn nguyên là người đã tạo ra và sở hữu một cơ thể căn nguyên. Một người căn nguyên sống ở cõi căn nguyên đó như một con người thực sự, không phải như một tinh linh đơn giản mà là một con người. Họ có một tính cách cụ thể, đó là tính cách căn nguyên.

Không phải là thầy muốn khoe khoang về bản thân trước các bạn ở đây, nhưng thầy phải khẳng định dứt khoát rằng thầy là một con người căn nguyên và thầy biết thế giới của mình. Thầy đã thiết lập trọng tâm của mình trong thế giới căn nguyên. Từ cõi đó, thầy đã phóng chiếu bản thân mình đến đây, trước mặt các bạn, để nói chuyện, để giảng dạy. Từ cõi đó thầy phóng chiếu bản thân đến thế giới cảm xúc để làm việc, hoặc đến thế giới lý trí khi cần thiết. Thế nên, thầy làm chứng cho sự thật, bất kể mọi người có tin thầy hay không.

Thực sự không phải ai cũng có bảy cơ thể của Thông thiên học. Chúng ta phải tạo ra các cơ thể đó -cơ thể cảm xúc, lý trí và căn nguyên – để có thể trở thành một con người thực sự, một con người căn nguyên. Chỉ có con người thực sự mới có thể tiếp nhận tâm hồn và các căn nguyên tâm linh hoặc đạo đức (Gnosis gọi đó là Pneuma, là tâm linh), để trở thành một con người. Những ai chưa tạo ra các cơ thể này thì không phải con người.

Thầy đang đưa ra một tuyên bố khá gai góc. Các bạn lượng thứ cho thầy vì các bạn là người tốt. Nhưng nếu thầy đứng ở quảng trường công cộng mà rao giảng sự thật này với công chúng, thầy có thể bị ném đá như Ê-tiên, [4] hoặc bị ném đá ở vùng đất của người Moor giống Raymund Lully, nhà luyện kim đan trung cổ vĩ đại.

[4] Ê-tiên bị ném đá – https://gnosisvn.org/2024/02/26/cai-chet-cua-e-tien/

Rembrandt Lapidation Saint Etienne MBA Lyon Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
“Ê-tiên bị ném đá”, tranh của Rembrandt, 1625

Để trở thành một con người, thầy nhắc lại, điều kiện nền tảng là phải tạo ra những cơ thể hiện sinh của bản thể. Chúng ta chưa có những có thể này, nhưng chúng ta có hạt mầm để tạo ra những cơ thể đó. Những hạt mầm này nằm trong tuyến nội tiết sinh dục. Tuyến này không phải những viên nang kín như nhiều người vẫn tin, không, tuyến này tiết ra và hấp thụ các hoóc-môn.

Theo hướng này, Mặt trời [tâm linh của vũ trụ] đang thực hiện một thí nghiệm khổng lồ trong phòng thí nghiệm của tự nhiên. Nói chính xác thì thí nghiệm này của Mặt trời bao gồm việc tạo ra con người với dương thân. Đó là một thí nghiệm khó khăn!

Vào thời của tiên tri Ápraham cũng như trong tám thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, khá nhiều con người với dương thân đã được tạo ra. Đến thời Trung cổ cũng có một vài người như vậy. Hiện nay, đang có những nỗ lực lớn để Mặt trời có thể thu hoạch được nhiều con người có dương thân.

Trở thành một con người có dương thân không phải là một việc dễ dàng. Trước hết, chúng ta phải hợp tác với thí nghiệm của Mặt trời. Đúng vậy, chúng ta phải sẵn sàng để trở thành một con người. Chỉ khi đó, những hạt mầm kia mới có thể phát triển.

Chúng tôi không đảm bảo rằng những hạt mầm đó sẽ luôn luôn phát triển. Thường thì những hạt mầm sẽ bị lãng phí. Nhưng nếu chúng ta hợp tác với mặt trời, các hạt mầm có thể phát triển. Hạt mầm của cơ thể cảm xúc, cơ thể lý trí và cơ thể căn nguyên nằm trong trong các tuyến nội tiết sinh dục. Thế nhưng để những hạt mầm này có thể phát triển thì cần phải có “đất màu mỡ”. Rõ ràng, đất màu mỡ thì hạt mới nảy mầm, còn nếu không thì chúng sẽ bị lãng phí.

Nếu chúng ta cứ đem những tuyến đó ra làm thí nghiệm, chúng ta sẽ gây tổn hại cho “đất”.

Thế nên, việc cấy ghép tuyến, thử nghiệm với các loại hormone, thử nghiệm với thyroxin [5], v.v., chắc chắn sẽ làm thay đổi mảnh “đất” của con người – cơ thể hữu cơ – ngăn cản các hạt nảy mầm. Điều này là vô cùng nghiêm trọng.

[5] Thyroxin là một hoóc-môn tuyến giáp.

Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn tin vào khoa học của họ. Họ tin rằng việc cấy ghép, thử nghiệm hoóc-môn, thay các tuyến (của người) bằng tuyến từ khỉ, v.v., là những tiến bộ vượt bậc. Những thứ này suy cho cùng đều nực cười và vô cùng sai lầm.

Chúng ta đều biết rõ về loài kiến. Thật đáng kinh ngạc khi nhìn vào một tổ kiến, một cung điện của loài kiến, đó là một tổ chức hoàn hảo! Nhưng nếu biết rằng toàn bộ công trình đó được xây lên một cách máy móc và vô thức, chúng ta cảm thấy một chút đau đớn.

Có một điều rõ ràng là trong quá khứ cổ xưa, từ các kỷ nguyên thứ nhất và thứ hai, kiến từng là một loài người. Họ đã thiết lập trật tự xã hội của mình dựa trên chế độ độc tài vô cùng đẫm máu. Họ loại bỏ các nguyên tắc tôn giáo vì cho rằng các nguyên tắc này phá hoại trật tự độc tài của họ.

Ban đầu thì bàn tay sắt của một Stalin là cần thiết. Thầy nói theo lối ví von, vì thầy không muốn nói đến Stalin như một cá nhân cụ thể. Rồi theo thời gian, hành động của giống loài này trở nên máy móc.

Vì trí thông minh của họ bị teo đi nên mọi xu hướng hành động đều được di truyền từ cha mẹ sang con cái. Họ đã làm các thử nghiệm [cấy ghép] tuyến từ tất cả mọi loài, việc này làm thay đổi hình thái con người của họ. Trải qua nhiều quá trình thoái hóa khác nhau, chủng tộc đó ngày càng trở nên nhỏ hơn và hình thái của họ ngày càng thay đổi theo hướng thoái hóa, khiến họ trở thành hình dạng như ngày hôm nay.

Rồi thì sao? Những sinh vật này biến đổi theo thời gian, họ thoái hóa theo luật entropy phổ quát.

Những người nhìn sự việc một cách hời hợt, những người có đầu óc rỗng tuếch, những người nông cạn, họ hoàn toàn có thể cười nhạo những câu tuyên bố lạ thường như vậy. Nhưng sự thật là sự thật và sự thật phải được nói ra bằng bất cứ giá nào.

Hạt mầm của con người không thể phát triển được ở vùng đất cằn cỗi. Cơ thể phải khỏe mạnh thì hạt mầm này mới có thể phát triển hài hòa.

Chúng ta có thể tạo ra những cơ thể nói trên khi hiểu biết tường tận về thuật luyện kim đan tình dục. Các nhà luyện kim đan Trung cổ đã cho ta biết về muối, lưu huỳnh và thủy ngân, là Archeus của người Hy Lạp. Các hành tinh được sinh ra từ Archeus.

Archeus của người Hy Lạp, hay còn được gọi là Arché, được hình thành từ ba chất liệu phổ quát nói trên là muối, lưu huỳnh và thủy ngân. [5]

[5] Ba loại hóa chất này mang tính biểu tượng. Ý nghĩa sẽ được giải thích ở dưới.

Muối, lưu huỳnh và thủy ngân có trong mọi chất liệu. Ví dụ khi phân hủy sắt chúng ta thu được muối, lưu huỳnh (lửa) và thủy ngân, là các chất liệu nền tảng của sắt. Các kim loại khác cũng tương tự như vậy.

Vì vậy chúng ta thấy rằng Arché hay Archeus của người Hy Lạp cũng bao gồm có muối, lưu huỳnh và thủy ngân.

Tất cả mọi sự sống, mọi hành tinh sinh ra từ lòng mẹ vũ trụ vĩ đại, đều xuất phát từ muối, lưu huỳnh và thủy ngân, có nghĩa là từ Archeus. Rõ là như thế.

Nếu nhớ rằng “trên sao dưới vậy”, rằng vũ trụ vi mô cũng giống như vũ trụ vĩ mô, thì chúng ta có thể nói rằng: để tạo ra các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể, chúng ta cũng cần tạo ra một archeus khác, là một archeus cá thể chân chính tạo thành từ muối, lưu huỳnh và thủy ngân. Bởi vì trên sao thì dưới vậy, dưới sao trên cũng vậy.

Vậy thì chúng ta có muốn có các cơ thể cảm xúc, lý trí và căn nguyên không? Hãy tạo ra arché ngay bên trong chính mình. Trí tuệ vũ trụ có muốn tạo ra một hệ mặt trời mới không? Muốn vậy thì nó phải tạo ra arché ở trên kia, trong không gian liên hành tinh, bởi vì “trên sao dưới vậy”.

Nhưng tất cả những điều này đòi hỏi một sự phân tích mô phạm cẩn thận, một sự giải thích biện chứng thấu đáo nhất định, để mọi người hiểu rõ và không bị nhầm lẫn.

Rõ ràng, thầy phải giải thích cách thức và phương pháp chế tạo arché, bởi vì từ đó ta mới có được các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể, những cơ thể sẽ biến chúng ta thành con người thực thụ. Nếu thầy giải thích cho các bạn tất cả những điều này mà không dạy các bạn cách tạo ra arché thì sẽ không làm được gì cả. Các bạn phải biết cách tạo ra nó, nếu không cuộc nói chuyện này sẽ thiên về minh họa mà không có tính thực tế.

Muối, lưu huỳnh và thủy ngân là nền tảng của arché. Muối là gì? Kabir vĩ đại Chúa Giêsu đã nói đại ý như sau: “Nếu muối bị thoái hóa thì thức ăn sẽ được nêm bằng gì? Các con là muối của đất. Nhưng nếu muối mất vị mặn thì sẽ không thể nào làm cho mặn lại được. Muối đó hoàn toàn vô dụng, chỉ có thể ném xuống cõi bóng tối, nơi chỉ có tiếng khóc và nghiến răng.” [6]

[6] Câu trích nguyên văn từ Kinh Thánh là như sau:

Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối ấy mất mặn, lấy gì làm nó mặn lại? Nó chẳng thể được dùng vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm dưới chân.” (Ma-thi-ơ 5:13)

Câu “nơi chỉ có tiếng khóc và nghiến răng” xuất hiện ở nhiều chỗ trong Kinh Thánh. Ví dụ như Ma-thi-ơ 13:42 và Lu-ca 13:28.

Thế nên mỗi người chúng ta là “muối của Trái Đất”. Phải, về mặt vi lượng đồng căn và thậm chí hơn nữa, nhìn từ khía cạnh hóa sinh, bên trong cơ thể chúng ta có mười hai loại muối. Thầy hiểu rằng mười hai loại muối đó có liên quan đến mười hai cung hoàng đạo. Trong hóa sinh người ta dùng mười hai loại muối đó rất nhiều.

Vâng, thế nên cơ thể con người, về mặt nền tảng là dựa trên muối. Còn với lưu huỳnh, bản thân nó là lửa, ngọn lửa thiêng. Thủy ngân là phần hồn kim loại của tinh trùng, hay còn gọi là exioëhary, đó là azoth đã chuyển hóa. Thủy ngân có trong vạn vật, đó là chất liệu cơ bản của công trình vĩ đại.

Ví dụ, nếu chuyển hóa năng lực tình dục [7], chúng ta sẽ thu được thủy ngân. [Cụ thể hơn là] qua việc chuyển hóa năng lượng tình dục, tình trùng sẽ được chuyển hóa thành năng lượng. Năng lượng này chính là thủy ngân, thủy ngân của các bậc hiền triết.

[7] Năng lực tình dục (tiếng Anh: Libido) – đọc thêm về libido ở đây.

Rõ ràng là việc điều chế thủy ngân trong thuật luyện kim đan luôn rất chính xác. Các nhà hiền triết chưa bao giờ tiết lộ cách điều chế thủy ngân nhưng hôm nay chúng ta phải can đảm nói ra điều đó. Nếu không biết về khoa học của việc chuyển hóa ham muốn tình dục thì chúng ta sẽ không thể có được thủy ngân của triết học.

Nền tảng của việc chuyển hóa ham muốn tình dục nằm trong Ẩn A.Z.F. Ẩn này được cất giữ trong những kho tàng của Aryavarta Ashram. Người ta nói nhiều về Aryavarta Ashram ở Tây Tạng, rõ ràng kho báu nằm ở đó. Ẩn A.Z.F. luôn được giữ bí mật. [8]

[8] Aryavarta – bản gốc ghi “Aryabarta”. Vì tiếng “v” và “b” khó phân biệt trong tiếng Tây Ban Nha, dịch giả cho rằng người ghi chép bài giảng này nghe nhầm.

Thầy biết cách dạy ẩn đó một cách rõ ràng mà không làm chướng tai gai mắt. Thầy sẽ chỉ nói rằng, điều cơ bản là kết nối lingam-yoni [9] mà không xuất ra ens seminis. [10] Ens seminis là nơi chứa toàn bộ ens virtutis của lửa, điều này là theo Philip Teofrastus Bombastus xứ Hohenheim, hay chính là Aureolus Paracelsus.

[9] Lingam-yoni là biểu tượng Ấn Độ giáo, tượng trưng cho dương vật và âm đạo.

[10] Trong sách của Paracelsus, “ens seminis” chỉ sức sống ở trong chất lỏng sinh dục của cả hai giới tinh. Với nam giới thì “ens seminis” gắn liền với tinh dịch.

Lingam, trong vai trò cơ quan sinh sản, là phallus [dương vật] trong tiếng Hy Lạp. Còn với yoni hay là cơ quan sinh sản của nữ, luôn được tượng trưng bằng chiếc bình thiêng của các trường phái huyền học vĩ đại, bằng chén thánh, bằng chiếc cốc bạc của Benjamin, bằng chiếc cốc của Hermes Trismegitus, v.v.

Ở Ấn Độ, Shiva, là Logos thứ ba, có nhiều phẩm chất đẹp đẽ. Chúng ta đều biết rõ về các vật tượng trưng hay các biểu tượng cơ bản của Shiva. Đó là lingam đen gắn trong yoni kim loại. Những người theo giáo lý của Shiva (các nhà huyền học Tantra) đều biết về những bí ẩn này.

Trong mọi trường hợp, nhờ sự chuyển hóa của exioëhary hay tinh trùng thiêng liêng mà hồn kim loại của tinh trùng xuất hiện, đó chính là thủy ngân. Đó cũng là năng lượng đi lên não qua một số kênh thần kinh nhất định. Khi năng lượng này được tiếp lửa, khi được tiếp lưu huỳnh, thì arché chắc chắn sẽ được hình thành. Thế nên thủy ngân phải được thụ tinh bởi lưu huỳnh, bởi ngọn lửa thiêng của Đức Thánh Linh trong chúng ta. Lửa lưu huỳnh với thủy ngân trên muối tạo thành một kết quả thật tuyệt vời, đó chính là exioëhary.

Lưu huỳnh và thủy ngân thổi sức sống vào cho muối. Sự kết hợp mới, những hoạt động mới, luôn tiến triển một cách biện chứng, mang đến những hình thái phi thường cho muối và trở thành cơ thể cảm xúc. Rồi sau đó, trên một quãng tám cao hơn, muối được thụ tinh bởi lưu huỳnh cùng thủy ngân và trở thành cơ thể lý trí, rồi sau nữa là thành cơ thể căn nguyên.

Vậy, đây là cách để xây dựng các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể. Nhưng trước hết chúng ta phải tạo nên arché bên trong từ muối, lưu huỳnh và thủy ngân. Từ arché đó, các cơ thể hiện sinh cao cấp sẽ nảy mầm.

Còn ở trên vũ trụ, từ arché nảy mầm ra các vì sao và các hành tinh, tỏa sáng và rung động trong không gian vô tận bởi vì “trên sao thì dưới vậy“. Những gì xảy ra ở trên cao trong thế giới vĩ mô sẽ được lặp lại ở dưới trong thế giới vi mô.

Thưa các anh chị em, đã đến lúc chúng ta phải hiểu thấu đáo tất cả những điều này một cách sâu sắc, hiểu trong mọi cấp độ của tâm trí. Chỉ bằng cách tạo ra các cơ thể cảm xúc, lý trí cùng căn nguyên thì chúng ta mới có thể trở thành con người thực sự. Khi những cơ thể này đã được hình thành, chúng ta sẽ tiếp nhận các căn nguyên tinh thần và tâm linh, để rồi trở thành con người, một con người đích thực.

Chúng ta cần phân biệt rõ giữa con người đích thực và “động vật trí năng”. Nếu đặt một con người đích thực và một “động vật trí năng” đối mặt với nhau, họ sẽ trông giống nhau về thể chất. “Động vật trí năng” thậm chí trông có vẻ như có nhiều ánh sáng trí tuệ hơn con người đích thực. Vì rất giống nhau nên một “kẻ vô lại có trí năng” có thể là lu mờ con người đích thực, một con người thực sự. Nhưng hãy quan sát hành vi của “động vật trí năng”, so sánh nó với hành vi của con người đích thực, chúng ta sẽ thấy sự khác nhau.

Con người có tinh thần trách nhiệm đạo đức rất cao, trong khi “động vật trí năng” thì không. Con người không phải là những kẻ tà dâm. Họ sẽ không bao giờ dám làm đổ chiếc chén của Hermes Trismegistus (vị thần ba lần vĩ đại của Thoth). Trong khi đó, “động vật trí năng” lại sinh sản như thú vật, hành động như thú vật và sống như thú vật, ngay cả khi chúng ăn mặc sang trọng.

Vì vậy, hãy phân tích một cách sâu sắc. Đừng quên rằng thầy tính toán rất kỹ khi nghiên cứu và rất khắt khe trong cách diễn đạt. Chúng ta đang nói về một điều rất nghiêm túc, đó là tạo ra con người. Chúng ta đang khẳng định dứt khoát rằng “động vật trí năng” không phải con người.

Những tuyên bố này nghe lạ nhưng lại rất chân thật. Thầy không ép các bạn phải chấp nhận ngay hôm nay luận điểm mà thầy đang nhấn mạnh. Các bạn có quyền tự do chấp nhận hay bác bỏ những lời dạy của thầy. Thầy cũng cho các bạn toàn quyền tự do phản bác. Thế nên thầy chỉ giới hạn bản thân trong việc trình bày và thầy trình bày theo lối biện chứng và mô phạm để các bạn có thể hiểu được.

Các trường phái kiểu giả bí truyền và giả huyền học rõ ràng đang đưa ra những khẳng định sai lầm. Họ nói rằng “ai cũng có có bảy cơ thể”, nghĩa là họ đang khẳng định rằng “ai cũng là con người”, điều này là không đúng.

Tốt hơn hết là nên nói sự thật và không dẫn người khác vào con đường dối trá sai lầm. Sự thật đau lòng, phải, rất đau, nhưng chúng ta phải nói ra. Chính vì thế người ta mới nói: “Sự thật không có tội nhưng nó gây ra sự khó chịu”.

Các bạn có chắc rằng mình đã là con người hay không? Bạn dựa vào đâu để có niềm tin như vậy? Cơ sở nào để bạn chống đỡ luận điểm của mình?

Tốt hơn hết chúng ta nên phân tích những điều này để có thể nhận thức rõ hơn rằng mình là ai, bằng cách thực sự kiểm kê những gì mình đã có và còn thiếu, để chúng ta có thể rèn luyện bản thân và thay đổi một cách triệt để.

Nhưng thầy cũng nói rằng chỉ tạo ra những cơ thể hiện sinh siêu việt của bản thể thôi thì chưa đủ để trở thành con người. Chúng ta cần một thứ hơn thế nữa. Trong thuật luyện kim đan người ta nói rằng “các cơ thể cảm xúc, lý trí và căn nguyên phải được biến thành vàng ròng”. Đúng như thế.

Để những phương tiện này trở thành các cơ thể vàng ròng, chúng thì ta cần loại bỏ thủy ngân khô và lưu huỳnh bị nhiễm độc thạch tín.

Thủy ngân khô chính là tất cả các cái tôi phi nhân tính ở bên trong. Nói cách khác, đó chính là những khiếm khuyết tâm lý.

Còn với lưu huỳnh bị nhiễm độc thạch tín thì đó chính là ngọn lửa địa ngục phi nhân tính ở bên trong các bề chìm thú tính của mình.

Nếu chúng ta tiến hành loại bỏ những khiếm khuyết tâm lý ở bên trong, nếu chúng ta tạo ra các cơ thể hiện sinh, thì cuối cùng những cơ thể này sẽ trở thành các cơ thể vàng, vàng tâm linh, vàng nguyên tử thực sự.

Những cơ thể vàng ròng này sẽ “luôn bị con rắn nuốt chửng”. Nhưng con rắn đó là gì? Thầy đã nói rằng đó là con rắn tỏa sáng trong giáo lý bí ẩn của Anahuac, của Ai Cập và Babylon, của Samothrace và Troy, của La Mã và Carthage. Môi-se đã biến cây gậy thành con rắn. Con rắn là ngọn lửa thiêng mà chúng ta phải đánh thức ở bên trong. Đó là một phần của bản thể nhưng là phần dẫn xuất. Nếu có thể phát triển phần này trong cơ thể thì chúng ta sẽ đạt được thắng lợi vĩ đại.

Moses and Aron before Paraoh Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
“Cái gậy của A-rôn biến thành con rắn” bởi James Dabney McCabe, 1877

Người Maya nói rằng đánh thức con rắn thôi là chưa đủ; họ khẳng định rằng cần phải bị con rắn nuốt chửng thì mới trở thành rắn.

Gần đây thầy vừa đi Yucatan, nơi những khẳng định của người Maya ở trên, được khắc trên đá. Ở đó thầy đã thấy một ngôi đền lớn. Điều thú vị ở ngôi đền đó là có một con rắn bằng đá lớn, khổng lồ và ở bên trong hàm của nó có một người, một cái đầu người. Con rắn đã nuốt chửng người đó.

Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Tượng khắc đá ở Yucatan, con rắn với đầu người trong miệng

Người Ấn Độ nói về “Kundalini Shakti“, con rắn lửa của các năng lực thần thông. Chúng ta cần phải phát triển con rắn này để có được những thần thông và siêu năng lực của bản thể. Nhưng đó chưa phải tất cả. Chúng ta cần để con rắn nuốt chửng thì mới có được năng lực thần thông của rắn.

Votan, một điểm đạo đồ vĩ đại của Mexico cổ đại đã nói: “Ta đi vào một con đường vốn là đường của loài rắn, và ta có thể đi qua con đường đó vào lòng trái đất bởi vì ta cũng là một con rắn.”
Votan là một con rắn!

Chừng nào chúng ta chưa biến thành rắn thì chúng ta chẳng là gì cả. Chúng ta là những sinh vật khốn khổ bị gió cuốn đi, không có giá trị gì. Chúng ta cần chuyển hóa bản thân và điều này chỉ có thể được thực hiện khi trở thành rắn.

Rồi sau đó, con rắn sẽ phải bị đại bàng nuốt chửng, con đại bàng của tâm linh (Logos). Từ đó chúng ta phải chuyển hóa nhiều hơn nữa: trở thành con rắn có lông vũ, như Chúa Quetzacoatl.

Con rắn có lông vũ không chỉ có ở đây, trên đất Mexico thân yêu của chúng ta. Ở miền Đông Tây Tạng và ở Ấn Độ cũng có loài rắn này.

Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Trên huy hiệu của nước Mexico có một con chim đại bàng ăn một con rắn. Ảnh này vẽ theo thần thoại của chủng tộc Aztec.
4ba0abcff9160a47 Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Con rắn có lông vũ Quetzalcoatl nuốt chửng một con người – ảnh minh họa từ Telleriano-Remensis Codex, folio 18 recto, MS Mexicain 385
NagaKanyaStatue 4b711aed 5d92 4602 b80c Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Tượng “Naga Kanya” (Phật giáo, Ấn Độ giáo)

Để trở thành một con người thì chúng ta phải hợp nhất, phải nhập với thần tính. Trong một bản chép tay Anahuac thầy thấy có một câu nói phi thường mang tính biểu tượng như sau: “Các vị thần đã lấy gỗ tạo ra con người, và sau đó họ đã đưa thần tính vào trong con người.” Sau đó có một đoạn nói thêm rằng, không phải mọi con người đều có thể hợp nhất với thần tính.

Vậy nên, trước tiên phải tạo ra con người. Chúng ta chưa phải là những con người thực sự. Con người thực sự chưa tồn tại. Rồi đó thì phải “hợp nhất con người với thần tính”.

Nhưng không phải con người nào cũng có thể hợp nhất với thần tính. Nếu không thành công, người đó sẽ trở thành một hasnamuss với trọng tâm kép, một cái thai hỏng của mẹ vũ trụ, một thất bại.

Không thể đạt được sự hòa nhập với thần tính khi chưa loại bỏ thủy ngân khô của các nhà hiền triết, có nghĩa là khi chúng ta chưa loại bỏ được các khiếm khuyết tâm lý của mình.

Một hanasmuss với hai trọng tâm có hai tính cách hoàn toàn khác nhau, một là thiên thần và một là ác quỷ. Một người như vậy chắc chắn sẽ phải đi vào Mictlan của Anahuac, tức là các cõi địa ngục, để thoái hóa trong địa ngục cho đến khi hắn trở thành cát bụi vũ trụ.

Những người như thế chỉ có thể được cứu rỗi qua cánh cửa của cái chết thứ hai, vì cái chết thứ hai sẽ giải phóng Phật tính. Sau đó, Phật tính có thể tiến vào thiên đường của các tinh linh tự nhiên và bắt đầu quá trình tiến hóa mới.

Như vậy, chúng ta phải đối mặt với vấn đề nan giải trong triết học: “tồn tại hay không tồn tại”. Chúng ta hoặc biến đổi bản thân hoặc không biến đổi bản thân. Nếu muốn chuyển hóa bản thân thì chúng ta phải học cách chuyển hóa tinh thành năng lượng thiêng liêng để trở thành con người. Còn nếu không thì chúng ta sẽ thoái hóa trong Mictlán.

Chúng ta đang đứng trước thế tiến thoái lưỡng nan của triết học “tồn tại hay không tồn tại”, và ta không thể lùi bước. Lùi một bước là chúng ta sẽ lạc lối!

Các trường phái giả bí truyền và giả huyền học nhấn mạnh nhiều vào giáo điều của thuyết tiến hóa. Những thứ này là vô dụng. Cả tiến hóa lẫn chị em song sinh của nó là thoái hóa đều không đưa chúng ta đến sự giải thoát cuối cùng.

Sự tiến hóa có trong cái hạt đang nảy mầm, trong cái cây đang lớn, trong cái cây đang ra quả. Sự thoái hóa có trong tất cả những gì đang suy giảm, thoái trào và chết đi.

Sự tiến hóa có trong bào thai đang phát triển trong bụng mẹ, trong một sinh vật đang được sinh ra đời, trong tuổi trẻ sôi nổi, năng động. Sự thoái hóa có trong người già đang tiến vào trạng thái suy yếu và cuối cùng sẽ chết đi.

Các luật tiến hóa và thoái hóa thuần túy là những quy luật máy móc, chúng không liên quan gì đến sự giải thoát cuối cùng.

Chúng ta cần tiến vào con đường của cuộc cách mạng tâm thức, theo con đường của siêu nhân, con đường của đấng Kitô Đỏ. Đây là con đường có thể dẫn chúng ta đến sự khai ngộ sâu sắc của bản thể.

Chân sư vĩ đại Giêsu đã nói:

“…cổng hẹp và đường hẹp dẫn đến sự sống, lại có ít người tìm vào.” [Ma-thi-ơ 7:14]

Thế nên con đường của cuộc cách mạng của tâm thức tách rời khỏi bánh xe vận mệnh của tiến hóa và thoái hóa. Đó là con đường của thuật luyện kim đan, con đường làm tan rã cái tôi, con đường hi sinh vì nhân loại.

Thay vì đi sâu vào những chủ đề khá khó hiểu và chứa nhiều nội dung liên quan đến tín điều của thuyết tiến hóa, tốt hơn hết chúng ta nên chuyển hóa tinh thành năng lượng sáng tạo. Chỉ như vậy, một ngày nào đó chúng ta mới có thể phát triển trong mình những hạt mầm để trở thành con người đích thực. Đây là vấn đề thiết yếu.

Bài giảng của thầy đến đây là hết. Có ai muốn hỏi gì không? Xin hãy tự nhiên.

Mời bạn…


Hỏi đáp

Học trò: Xin thầy vui lòng giải thích về đấng Kitô Đỏ.

Thầy Samael Aun Weor: Thầy rất sẵn lòng giải thích về đấng Kitô Đỏ. Nhưng trước đó, thầy xin nói về đấng Kitô Trắng.

Nhiều giáo phái tôn giáo khác nhau muốn biến Đức Kitô vũ trụ thành một nhân vật nhu nhược và ngớ ngẩn, một nhân vật trong tranh, một nhân vật ra vẻ ngoan đạo và những thứ ngốc nghếch tương tự. Họ muốn giới thiệu với chúng ta một hoạn quan, một người đàn ông không có tính dục, nửa nam nửa nữ. Điều này là hoàn toàn ngớ ngẩn. Nếu họ muốn gán những thứ vô nghĩa này cho Chúa Kitô lịch sử, Kabir Giêsu vĩ đại, thì họ đã hoàn toàn sai lầm. Bởi vì Kabir Giêsu vĩ đại có vợ. Ngài đã du hành qua vùng Địa Trung Hải, ngài đã ở Ấn Độ. Ngày nay có những tài liệu làm chứng rằng ngài đã sống mười hai năm ở miền đông Tây Tạng. Ngài là một con người, một con người đúng nghĩa và đồng thời là một vị thần, một con người theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này.

Sau nhiều chuyến đi, ngài đã trở lại vùng đất thánh để hoàn thành sứ mệnh được giao phó, đó là mở ra con đường điểm đạo một cách công khai cho toàn thể nhân loại.

Thế nên những gì mà người thời nay tuyên bố là không trùng khớp với thực tế của Chúa Kitô lịch sử.

Nhưng hãy đừng chỉ nghĩ đến Chúa Kitô lịch sử. Hãy nghĩ đến đấng Kitô nội tại, đấng Kitô hoàn hảo mà chúng ta phải tìm kiếm trong chính mình ngay bây giờ và ở đây.

Đấng Kitô nội tại mới là quan trọng. Ngài phải được sinh ra trong chúng ta khi ta xứng đáng với điều đó, khi ta đã tạo ra các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể bằng thuật luyện kim đan tình dục.

Sách phúc âm nói rằng ngài được sinh ra ở Bêlem. Tuy nhiên, ở thời điểm đó làng Bêlem chưa tồn tại.

Nếu dùng từ nguyên học để xem xét từ Bêlem, ta sẽ thấy rằng “bel” là một từ Chaldea gợi nhớ về tòa tháp lửa. Theo các tài liệu cổ xưa nhất, ở thời của Kabir vĩ đại không hề có làng Bêlem.

Như vậy,việc ngài “được sinh ra ở Bêlem” là mang tính biểu tượng. Bel nghĩa là ngọn tháp lửa. Ngọn tháp là ở đây, [thầy chỉ vào đầu] là đầu người, còn ngôi đền thờ là toàn bộ cơ thể. [11]

[11] “Anh chị em không biết rằng thân thể anh chị em là đền thờ của Ðức Thánh Linh, Ðấng đang ngự trong anh chị em, Ðấng Ðức Chúa Trời ban cho anh chị em, và anh chị em không còn thuộc về chính mình nữa sao? Vì anh chị em đã được mua bằng giá rất cao rồi; vậy hãy lấy thân thể mình làm vinh hiển Ðức Chúa Trời.

(I Cô-rinh-tô 6:19-20, Kinh Thánh BD2011)

Đấng Kitô nội tại, Chúa Giêsu Kitô bên trong chúng ta, phải được sinh ra trong ngọn tháp của Bêlem, nghĩa là ngay trong chúng ta, ngay bây giờ và ở đây. Đó mới là điều quan trọng. Có một thi sĩ đã từng nói: “Dù Chúa có được sinh ra ở Bêlem mà Ngài không sinh ra trong trái tim ta thì cũng là vô ích. Dù Chúa có chết đi và phục sinh ở thánh địa, cũng là vô ích nếu Ngài không chết đi và phục sinh trong chúng ta.”

Hơn thế nữa, đấng Kitô nội tại sẽ giúp chúng ta loại bỏ những yếu tố không mong muốn ở bên trong. Đám đông những kẻ ở thánh địa đang la hét “đóng đinh, đóng đinh, đóng đinh!”, họ ở ngay bên trong chúng ta bây giờ và ở đây. Đó là vô số những yếu tố không mong muốn, là gương mặt của các lỗi lầm ở bên trong. Và ba kẻ phản bội đã dẫn người tử đạo lên đồi Canvê, [12] chúng cũng sống trong mỗi người chúng ta.

[12] Đồi Canvê là nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh.

Giuđa là con quỷ của lòng tham, kẻ đã đánh đổi bậc chân sư nội tại lấy mọi thú vui trần thế, kẻ đã bán ngài lấy 30 đồng bạc (biểu tượng của các loại tham vọng). [13]

[13] ‘Bấy giờ một trong mười hai sứ đồ tên là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đến gặp các trưởng tế, và nói, “Các ông sẽ trả cho tôi bao nhiêu tiền nếu tôi nộp Người ấy cho các ông?” Họ thỏa thuận trả cho hắn ba mươi miếng bạc. Từ lúc ấy hắn bắt đầu tìm dịp để phản nộp Ngài.’

(Ma-thi-ơ 26:14-16 Kinh Thánh BD2011)

Philatô là con quỷ của tâm trí, kẻ luôn biện minh và tìm cách trốn tránh mọi lỗi lầm. [14]

[14] ‘Philatô thấy cứ tranh cãi với họ sẽ không đi tới đâu, và cuộc nổi loạn có thể bắt đầu, ông cho đem nước đến, rồi rửa tay trước mặt đám đông, và nói, “Ta vô tội về máu của người nầy; các ngươi phải chịu trách nhiệm lấy.”

Bấy giờ cả đám đông đáp lại, “Hãy để máu của hắn đổ trên chúng tôi và trên con cháu chúng tôi.”
Vậy Philatô phóng thích Ba-ra-ba cho họ. Sau khi dùng roi đánh Ðức Chúa Jesus, ông trao Ngài cho họ để đem đóng đinh trên cây thập tự.’

(Ma-thi-ơ 27:24-26 Kinh Thánh BD2011)

Caipha là con quỷ của ác ý, gã linh mục đã bán rẻ ban thờ, bán các bí tích và tà dâm với tín đồ. [15]

[15] “Khi ấy các trưởng tế và các trưởng lão trong dân họp lại trong dinh Thượng Tế Caiapha để bàn mưu lén bắt Ðức Chúa Jesus và giết đi.”

(Ma-thi-ơ 26:3-4 Kinh Thánh BD2011)

01 caiaphas 464440223 square Bảy cơ thể nội tại trong giáo lý Thông Thiên Học
Chúa Giêsu gặp thượng tế” – bởi Gerard van Honthorst, 1617

Những linh mục như thế thời nào cũng có: họ ở Babylon, ở La Mã, v.v. Khi nói về các linh mục, thầy không chỉ riêng hay nhấn mạnh đến một giáo phái nào. Không, thầy tôn trọng mọi giáo phái. Thầy đang nói về chức vụ linh mục nói chung, vì linh mục có nhiều hình thức.

Dù sao đi nữa, đấng Kitô nội tâm đã đặt vị linh mục làm người chăn dắt đàn chiên của mình. Nếu linh mục bán các bí tích hay bán rẻ ban thờ, hắn sẽ trở thành Caipha. Ba kẻ phản bội đã đóng đinh Đấng Kitô nội tại.

Vị Chúa của mọi sự hoàn hảo phải trải qua toàn bộ vở kịch vũ trụ, như đã được vạch định trong bốn sách Phúc Âm. Toàn bộ vở kịch đó phải được diễn ra trong chính chúng ta, ngay bây giờ và ở đây. Cuối cùng, vị Chúa sẽ bị đóng đinh ở bên trong chúng ta. Bất kì nhà thấu thị khai sáng nào cũng biết điều đó. Rồi ngài được đặt trong một ngôi mộ pha lê, bên trong chúng ta, sâu trong trái tim chúng ta. Như thế, nhà luyện kim đan rèn luyện nỗ lực trong công trình vĩ đại, loại bỏ những khiếm khuyết tâm lý của mình, đạt được sự phục sinh của Chúa trong chính mình và trở thành một vị Chúa.

Vì vậy, sự phục sinh phải diễn ra ngay bây giờ và ở đây, trong cuộc sống này, không phải sau hàng triệu năm nữa. Không! Phải phục sinh ngay bây giờ! Ngay tại đây! Ngay lúc này!

Khi Chúa khoác lên mình tấm áo màu tím của các vị vua, thì có nghĩa là ngài đã chiến thắng. Ngài đã chiến thắng bóng tối trong chính mình. Bằng cái chết của chính mình ngài đã giết chết cái chết. Người ta nói rằng ngài là đấng Kitô Đỏ vì ngài là lửa và ánh sáng.

Vì vậy, chúng ta phải nghĩ đến đấng Kitô Đỏ ở bên trong mỗi siêu nhân. Đây mới là điều quan trọng.

Có câu hỏi nào khác không?

Học trò: Thưa thầy, đấng Kitô nội tại ở bên trong bị chìm lấp trong đau khổ của những cái tôi thối nát. Có khi nào ngài nhận ra được những nỗi khổ này đều là nhân quả hay không?

Thầy Samael Aun Weor: Khi đấng Kitô Đỏ hiện thân trong chúng ta, ngài không chỉ biết kết quả mà còn biết cả nguyên nhân. Tự thân đấng Kitô biết rằng mỗi cái tôi, hay là mỗi khiếm khuyết tâm lý của chúng ta, đều có gốc rễ từ những căn nguyên lầm lạc. Ngài tác động lên nguyên nhân của sai lầm. Và bằng cách thay đổi nguyên nhân, sai lầm được sửa đổi và loại bỏ. Nếu ngài không tác động lên nguyên nhân thì khiếm khuyết sẽ không biến mất. Ngài làm việc với các nguyên nhân để loại bỏ những kết quả sai lầm.

Đó là cách đấng Kitô Đỏ giải phóng chúng ta.

Nhưng đừng nghĩ rằng đấng Kitô là một kết quả. Tự thân đấng Kitô vượt ra ngoài nhân quả, ngài là đấng đã, đang và luôn hiện hữu. Hãy phân biệt rõ ràng giữa trật tự nhân quả, giữa sự phối hợp của nhân và quả, giữa sự xâu chuỗi hay liên kết, phân biệt những điều này với đấng Kitô. Chúng ta không thể xem đấng Kitô là kết quả của một nguyên nhân.

Đấng Kitô là đấng Kitô, ngài là Inri, ngài là Abraxas của những đệ tử Gnosis cổ xưa, ngài là ngọn lửa chi phối vũ trụ, là dấu hiệu của lửa ở cõi cảm xúc, là ngọn lửa của ngọn lửa. Ngài không phải là kết quả của bất kỳ nguyên nhân nào, ngài là đấng đã, đang và sẽ luôn hiện hữu. Ngài là mạch sống đang đập trong từng nguyên tử cũng như mạch sống đang đập trong mỗi mặt trời.

Có ai có câu hỏi khác không?

Học trò: Thưa thầy, xin thầy giảng về sự khác biệt giữa cơ thể hiện sinh và dương thân?

Thầy Samael Aun Weor: Các cơ thể hiện sinh cao cấp của bản thể chính là các dương thân, không có sự khác biệt, chúng như nhau. Chúng ta có thể dùng từ dương thân hoặc cơ thể hiện sinh. Không có sự khác biệt.

Có câu hỏi nào khác không?

Những ai không đồng ý với những phát biểu lạ thường này cũng có quyền bác bỏ, miễn là họ không biến nó thành một phép biện chứng.

Học trò: Thưa thầy, tia lửa hiện hữu trong mỗi chúng ta có phải được phát ra từ một ngọn lửa tổng thể vĩ đại?

Thầy Samael Aun Weor: À, bản thân tia lửa trinh nguyên chắc chắn là đến từ ngọn lửa vĩ đại, có thể nói nó là một tia phát ra từ Đức Cha vĩnh cửu chung của vũ trụ.

Chúng ta hãy phân biệt hoặc tách biệt trọn vẹn giữa Aelohim và Elohim. Elohim được hình thành từ đội quân tiếng nói, bởi Ngôi lời vĩ đại hoặc bởi Osehaohoore (Oeaohoo, Oeaihu hoặc Oeaihwu). [16] Elohim là một vị lưỡng tính thần thánh hay những vị lưỡng tính thần thánh, bởi vì bản thân “Elohim” là một từ có nghĩa là “các vị nam thần và nữ thần”.

[16] “OEAOHOO là ‘cha-mẹ của các vị thần’ hay là bộ sáu hợp nhất thành một, hay là bộ bảy gốc rễ, nguồn gốc của tất cả mọi thứ.”

(H. P. Blavatsky – Giáo Lý Bí Nhiệm, tập 1)

Chúng ta biết rõ rằng Elohim là những vị lưỡng tính phi thường khôn tả, họ là đội quân tiếng nói. Elohim là Ngôi lời của Thánh Giăng. [17] Elohim là tia lửa trinh nguyên trong mỗi chúng ta.

[17] “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Từ ban đầu, Ngài ở với Đức Chúa Trời. Muôn vật đều do Ngài tạo dựng, không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Trong Ngài có sự sống, sự sống là ánh sáng cho loài người. Ánh sáng soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng.”

(Giăng 1:1-5, Kinh Thánh Tân Ước)

Toàn bộ đội quân của Ngôi lời là đấng sáng thế Demiurge, hay là Logos hiện thể. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng Logos hiện thể này, đội quân Ngôi lời này, tia lửa thần thánh ngự trong sâu thẳm của tâm thức này, đều có nguồn gốc từ Aelohim, nghĩa là từ thần tính không thể biết đến và không biểu hiện, hay chính là Đức Cha vĩnh cửu chung của vũ trụ.

Vậy nên Elohim phát ra từ Aelohim. Aelohim là đấng toàn năng, đấng vũ trụ vượt ra ngoài vũ trụ, đấng không thể biết đến, không biểu hiện, và không ai có thể chạm khắc, đục đẽo hay đặt thành biểu tượng theo bất kỳ cách nào.

Chúng ta có thể biểu tượng hóa Elohim. Chúng ta có quyền làm thế. Nhưng chúng ta không thể chạm khắc, đục đẽo hay biểu tượng hóa Aelohim theo bất kỳ cách nào. Aelohim là đấng không hiển lộ và không thể biết đến. Thế thôi.

Còn câu hỏi nào khác không?

Nếu không còn câu hỏi nào nữa thì chúng ta sẽ kết thúc bài giảng này và mời tất cả các bạn tham gia vào ngày mai, cùng giờ như hôm nay. Mọi người đều được mời đến nghe giảng ngày mai.

Chúc bình an in-ve-ren-xi-al!


Gửi phản hồi