Biện chứng tâm thức – Chương 1

✏ Tác giả: Samael Aun Weor 📖 Biên chứng tâm thức

Chương này vẫn đang trong quá trình dịch.


[Đoạn 1-97]

“Nếu một người cảm thấy đau đớn hoặc bị tổn thương khi bị phỉ báng, vu khống, bị tố cáo hoặc bị buộc tội với bằng chứng giả mạo thì đó là dấu hiệu cho thấy người này vẫn mang trong mình cái Tôi của sự tự mãn” – Samael Aun Weor.

PHƯƠNG PHÁP LÀM TAN RÃ CÁI TÔI

Phương pháp tốt nhất để làm tan rã cái Tôi là trải nghiệm cuộc sống thực tiễn một cách mãnh liệt.

Sự tương tác với người xung quanh là một tấm gương kỳ diệu, khi nhìn vào đó ta có thể chiêm ngưỡng cái Tôi một cách toàn diện.

Trong mối quan hệ với đồng loại của mình, những khiếm khuyết ẩn sâu trong tiềm thức nảy sinh một cách tự nhiên, chúng bộc phát ra ngoài bởi vì tiềm thức phản bội chúng ta. Nếu luôn ở trong trạng thái nhận thức tỉnh táo, thì chúng ta sẽ nhìn thấy được bản chất của những khiếm khuyết này. Niềm vui lớn nhất của học trò Gnosis là được ăn mừng khi phát hiện ra một trong những khiếm khuyết của mình. Khi một khiếm khuyết được phát hiện, nó sẽ chết. Khi phát hiện ra một khiếm khuyết, ta nên đặt nó vào một khung cảnh, giống như một người đang xem phim, nhưng không chê trách hay đánh giá.

Chỉ hiểu khiếm khuyết bằng lý trí là chưa đủ, thêm vào đó ta cần phải thiền sâu sắc trong nội tâm để nắm bắt được khiếm khuyết trong các cấp độ của tâm trí.

Tâm trí có nhiều cấp độ và chiều sâu và chừng nào ta chưa thấu hiểu được một khiếm khuyết ở tất cả các cấp độ của tâm trí thì công việc của chúng ta vẫn chưa hoàn thành. Khiếm khuyết đó sẽ vẫn tiếp tục tồn tại như một con quỷ cám dỗ trong sâu thẳm tiềm thức của chúng ta.

Khi một khiếm khuyết được thấu hiểu toàn diện ở tất cả các cấp độ của tâm trí, thì khiếm khuyết đó sẽ tan rã khi cái Tôi nhân cách hóa nó đã được tan rã và tiêu biến thành cát bụi vũ trụ.

Đây là cách mà chúng ta tiếp tục chết trong từng khoảnh khắc. Đây là cách mà ta tiếp tục thiết lập trong mình một trung tâm ý thức cố định, một trọng tâm cố định.

Bên trong những người chưa ở trạng thái thoái hóa cuối cùng vẫn còn Phật tính, nguyên lý Phật tính nội tâm, vật chất tâm lý hay nguyên liệu thô để tạo ra thứ gọi là Tâm hồn.

Cái Tôi đa nguyên đã ngu ngốc sử dụng vật liệu tâm lý nói trên vào những vụ nổ nguyên tử phi lý của sự đố kỵ, tham lam, hận thù, ghen tuông, tà dâm, bám chấp và chạy theo hão danh, v.v.

Khi cái Tôi đa nguyên chết đi trong từng khoảnh khắc, vật liệu tâm lý ấy trở thành trung tâm ý thức cố định.

Đây là cách chúng ta dần dần cá thể hóa bản thân. Chúng ta có thể cá thể hóa bản thân bằng cách làm tan rã cái Tôi. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rõ rằng tính cá thể không phải là tất cả. Với sự kiện ở Bethlehem [1] thì chúng ta nên chuyển sang tính siêu cá thể.

[1] Bethlehem là nơi sinh của Chúa Giêsu thành Nazareth. Sự kiện ở Bethlehem chỉ việc chúng ta hiện thân Đức Kitô. (Theo Phúc Âm Lu-ca và Ma-thi-ơ thì Giê-su được Ma-ri-a là vợ bác thợ mộc Giu-sê, sinh ra ở Bethlehem xứ Judea).

Làm tan rã cái Tôi là một việc rất nghiêm túc. Chúng ta cần phải tìm hiểu bản thân một cách sâu sắc, trong tất cả các cấp độ của tâm trí. Cái Tôi là một cuốn sách nhiều tập.

Chúng ta cần nghiên cứu phép biện chứng, suy nghĩ, cảm xúc, hành động của mình trong từng khoảnh khắc, mà không biện minh hay lên án. Chúng ta cần phải thấu hiểu toàn vẹn từng khuyết điểm của mình đến tận những tầng sâu nhất của tâm trí.

Cái Tôi đa nguyên là tiềm thức. Khi chúng ta làm tan rã cái Tôi thì tiềm thức sẽ trở thành ý thức.

Chúng ta cần chuyển tiềm thức thành ý thức. Việc này chỉ đạt được bằng cách tiêu diệt cái Tôi.

Khi ý thức tiến đến chiếm hữu vị trí của tiềm thức thì ta đạt được cái gọi là ý thức liên tục.

Người có được ý thức liên tục thì sẽ sống có ý thức ở mọi thời điểm, không chỉ trong thế giới vật chất mà còn trong các cõi siêu việt.

Con người hiện có 97% tiềm thức. Đó là lý do tại sao tiềm thức ngủ sâu không chỉ trong thế giới vật chất, mà còn trong các thế giới siêu cảm khi cơ thể vật chất đang ngủ và sau khi chết.

Chúng ta cần cái Tôi chết đi. Chúng ta cần chết đi trong từng khoảnh khắc, ngay bây giờ và ở đây, không chỉ trong thế giới vật chất, mà còn trong tất cả các cõi của Tâm trí Vũ trụ.

Chúng ta không nên khoan dung với bản thân mình. Chúng ta nên thực hiện việc mổ xẻ cái Tôi bằng con dao tự phê bình sắc bén.

TRẬN CHIẾN CỦA CÁC KHÁI NIỆM ĐỐI NGHỊCH

Một bậc thầy vĩ đại đã nói: “Hãy chỉ tìm kiếm sự khai ngộ, rồi mọi thứ khác sẽ được ban thêm cho con” [2].

[2] “Vậy các ngươi đừng lo lắng mà nói rằng, ‘Chúng ta sẽ ăn gì?’ hoặc ‘Chúng ta sẽ uống gì?’ hoặc ‘Chúng ta sẽ mặc gì?’ Vì các dân ngoại luôn tìm kiếm những điều ấy, còn Cha các ngươi trên Trời đã biết các ngươi cần những điều ấy rồi. Nhưng trước hết hãy tìm kiếm vương quốc Ðức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, để các ngươi sẽ được ban thêm mọi điều ấy nữa”.
(Chúa Giê-su, Ma-thi-ơ 6:31-33, Kinh Thánh).

Kẻ thù tồi tệ nhất của sự khai ngộ là cái Tôi. Cần phải biết rằng cái Tôi là một nút thắt trong dòng chảy của sự tồn tại, một chướng ngại vật kiến nguy trí mạng trong dòng chảy của cuộc sống tự do.

Tăng hỏi Sư: “Thế nào là Đạo?”

Núi đẹp quá!”, nhà sư nói về ngọn núi nơi thầy trú ẩn.

Tăng nói: “Kẻ học này hỏi Đạo, sao sư lại nói núi đẹp?

Sư trả lời: “Chừng nào con vẫn chưa vượt qua ngọn núi thì con không thể đạt tới Đạo[3].

“Chừng nào con vẫn chưa vượt qua ngọn núi thì con không thể đạt tới Đạo”.

[3] Trích “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, Tập 7, Chương: Thiền Sư Duy Khoan. Xem thêm tại đây.

Một nhà sư khác đã hỏi thầy đó chính câu hỏi đấy. Bậc thầy đã trả lời:

“Đạo đây, ngay trước mắt con”.

“Sao con không thấy?” 

“Bởi vì con có cái Tôi”.

“Thầy có thấy không?”

Chừng nào con vẫn nhìn mọi thứ bằng cái nhìn nhị nguyên và nói rằng ‘Tôi không thể’, ‘Thầy có thể’, v.v. thì con vẫn sẽ bị che mắt bởi cái nhìn tương đối đó”.

“Khi không có con và không có thầy thì có thấy không?”

“Khi không có con và không có thầy thì còn ai muốn thấy?” [4].

[4] Trích “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, Tập 7, Chương: Thiền Sư Duy Khoan. Xem thêm tại đây.

Nền tảng của cái Tôi là tâm trí nhị nguyên. Cái Tôi được duy trì bởi trận chiến của các khái niệm đối nghịch.

Mọi suy nghĩ đều được hình thành dựa trên trận chiến của các khái niệm đối nghịch. Nếu nói “người này hoặc người kia cao” thì ý của ta là “anh ấy không thấp”. Nếu nói rằng “chúng tôi đang đi vào” thì ý của ta là “chúng tôi đang không đi ra”. Nếu nói rằng mình đang vui thì ta cũng đang khẳng định rằng mình không buồn, v.v.

Các vấn đề của cuộc sống chỉ là các dạng thức tinh thần với hai cực: tích cực và tiêu cực. Tâm trí tạo ra và duy trì các vấn đề. Khi chúng ta ngừng suy nghĩ về một vấn đề thì chắc chắn vấn đề đó sẽ kết thúc.

Niềm vui và nỗi buồn, khoái cảm và khổ đau, thiện và ác, chiến thắng và thất bại tạo thành trận chiến của các khái niệm đối nghịch. Đây cũng chính là nền tảng của cái Tôi.

Chúng ta đang sống một cuộc sống khốn khổ và bị xô đẩy bởi các khái niệm đối nghịch: chiến thắng và thất bại, thích và không thích, khoái cảm và đau đớn, thất bại và thành công, cái này và cái kia, v.v.

Chúng ta cần phải giải phóng mình khỏi sự lộng hành của các khái niệm đối nghịch. Điều này chỉ có thể xảy ra thông qua việc học cách sống trong từng khoảnh khắc mà không khái niệm hóa sự việc dưới bất kỳ hình thức nào, không mơ mộng, không huyễn tưởng.

“Các bạn đã bao giờ quan sát thấy những viên đá bên đường tỏa sáng và tinh khiết như thế nào sau một cơn mưa xối xả chưa? Người ta chỉ có thể thán phục mà thốt lên ‘Ồ!'” [5].

Chúng ta nên thấu hiểu cái “Ồ!” của sự vật mà không làm biến dạng câu cảm thán thần thánh đó với trận chiến của các khái niệm đối nghịch.

[5] Trích “The Buddhist Sects of Japan, Vol. 84” bởi E Steinilber-Oberlin và Kuni Matsuo, 1938.

Triệu Châu hỏi thầy Nam Tuyền: “Đạo là gì?”.

Nam Tuyền trả lời: “Đời sống hằng ngày là Đạo”.

“Có cách nào để sống theo không?”

“Nếu cố để sống theo thì con đã xa nó rồi” [6].

[6] Nguồn: Vô Môn Quan, Tắc 19.

“Đừng cố gắng hát bài hát này, hãy để nó tự hát. Chẳng phải những trục trặc khiêm tốn tự đến sao?” [7].

[7] Trích “Zen Buddhism” bởi Christmas Humphreys, Chương 6.

Hãy nhớ câu này: “Gnosis chỉ tồn tại trong thực tế. Nó héo tàn trong những khái niệm trừu tượng, và khó mà tìm thấy ngay cả trong những suy nghĩ cao thượng nhất”.

Một vị tăng hỏi thiền sư Mục Châu: “Chúng ta phải mặc quần áo và ăn hàng ngày. Làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi điều này?”

Thiền sư trả lời: “Chúng ta ăn, chúng ta mặc quần áo”.

Vị tăng nói: “Con không hiểu”.

“Thế thì mặc quần áo vào và ăn đi”, thầy đáp [8].

[8] Trích “古尊宿語錄” 2.6, theo bản dịch tiếng Anh ở “Zen Buddhism” bởi Christmas Humphreys, Chương 6.

Đây chính xác là hành động mà không bị vướng mắc vào các khái niệm đối nghịch: Chúng ta có ăn không? Chúng ta có mặc quần áo không? Tại sao chúng ta phải phức tạp hóa vấn đề này lên? Tại sao lại phải nghĩ đến những thứ khác trong khi đang ăn và mặc quần áo?

Nếu bạn đang ăn thì hãy ăn; nếu đang mặc quần áo thì hãy mặc và nếu đang đi bộ trên đường thì hãy đi, đi và đi, nhưng đừng suy nghĩ về những thứ khác. Hãy chỉ làm việc mà bạn đang làm. Đừng trốn tránh sự thật, đừng gán cho chúng nhiều ý nghĩa, ký hiệu, bài giảng, và lời cảnh báo. Đừng trải nghiệm sự thật như thể chúng là những câu chuyện ngụ ngôn; hãy trải nghiệm sự thật với tâm trí ở trạng thái “đón nhận” trong mọi khoảnh khắc.

Hãy hiểu rằng tôi đang nói với các bạn về con đường của hành động mà không có trận chiến đau đớn của các khái niệm đối nghịch.

Hành động mà không có sự phân tâm, không trốn tránh, không huyễn tưởng, không khái niệm hóa dưới bất kỳ hình thức nào.

Những người bạn yêu quý, hãy thay đổi tính cách của mình thông qua hành động thông minh, không bị mắc kẹt trong trận chiến của các khái niệm đối nghịch.

Khi chúng ta đóng cửa không cho huyễn tưởng đi vào thì trực giác sẽ được thức tỉnh.

Khi không còn trận chiến của các khái niệm đối nghịch, chúng ta sẽ hành động bằng trực giác. Đó là hành động viên mãn. Ở nơi nào có sự viên mãn thì ở nơi đó cái Tôi sẽ vắng bóng.

Hành động bằng trực giác sẽ dẫn ta đến sự thức tỉnh của tâm thức.

Hãy làm việc và nghỉ ngơi thích hợp. Hãy để cho mình trôi theo dòng đời. Hãy xả hết dòng nước đục ngầu và thối rữa của thói quen suy nghĩ. Rồi trong khoảng không đó, trí tuệ Gnosis và niềm vui của cuộc sống sẽ tuôn trào.

Khi không còn cuộc chiến của các khái niệm đối nghịch thì hành động thông minh này sẽ nâng chúng ta đến một tầm cao mà ở đó, một điều gì đó phải được phá vỡ. Khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp thì cái mái nhà kiên cố của suy nghĩ sẽ bị phá vỡ. Ánh sáng và sức mạnh của Bản thể sâu thẳm sẽ tràn vào tâm trí, một tâm trí đã ngừng mơ.

Sau đó, trong thế giới vật chất cũng như ở bên ngoài, khi cơ thể vật chất đang ngủ, chúng ta sẽ sống hoàn toàn có ý thức và khai sáng, tận hưởng phúc lạc của cuộc sống ở các cõi siêu việt.

Việc tạo áp lực lên tâm lý liên tục và việc rèn luyện này sẽ làm thức tỉnh ý thức. Nếu chúng ta đang ăn nhưng lại nghĩ về kinh doanh thì rõ ràng là chúng ta đang mơ. Nếu chúng ta đang lái ôtô nhưng lại nghĩ đến người yêu, thì tất nhiên là chúng ta không tỉnh táo, chúng ta đang mơ. Nếu chúng ta đang làm việc và nhớ đến bạn bè hoặc anh em của mình, v.v., thì rõ ràng là chúng ta đang mơ.

Mọi người đang sống mơ màng trong thế giới vật chất, và cũng mơ màng trong các thế giới nội tâm khi cơ thể vật chất đang ngủ.

Ta cần phải ngừng mơ trong các thế giới nội tâm. Khi ngừng mơ trong thế giới vật chất thì chúng ta sẽ thức tỉnh ngay tại đây và bây giờ, và sự thức tỉnh đó sẽ xuất hiện trong các cõi siêu việt.

Đầu tiên ta hãy tìm kiếm sự khai ngộ và mọi thứ ấy sẽ được ban thêm cho các anh em[9].

[9] Câu này viết theo Ma-thi-ơ 6:33: “Nhưng trước hết hãy tìm kiếm vương quốc Ðức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, rồi anh em sẽ được mọi thứ ấy”.

Bất kỳ người nào đã khai sáng thì có thể nhìn thấy con đường [thấy đạo]. Những người chưa khai sáng thì sẽ không nhìn thấy con đường sẽ dễ bị lạc lối và rơi xuống vực thẳm.

Ta cần cố gắng và thận trọng kinh khủng trong từng giây phút, từng khoảnh khắc để không bị ngủ mơ giữa ban ngày. Chỉ một phút thiếu ý thức là đủ để tâm trí lại mơ màng ngay khi ta sực nhớ ra cái gì đó, khi nghĩ đến một chuyện khác với công việc và hành động mà chúng ta đang làm trong hiện tại.

Nếu chúng ta học cách tỉnh táo trong từng khoảnh khắc ở thế giới vật chất, thì chúng ta cũng sẽ sống tỉnh táo và ý thức được về bản thân trong từng khoảnh khắc ở các cõi siêu việt khi cơ thể vật chất đang ngủ và cả ở sau khi chết.

Thật đau đớn khi biết rằng ý thức của nhân loại đang ngủ và chìm sâu trong những giấc mơ, không chỉ trong lúc cơ thể đang ngủ, mà ngay cả trong trạng thái, trớ trêu thay, được gọi là tỉnh giác.

Hành động không bị dính mắc vào tâm nhị nguyên sẽ thức tỉnh Tâm thức.

K-N

Tôi phải tuyên bố trước phán quyết long trọng của dư luận rằng mục tiêu cơ bản của mỗi học trò Gnosis là trở thành một K-N, một Kosmos-Người.

Tất cả mọi người chúng ta đều sống trong một Kosmos. Từ Kosmos có nghĩa là trật tự và chúng ta không bao giờ được quên điều này.

Kosmos-Người là một người có năm trung tâm [10] vận hành một cách hoàn hảo, trong tâm và trong Tinh chất của mình.

[10] Năm trung tâm: trung tâm vận động, trung tâm tình dục, trung tâm bản năng, trung tâm cảm xúc, trung tâm lý trí.

Để trở thành Kosmos-Người, chúng ta cần phải học cách nhận biết được sự biểu hiện của ba lực chính của vũ trụ: tích cực, tiêu cực và trung tính.

Nhưng trên con đường trở thành Kosmos-Người, một con đường hoàn toàn tích cực, chúng ta thấy rằng mọi lực tích cực đều phải đối chọi với một lực tiêu cực.

Chúng ta sẽ nhận thức được cơ chế của lực đối lập thông qua việc quan sát bản thân.

Bất cứ khi nào chúng ta dự định thực hiện một hành động đặc biệt, bất kể đó là việc tiêu diệt cái Tôi, kiểm soát tình dục, một công việc đặc biệt hay triển khai một chương trình cụ thể thì chúng ta nên quan sát và tính toán lực kháng cự; bởi vì theo bản chất, thế giới và các cơ chế của nó có xu hướng kích thích sự kháng cự và sự kháng cự đó sẽ được nhân lên gấp đôi.

Công trình càng lớn thì sức kháng cự sẽ càng lớn. Nếu chúng ta học cách tính toán sức kháng cự, chúng ta cũng sẽ có thể thành công trong việc phát triển công trình này. Đấy chính là năng lực của thiên tài, của người đã khai sáng.

LỰC KHÁNG CỰ

Lực kháng cự chính là các lực đối lập. Lực kháng cự là vũ khí bí mật của cái Tôi.

Lực kháng cự là lực tâm lý của cái Tôi chống lại việc chúng ta trở nên có ý thức về tất cả các khiếm khuyết tâm lý của mình.

Khi lực kháng cự xuất hiện, cái Tôi có xu hướng đi lạc đề và tìm cách bào chữa để bịt miệng hoặc che giấu lỗi lầm.

Do lực kháng cự mà những giấc mơ trở nên khó giải thích và việc biết chính bản thân mình trở nên mờ mịt.

Sức kháng cự hoạt động dựa trên một cơ chế phòng thủ. Cơ chế này cố gắng bỏ qua những lỗi tâm lý khó chịu, để chúng ta không nhận thức được chúng và tiếp tục là nô lệ tâm lý.

Nhưng, trong thực tế, tôi phải nói rằng có thể vượt qua được lực kháng cự bằng các biện pháp sau:

  1. Nhận ra lực kháng cự.
  2. Xác định lực kháng cự.
  3. Thấu hiểu lực kháng cự.
  4. Rèn luyện trong lực kháng cự.
  5. Vượt qua và làm tan rã lực kháng cự bằng phương pháp Siêu Động Lực Tình Dục.

Nhưng cái Tôi sẽ chiến đấu lại trong quá trình phân tích sự kháng cự để che giấu những ngụy biện, bởi việc này đe dọa quyền thống trị của nó trong tâm trí chúng ta.

Khi cái Tôi đang chống trả, một người phải khẩn cầu đến một sức mạnh siêu việt hơn tâm trí, đó chính là ngọn lửa của con rắn Kundalini của người Hindu.

THỰC HÀNH

Thông qua việc thực hành, trải nghiệm và áp dụng vào đời sống bất kỳ một phương pháp nào mà tôi đã cống hiến cho nhân loại, người học trò chắc chắn sẽ đạt được sự giải phóng tâm lý.

Có những người hay nói về những điều kỳ diệu của luân hồi, Atlantis, thuật luyện kim đan, cái Tôi, về những biểu hiện của cõi cảm xúc. Đối với thế giới bên ngoài, họ là chuyên gia về những chủ đề này nhưng thực chất họ chỉ nhận được thông tin từ lý trí. Trong sâu thẳm, những người này không biết bất cứ điều gì. Khi sắp chết, những người hay thể hiện này chẳng còn gì ngoài những thông tin lưu trữ trong bộ nhớ. Những thứ này là vô dụng ở thế giới bên kia bởi vì ý thức của họ vẫn tiếp tục ngủ mê.

Nếu một người bị giam cầm trong lý thuyết, nếu họ không chịu thực hành, không ý thức được về những gì tôi đã dạy trong sách, nếu họ cứ để giáo lý trong bộ nhớ, thì có thể nói rằng người ta đã lãng phí thời gian của mình một cách thảm hại.

Trí nhớ là nền tảng để hình thành Trung tâm Lý trí. Khi một người khao khát một điều gì đó cao cả, khi tầm nhìn của một người vượt qua những giới hạn của tiềm thức và thấy những gì họ đã giữ lại trong ký ức và sau đó phân tích về những gì đã xảy ra gần đây hay quán chiếu về những giáo lý trong một cuốn sách huyền học, thì những giá trị đó sẽ chuyển sang giai đoạn cảm xúc của Trung tâm Lý trí. Khi một người muốn biết về ý nghĩa sâu xa của những giáo lý đó và hoàn toàn tập trung trong thiền, thì rõ ràng là những giáo lý đó sẽ được chuyển đến Trung tâm Cảm xúc và sẽ được cảm nhận trong sâu thẳm của tâm hồn.

Khi giáo lý – những giá trị có thể nhận biết được của Phật tính – đã được trải nghiệm hoàn toàn thì những giá trị đó cuối cùng sẽ còn mãi ở trong tâm thức và sẽ không bao giờ mất đi. Qua đó, Phật tính sẽ được củng cố thêm nữa.

Bây giờ chúng ta đã hiểu cách để trở nên có ý thức hơn về những giáo lý Gnosis mà tôi đã truyền tải trong cuốn sách này và những cuốn sách tôi đã viết trước đây.

Thiền có tác dụng ghê gớm trong việc làm cho chúng ta có ý thức về những giáo lý Gnosis. Tuy nhiên, chúng ta đừng phạm sai lầm cất giữ những lời dạy trong mớ lý thuyết hoặc trong trí nhớ. Bởi nếu cứ như vậy, chúng ta sẽ không bao giờ làm chủ được tâm trí.

[Đoạn 98-200]

YÊU CẦU

Thực tế phũ phàng đã cho thấy rằng có nhiều người không hiểu được tính siêu việt của việc rèn luyện Gnosis, và rằng phần lớn mọi người không phải là những người chủ gia đình tốt.

Khi một người không phải là người chủ gia đình tốt thì rõ ràng người đó chưa sẵn sàng để bước vào con đường lưỡi dao này. Để rèn luyện Biện chứng tâm thức thì trước hết một người cần phải là người chủ gia đình tốt.

Một người cuồng tín, điên rồ, thất thường, v.v., thì không thích hợp cho sự thay đổi toàn vẹn. Một kẻ không làm tròn bổn phận gia đình thì không thể đạt được sự thay đổi lớn lao. Một người cha tồi, một người vợ tồi hay một người chồng tồi, một người bỏ nhà đi theo nhân tình, thì sẽ không bao giờ đạt được chuyển hóa triệt để.

Nền tảng của cuộc Chuyển hóa Tâm lý yêu cầu sự cân bằng hoàn hảo trong gia đình. Trước khi có thể thay đổi, một người đã phải là một người chồng tốt, người cha tốt, người anh tốt, và người con ngoan. Ta phải làm tròn bổn phận với nhân loại khổ sở. Ta phải trở thành một người tử tế.

Người nào không làm tròn được những yêu cầu này thì sẽ không bao giờ có thể tiến bộ được trong những giáo lý mang tính đột phá này.

TƯ TƯỞNG CHỦ BẠI

Động vật trí năng bị gọi nhầm là con người luôn đinh ninh rằng việc triệt tiêu cái Tôi, khả năng kiểm soát dục vọng một cách tuyệt đối, và sự khai ngộ nội tâm của Bản thể đều là những điều không tưởng và bất khả thi. Thế nhưng họ không nhận ra rằng lối suy nghĩ chủ quan này là kết quả của các yếu tố tâm lý chủ bại, các yếu tố này thao túng thân tâm của những người chưa tỉnh thức.

Con người của thời đại suy tàn và thoái hóa này mang trong mình một cấu trúc tâm lý, một chướng ngại lớn trên con đường tiêu diệt cái Tôi, đó chính là tư tưởng chủ bại.

Những suy nghĩ chủ bại ngăn cản con người vượt qua cuộc sống vô thức của mình để tiến lên những trạng thái cao cấp hơn. Đa số mọi người tự xem mình là thất bại ngay cả khi họ chưa bắt đầu cuộc đấu tranh hoặc công việc tu tập Gnosis.

Chúng ta phải quan sát bản thân và phân tích bản thân, ngay bây giờ và ở đây, để khám phá ra những phương diện tạo nên cái gọi là tư tưởng chủ bại ở bên trong chính mình.

Tổng hợp lại, ta có thể nói rằng có ba thái độ chủ bại phổ biến:

  1. Cảm thấy bất lực do thiếu học thức.
  2. Cảm thấy bất lực để bắt đầu công cuộc chuyển hóa triệt để.
  3. Đi đâu cũng hát bài ca tâm lý: “Tôi chẳng bao giờ có cơ hội để thay đổi hoặc để thành công!”

Thái độ thứ nhất

Về việc cảm thấy bất lực do thiếu học thức, chúng ta phải nhớ rằng tất cả các nhà hiền triết vĩ đại như Hermes Trismegistus, Paracelsus, Platon, Socrates, Chúa Giê-su, Homer, v.v., đều chưa bao giờ học đại học. Bởi vì sự thật là mỗi người đều có bậc thầy của riêng mình, đó chính là Bản thể, vượt ra ngoài tâm trí và chủ nghĩa duy lý sai lầm. Đừng nhầm lẫn giáo dục với trí tuệ và kiến thức.

Kinh nghiệm trực tiếp về những bí ẩn của cuộc sống, về vũ trụ và tự nhiên, là một sức mạnh phi thường cho phép chúng ta đạt được sự Thay đổi Toàn vẹn.

Thái độ thứ hai

Những người máy được lập trình bởi Kẻ Phản Kitô – khoa học duy vật – cảm thấy thua thiệt vì họ thấy mình không có năng lực. Chúng ta nên phân tích điều này. Do ảnh hưởng của một nền giáo dục học thuật sai lầm làm lệch lạc các giá trị của Bản thể, thú vật trí năng đã tạo ra trong tâm trí họ hai cái Tôi kinh khủng cần phải được loại bỏ, đó là: ý niệm cố định rằng “Tôi sẽ thua!”, và việc lười thực hành các phương pháp Gnosis. Chỉ có thực hành các phương pháp Gnosis mới giúp họ có được kinh nghiệm cần thiết để giải phóng bản thân khỏi mọi trạng thái vô thức, và từ bỏ khuynh hướng chủ bại một lần và mãi mãi.

Thái độ thứ ba

Tư duy của con người vô thức là: “Người ta chẳng bao giờ cho tôi cơ hội!”

Những hoàn cảnh trong kiếp sống có thể được thay đổi. Chính bản thân mỗi người tạo ra các hoàn cảnh của riêng mình. Mọi thứ đều được vận hành bởi luật nhân quả, nhưng một luật cấp cao có thể được ưu tiên hơn một luật cấp thấp.

Việc loại bỏ cái Tôi chủ bại là khẩn cấp và không thể trì hoãn được. Điều quan trọng không phải là bao nhiêu lý thuyết mà là bao nhiêu nỗ lực siêu việt đã được bỏ ra trong công cuộc chuyển hóa tâm thức. Con người đích thực có thể tự tạo ra theo ý muốn những hoàn cảnh thuận lợi cho việc phát triển tâm linh hoặc tâm lý của mình.

CHIÊM TINH HỌC TÂM LÝ

Trong Cuốn sách của Sự sống có dòng chữ viết bằng than cháy hồng, rằng bất kì ai đã loại bỏ triệt để được cái Tôi thì đều có thể chủ động thay đổi cung hoàng đạo của mình và những ảnh hưởng của nó.

Nhân danh sự thật, tôi tuyên bố rằng Đấng ở trong tôi đã chủ động thay đổi cung hoàng đạo. Tính cách cũ của tôi là Song Ngư, nhưng giờ đây tôi thuộc về Bảo Bình, một cung mang tính đột phá kinh khủng!

Không thể phủ nhận rằng các cung hoàng đạo còn có ảnh hưởng và còn thao túng chúng ta chừng nào chúng ta vẫn chưa chuyển hóa được tâm lý bên trong mình. Nhưng với những học trò khao khát được khai ngộ, con đường của họ nên bắt đầu bằng việc chuyển hóa bản thân mình, vượt ra khỏi những gì đã được hình thành bởi các cung hoàng đạo.

Việc nói rằng cung hoàng đạo này không tương thích với cung khác là hoàn toàn ngớ ngẩn, bởi vì cái không tương thích chính là những cái Tôi, những yếu tố không mong muốn ở bên trong.

Chiêm tinh học của thời đại suy tàn này là vô dụng, bởi vì nó chỉ là món hàng mua bán. Chiêm tinh học đích thực của các nhà hiền triết xứ Chaldea đã bị lãng quên.

Con người vô thức không muốn thay đổi bởi vì họ cho rằng: “Đấy là cung hoàng đạo của tôi, đó là ảnh hưởng của cung hoàng đạo của tôi!”, v.v. Tôi sẽ không ngừng nhấn mạnh rằng điều quan trọng là phải thay đổi cảm xúc và tinh thần.

Sức mạnh đích thực của các cung hoàng đạo phát ra từ Bản thể, từ Dải Ngân Hà. Sức mạnh này cho chúng ta một trọng tâm cố định. Chúng ta cần thay đổi tinh thần để những sức mạnh này có thể thâm nhập và hiển thị trong ta.

Chúng ta không cần tìm kiếm anh sáng trong lá số tử vi vì ánh sáng sẽ bùng lên khi chúng ta đã loại bỏ Đặc tính Tâm lý Chính của mình, và khi ta đã tạo ra một “bầu da” mới (là tâm trí mới) và rót vào đó giáo lý về chiêm tinh học tâm lý mà tôi đã giảng trong cuốn sách “Zodiac Course” (Khóa học hoàng đạo).

Chỉ có Bản thể và Đức Mẹ Thần thánh mới có thể giải phóng chúng ta khỏi những lá số tử vi trên báo và tạp chí rẻ tiền, và mang lại cho chúng ta sự giáo dục toàn vẹn.

Astrology, Frans Floris, 16th century.

Chúng ta phải rũ bỏ lớp bụi từ các thế kỷ cổ xưa, loại bỏ tất cả những tập tục và niềm tin cũ nát của mình, thoát khỏi lòng cuồng tín về chiêm tinh. Lối suy nghĩ “Tôi bị cung hoàng đạo của mình chi phối, làm gì có biện pháp nào để khắc phục đâu!” là lối suy nghĩ rất chủ quan, là sự ngụy biện mà cái Tôi dùng để đánh lạc hướng.

THUẬT HÙNG BIỆN CỦA CÁI TÔI

Khi phân tích kĩ lưỡng động vật hai chân ba não được gọi là con người, chúng ta đi đến kết luận hợp lý rằng loài người chưa có Trung tâm Ý thức cố định, hay là trọng tâm cố định.

Chúng ta không thể khẳng định rằng loài động vật hai chân đã được cá thể hóa nhưng chúng ta chắc chắn rằng họ được bản năng hóa. Có nghĩa là, họ bị điều khiển bởi những cái Tôi, những cái Tôi thao túng trung tâm bản năng theo ý của chúng.

Cái Tôi yêu quý không có bất kì một tính cá thể [11] nào, nó là tổng hợp của các yếu tố bất hòa, là tổng hợp của các cathexis nhỏ lỏng lẻo – những năng lượng tâm lý của cái Tôi.

[11] Tính cá thể (tiếng Anh: individuality) – cụm từ này đến từ các tác phẩm của nhà tâm lý học Carl Jung. Đọc thêm bài viết chi tiết tại đây.

Trong quân đoàn của những cái Tôi, mỗi cái Tôi nhỏ thực sự có quan điểm cá nhân riêng, có kế hoạch riêng, ý tưởng riêng và tài hùng biện riêng của nó.

Tài hùng biện của cái Tôi là nghệ thuật ăn nói lưu loát và khéo léo, tinh tế đến mức chúng ta không nhận ra mình đã rơi vào sai lầm từ khi nào. Tài hùng biện của cái Tôi cao siêu đến mức chúng ta không nhận ra rằng tâm thức của mình đang ngủ mê.

Chúng ta thấy rằng cái Tôi với những lời hùng biện của nó đã dẫn các quốc gia vào một cuộc chạy đua vũ trang: “Khối lượng vũ khí hạng nặng – máy bay, tàu chiến, xe bọc thép – được mua bán trong nước ở các quốc gia của thế giới thứ ba đã tăng gấp đôi từ năm 1973 đến 1976, trong khi lượng nhập khẩu của họ cũng tăng gấp đôi”. Điều thú vị là trong thời đại mà người ta nói về hòa bình và kiểm soát vũ khí, các quốc gia được cho là đang phát triển lại tăng cường khả năng hủy diệt của mình, với sự giúp đỡ của các quốc gia được cho là đã công nghiệp hóa! Ta có thể hỏi, đây có phải là con đường đúng đắn để giải trừ quân bị và hướng đến hòa bình thế giới không? Hoàn toàn ngược lại. Đây chính là tài hùng biện của cái Tôi!

Trong khi loài động vật hai chân tiếp tục bị mê hoặc bởi những phát minh kỳ diệu của khoa học duy vật (Kẻ Phản Kitô), thì ở Ethiopia đã có 200.000 người chết đói kể từ năm 1973 đến nay [12]. Đây có phải là nền văn minh không? Đây là tài hùng biện của cái Tôi.

[12] năm 1973 đến nay – GnosisVN: chúng tôi không biết rõ tác giả viết câu này từ khi nào vì Samael Aun Weor chết ngày 24 tháng 12, 1977 nhưng ấn bản đầu tiên của sách này là 1985.

Nhóm “Những người đi xe đạp vô danh” cũng thế, họ sàn sàn tuổi nhau, ăn mặc theo kiểu các “Thiên thần địa ngục” [13], mặc áo khoác da có khóa kéo lớn. Xe của họ là những chiếc xe đạp Schwinn cũ đã được sửa lại, với càng xe được nối dài để trông giống như xe máy.

[13] Thiên thần Địa ngục (tiếng Anh: Hells Angels) là băng đảng xe máy. Ở thời của sách này họ gắn liền với tội phạm và nghiện thuốc bất hợp pháp.

Động vật hai chân chỉ muốn sống trong thế giới nhỏ bé của mình, cái thế giới không còn gì hữu ích nữa. Tâm lý học duy vật, tâm lý học thực nghiệm, đều vô ích cả. Bằng chứng là những bộ môn tâm lý học này đã không thể giải quyết được những vấn đề tinh thần ảnh hưởng đến người Hoa Kỳ; bằng chứng cho điều này là tại các thành phố lớn của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, các “băng đảng” nổi tiếng vẫn tiếp tục tồn tại và sinh sôi. Hãy nhìn xem, ở thành phố New York có nhóm “Những kẻ bẩn thỉu”, bao gồm các thành viên tầm 30 tuổi, mặc “quần áo bẩn” và đi ủng da. Họ tụ tập trên các mái nhà và tự hào vì được coi là những tay chơi bi-a điêu luyện.

Đối với mỗi người trong số hàng nghìn thành viên của các băng đảng ở Hoa Kỳ đó thì bạo lực được coi là một phần trong cuộc sống của họ, và thật đáng thương là những động vật hai chân ở các quốc gia khác cũng muốn bắt chước các băng đảng này. Liệu đây có phải sự giải thoát tâm lý không? Không! Đây là tài hùng biện mà cái Tôi đã dùng để đánh lừa tất cả mọi người. Chỉ bằng cách áp dụng vào thực tế những giáo lý mà tôi đã truyền đạt trong cuốn “Tâm lý học cho sự chuyển hóa triệt để” thì động vật hai chân mới có thể giải phóng bản thân ra khỏi lời hùng biện của cái Tôi.

TRUNG TÂM Ý THỨC CỐ ĐỊNH

Động vật hai chân ba não không có bất kỳ tính cá thể nào, họ không có một trung tâm ý thức cố định. Mỗi suy nghĩ, cảm xúc và hành động của họ đều phụ thuộc vào các tai vạ mà cái Tôi gây nên trong mỗi khoảnh khắc để điều khiển các trung tâm chỉ huy của cỗ máy con người.

Nhiều người trong chúng ta đã hy sinh và chịu khổ đau trong nhiều năm để đấu tranh cho phong trào Gnosis. Những người này đã thấy được những điều thực sự kinh khủng. Nhiều người đã khóc thề sẽ cống hiến cho Gnosis đến tận cuối đời. Họ đã hứa trung thành vĩnh viễn với đại nghĩa và phát biểu những bài diễn văn kinh động. Rồi thì sao? Máu và nước mắt của họ đã trở thành cái gì? Những lời tuyên thệ ghê gớm của họ đã trở thành gì? Tất cả đều là vô ích, đó chỉ là một cái Tôi thoáng qua trong tích tắc đã thề thốt, nhưng khi một cái Tôi khác đến thay thế cái Tôi đã thề thốt chung thủy đó thì họ rút lui khỏi Gnosis, hoặc phản bội Đại Nghĩa, hoặc gia nhập các trường phái nhỏ khác và phản bội các Học viện Gnosis.

Thực sự, con người không thể duy trì mục tiêu liên tục bởi vì họ không có Trung tâm Ý thức cố định. Họ không phải là một cá thể và họ có một cái Tôi là tổng thể của nhiều cái Tôi nhỏ.

Nhiều người mong chờ Phúc Lạc vĩnh cửu khi thể xác chết đi, nhưng cái chết của thể xác không giải quyết được vấn đề của cái Tôi.

Sau khi chết, cathexis lỏng lẻo – cái Tôi – vẫn tiếp tục được bao bọc trong cơ thể phân tử [14] của nó. Động vật hai chân có thể đã chết, nhưng cathexis lỏng lẻo – năng lượng của cái Tôi – vẫn tồn tại trong cơ thể phân tử, và sau đó cái Tôi tiếp tục được duy trì trong hậu duệ [15] [các kiếp sau] của chúng ta, nó quay lại để thỏa mãn những ham muốn của mình và tiếp tục những bi kịch tương tự.

[14] Cơ thể phân tử: Cơ thể cảm xúc âm
[15] cái Tôi được duy trì trong hậu duệ – con người hay đầu thai ở kiếp vào trong gia đình họ đã sống chung ở kiếp hiện tại.

Đã đến lúc chúng ta phải hiểu được sự cần thiết của việc tạo ra bên trong mình một sự thay đổi toàn vẹn, rõ ràng, để thiết lập một trung tâm ý thức cố định. Chỉ bằng cách này thì chúng ta mới có thể cá thể hóa bản thân, chỉ bằng cách này thì chúng ta mới có thể tiêu diệt được quân đoàn cái Tôi, chỉ bằng cách này thì chúng ta mới có thể trở thành những cá thể có ý thức.

Con người thời nay giống như một con tàu đầy ắp hành khách, mỗi hành khách đều có những kế hoạch và dự án riêng của họ. Con người thời nay không có một tâm trí duy nhất, họ có nhiều tâm trí. Mỗi cái Tôi đều có một tâm trí riêng của nó.

May mắn thay, bên trong động vật hai chân còn có một thứ khác, đó là Phật tính. Nếu suy ngẫm một cách nghiêm túc về nguyên tắc đã nói ở trên, chúng ta có thể kết luận rằng đây là chất liệu tâm lý cao cấp nhất mà ta có thể dùng để định hình tâm hồn của mình.

Chúng ta tạo nên tâm hồn bằng cách đánh thức Phật tính. Đánh thức Phật tính nghĩa là đánh thức Tâm thức. Việc đánh thức tâm thức cũng tương đương với việc tạo ra trong chúng ta một trung tâm ý thức cố định. Chỉ những ai đã thức tỉnh được tâm thức thì mới có thể trở thành một cá thể. Tuy nhiên, cá thể không phải là đích cuối cùng, sau này chúng ta phải đạt tới trạng thái siêu cá thể.

SIÊU CÁ THỂ

Chúng ta cần loại bỏ cái Tôi để cá thể hóa và sau đó siêu cá thể hóa chính mình. Chúng ta cần làm tan rã cái Tôi để có trung tâm ý thức cố định, chủ đề mà chúng ta đã nghiên cứu trong chương trước.

Cái Tôi đa nguyên đã lãng phí chất liệu tâm lý một cách ngu ngốc vào những vụ nổ nguyên tử của thù hằn, tham lam, dục vọng, đố kỵ, kiêu căng, lười biếng, háu ăn, v.v..

Một khi cái Tôi chết đi thì chất liệu tâm lý tích tụ trong chúng ta sẽ trở thành trung tâm ý thức cố định.

Ngày nay, con người – hay đúng hơn là loài hai chân tự nhận mình là “con người” – thực sự chỉ là một cỗ máy do quân đoàn cái Tôi điều khiển.

Hãy quan sát bi kịch của những người yêu nhau: Bao nhiêu là thề hẹn! Bao nhiêu là nước mắt! Bao nhiêu ý định tốt! Rồi thì sao? Tất cả những gì còn lại chỉ là ký ức buồn.

Họ lấy nhau, rồi thời gian trôi qua, người chồng yêu một người phụ nữ khác hoặc người vợ yêu một người đàn ông khác, và lâu đài giấy của họ sụp đổ. Tại sao? Bởi vì con người vẫn chưa có được trung tâm ý thức cố định của mình.

Cái Tôi bé nhỏ hôm nay đã thề thốt một tình yêu vĩnh cửu bị thay thế bằng cái Tôi nhỏ bé khác không liên quan gì đến lời hứa đó. Thế thôi. Chúng ta cần trở thành những cá thể và ta chỉ có thể làm được điều này bằng cách tạo ra một Trung tâm Ý thức cố định.

Chúng ta cần tạo ra một trung tâm ý thức cố định, và điều này chỉ có thể đạt được bằng cách làm tan rã cái Tôi đa nguyên.

Tất cả những mâu thuẫn nội tâm của con người đủ để làm người ta phát điên lên, nếu như họ có thể nhìn được chúng ở trong gương. Nguồn gốc của những mâu thuẫn như vậy là từ cái Tôi đa nguyên.

Bất cứ người nào muốn làm tan rã cái Tôi thì đều phải bắt đầu bằng việc hiểu rõ những mâu thuẫn nội tâm của mình. Không may thay, người ta lại thích tự lừa dối bản thân để không phải nhìn thấy những mâu thuẫn của chính mình.

Bất cứ người nào muốn làm tan rã cái Tôi đều phải bắt đầu từ việc ngừng lừa dối. Tất cả mọi người đều là kẻ dối trá với chính bản thân mình, tất cả mọi người đều lừa dối chính mình.

Nếu muốn biết tính đa nguyên của cái Tôi và những mâu thuẫn thâm lâu năm của mình thì chúng ta không được lừa dối bản thân. Người ta tự lừa dối bản thân để không nhìn thấy những mâu thuẫn nội tâm của họ.

Tất cả những ai phát hiện ra các mâu thuẫn nội tâm đều cảm thấy xấu hổ về bản thân. Đương nhiên là thế vì người đó thấu hiểu rằng mình chẳng là ai, rằng mình chỉ là một kẻ bất hạnh, một loài giun dế khốn khổ trên Trái đất.

Khám phá ra những mâu thuẫn nội tâm của chính mình đã là một thành công, vì khi đó khả năng phán đoán nội tại tự nhiên sẽ được giải phóng, cho phép chúng ta thấy rõ con đường trở thành cá thể và siêu cá thể.

Hạnh phúc và sức khỏe toàn vẹn

Chúng ta cần có hạnh phúc và sức khỏe toàn vẹn. Tất cả chúng ta đều đau khổ, chúng ta gặp nhiều đắng cay trong cuộc sống, và chúng ta muốn thay đổi.

Trong mọi trường hợp, tôi nghĩ rằng hạnh phúc và sức khỏe toàn vẹn luôn là kết quả của sự tự trọng.

Điều này nghe sẽ khá kì lạ đối với một nhà kinh tế học, một nhà thông thiên học, v.v. Tự trọng thì có liên quan gì đến các vấn đề kinh tế, các vấn đề về lao động hoặc lực lượng lao động, hoặc vốn kinh doanh, v.v.?

Tôi muốn bình luận như sau: Cấp độ tâm thức của chúng ta thu hút những hoàn cảnh trong cuộc sống của mình. Chúng tôi từng sống trong một ngôi nhà rất đẹp ở thành phố Mexico. Phía sau nhà có một khoảng đất trống rất rộng. Vào một ngày nọ, có một nhóm mà chúng tôi gọi là “những người nhảy dù” đã xâm chiếm khu đất đó. Chẳng bao lâu sau, họ dựng lên những căn lều bằng bìa cứng và cư ngụ ở đó. Tất nhiên những căn lều này đã trở thành những thứ bẩn thỉu trong khu đất ấy. Tôi không muốn xem thường họ, nhưng nếu những căn lều kia thực sự sạch sẽ thì tôi đã không có gì phản đối. Thật không may, nhóm người ấy vô cùng bẩn thỉu.

Từ nóc nhà tôi đã quan sát rất kĩ cuộc sống của bọn họ: họ xúc phạm nhau, làm tổn thương nhau, không tôn trọng nhau. Nói chung, cuộc sống của họ thật kinh hoàng, khổ sở và tồi tệ.

Lúc trước cảnh sát không đến tuần tra quanh khu này, còn bây giờ họ luôn xuất hiện ở đây. Khu vực này đã từng là một khu dân cư yên bình, nhưng sau này nó trở thành địa ngục. Từ đó tôi đã thực chứng rằng cấp độ tâm thức thu hút những hoàn cảnh trong cuộc sống của chúng ta, đây là điều hiển nhiên.

Giả sử rằng sau một đêm, một cư dân trong số đó quyết tâm từ ngày mai anh ta sẽ tôn trọng bản thân và tôn trọng những người khác, thì rõ ràng điều đó sẽ dẫn đến sự thay đổi.

Tôn trọng bản thân nghĩa là gì? Đó là từ bỏ việc phạm pháp, không trộm cắp, không tà dâm, không ngoại tình, không ghen tị với hạnh phúc của người khác, sống khiêm tốn và giản dị, từ bỏ thói lười biếng, trở thành một người năng động, gọn gàng, tử tế, v.v. 

Khi một công dân tôn trọng chính mình, họ sẽ thay đổi cấp độ tâm thức của họ, và khi thay đổi cấp độ tâm thức đó, chắc chắn họ sẽ thu hút những hoàn cảnh sống mới vì họ có quan hệ với những người tử tế hơn, với những người khác nhau, và có thể những mối quan hệ đó sẽ tạo ra sự thay đổi về kinh tế và xã hội trong đời sống của họ. Như thế, những gì tôi đang nói sẽ thành hiện thực, lòng tự trọng toàn vẹn sẽ tạo nên an sinh toàn vẹn về xã hội và kinh tế. Nhưng nếu một người không biết tôn trọng chính mình, họ cũng sẽ không tôn trọng đồng loại và sẽ tự chuốc lấy cho mình một cuộc đời khốn khổ và bất hạnh.

Hạnh phúc và sức khỏe toàn vẹn khởi nguồn từ việc tôn trọng chính mình.

Tự phản chiếu

Chúng ta không nên quên rằng ngoại cảnh chỉ là sự phản chiếu của nội tâm. Immanuel Kant, nhà triết gia của Konigsberg, cũng đã nói như vậy. Nếu nghiên cứu kỹ quyển “Phê phán lý tính thuần túy” thì chắc chắn chúng ta sẽ khám phá ra rằng ngoại cảnh khởi phát từ nội tâm, theo nguyên văn của một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của mọi thời đại.

Hình ảnh bên ngoài của một người và hoàn cảnh xung quanh họ là kết quả của hình ảnh tự thân. Mỗi chúng ta đều có một hình ảnh tự thân; Từ này được ghép bởi hai từ “tự thân” và “hình ảnh” và có ý nghĩa vô cùng sâu sắc.

Chính xác thì trong lúc này bức ảnh của Santiago xuất hiện trong đầu tôi. Người ta chụp một bức ảnh cho anh bạn Santiago của chúng tôi, và điều kì lạ là có hai Santiago xuất hiện: một người trong tư thế đứng nghiêm, mặt hướng về phía trước; người còn lại ở phía trước người kia, với khuôn mặt ở một vị trí khác. Làm thế nào mà có thể có hai Santiago xuất hiện trong cùng một bức ảnh?

Tôi tin rằng bức ảnh này đáng để được phóng to ra bởi vì nó có thể được dùng để chỉ cho tất cả những ai quan tâm đến những giáo lý này. Tôi nghĩ Santiago thứ hai hẳn là hình ảnh tự phản chiếu của Santiago thứ nhất, rõ ràng là thế; bởi vì người ta đã viết rằng hình ảnh bên ngoài của một người và hoàn cảnh xung quanh họ chính là kết quả của hình ảnh tự thân.

Người ta cũng viết rằng ngoại cảnh chỉ đơn thuần là sự phản chiếu của nội tâm. Vì vậy, nếu chúng ta không tôn trọng chính mình, nếu hình ảnh bên trong của chúng ta vô cùng nghèo nàn, nếu chúng ta có đầy rẫy khiếm khuyết về tâm lý hay đạo đức, thì chắc chắn là những sự khó chịu bên trong đó sẽ bùng phát ra bên ngoài, chẳng hạn như những khó khăn về kinh tế, xã hội, v.v. Chúng ta đừng quên rằng hình ảnh bên ngoài và hoàn cảnh xung quanh một người là kết quả của hình ảnh tự thân của chính người đó.

Tất cả chúng ta đều có một hình ảnh tự thân. Chúng ta có thể chụp lại hình ảnh bên ngoài. Nhưng ở bên trong chúng ta còn có một hình ảnh nữa. Nói rõ hơn thì ở bên ngoài chúng ta có hình ảnh vật chất có thể thấy được, còn ở bên trong thì chúng ta có hình ảnh dạng tâm lý và siêu cảm.

Nếu bên ngoài chúng ta có một hình ảnh nghèo khó khốn khổ và nếu đi kèm với hình ảnh này là những hoàn cảnh tồi tệ, tình hình kinh tế khó khăn, mọi loại vấn đề và xung đột, bất kể ở nhà, ở nơi làm việc hay trên đường phố, v.v., thì điều này đơn giản là vì ta có một hình ảnh tâm lý nghèo nàn, đầy khuyết điểm, đáng sợ, và chúng ta chỉ đang phản chiếu sự khốn cùng và hư vô của mình, phản chiếu tình trạng của bản thân lên môi trường xung quanh mà thôi.

Nếu chúng ta muốn thay đổi thì chúng ta cần một sự thay đổi toàn diện và lớn lao. Hình ảnh, giá trị và danh tính sẽ phải thay đổi hoàn toàn.

Tôi đã viết trong một số cuốn sách của mình rằng mỗi chúng ta là một điểm trong không gian và đóng vai trò như một phương tiện cho một tổng giá trị cụ thể. Một số người đóng vai trò là phương tiện cho các giá trị lỗi lạc và một số người khác đóng vai trò là phương tiện cho các giá trị tầm thường; đây là lý do tại sao mỗi người là khác biệt. Đa số mọi người đóng vai trò là phương tiện cho các giá trị của cái Tôi. Các giá trị này có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Do đó, hình ảnh, giá trị và danh tính là một tổng thể duy nhất.

Tôi muốn nói rằng chúng ta cần trải qua một sự chuyển hóa triệt để và tôi khẳng định một cách dứt khoát rằng danh tính, giá trị và hình ảnh phải được thay đổi hoàn toàn.

Chúng ta cần một danh tính mới, giá trị mới và một hình ảnh mới; đây là cuộc chuyển hóa tâm lý, cuộc cách mạng nội tâm. Thật vô lý khi cứ tiếp tục mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn này. Chúng ta cần phải thay đổi một cách toàn vẹn.

Hình ảnh tự thân của một người tạo ra hình ảnh bên ngoài của họ. Khi nói về hình ảnh tự thân, tôi đang đề cập đến hình ảnh tâm lý mà chúng ta có bên trong. Hình ảnh tâm lý của chúng ta sẽ thế nào? Đó có phải là hình ảnh của sự phẫn nộ, tham lam, dục vọng, đố kỵ, tự mãn, lười biếng, háu ăn, hay là gì? Bất kỳ hình ảnh nào mà chúng ta có về bản thân, hay nói đúng hơn là hình ảnh tự thân, sẽ khởi sinh ra hình ảnh bên ngoài một cách tự nhiên.

Hình ảnh bên ngoài, cho dù có được ăn mặc đẹp, vẫn có thể tồi tệ. Có lẽ nào hình ảnh của người kiêu ngạo lại có thể là một hình ảnh đẹp, một người mà không ai chịu nổi vì không có lấy một chút khiêm tốn nào? Hình ảnh của một kẻ đầy dục vọng thì có lấy gì là thú vị không? Một người đầy dục vọng hành xử như thế nào, sống ra sao, phòng ngủ của họ trông như thế nào, hành xử của họ trong cuộc sống tình dục với người khác giới như thế nào, hoặc có lẽ người đó đã bị thoái hóa rồi? Hình ảnh bên ngoài của một người đầy ghen tị sẽ thế nào, một người mà khổ sở khi thấy người khác hạnh phúc, một người vì lòng đố kỵ mà ngấm ngầm gây đau khổ cho người khác? Hình ảnh của của một kẻ lười biếng, không muốn lao động, ở bẩn và gớm ghiếc, thì như thế nào? Còn hình ảnh của kẻ háu ăn thì ra sao?

Do đó, hình ảnh bên ngoài thực sự là kết quả của hình ảnh bên trong và điều này là không thể bác bỏ.

Danh tính, giá trị và hình ảnh mà chúng ta hiện đang có về bản thân thật tồi tàn. Chính vì vậy mà đời sống xã hội có đầy rẫy những xung đột và các vấn đề về kinh tế. Ngày nay, không có ai là vui vẻ, không có ai là hạnh phúc. Nhưng liệu hình ảnh, giá trị và danh tính của chúng ta có thể thay đổi được hay không? Chúng ta có thể tạo ra được một danh tính mới, giá trị mới, một hình ảnh mới hay không? Tôi quả quyết khẳng định rằng điều này là hoàn toàn có thể.

Nếu một người học được cách tôn trọng bản thân thì họ sẽ thay đổi cuộc sống của mình, không chỉ trong lĩnh vực đạo đức hoặc tâm lý mà còn trong cả lĩnh vực xã hội, kinh tế và thậm chí là chính trị. Nhưng chúng ta phải thay đổi. Đó là lý do tại sao tôi muốn nhấn mạnh rằng danh tính, giá trị và hình ảnh cần phải được thay đổi.

Không nghi ngờ gì là chúng ta cần phải làm tan rã cái Tôi. Tất cả chúng ta đều có một cái Tôi. Khi chúng ta gõ cửa một nhà thì chủ nhà thường hỏi, Ai đấy? Chúng ta trả lời: “Tôi”. Nhưng, tôi là ai, bản thân tôi là gì?

Thực ra cái Tôi là tổng thể của các giá trị tiêu cực và tích cực. Chúng ta có thể làm tan rã cái Tôi, chấm dứt những giá trị tích cực và tiêu cực này, và sau đó chúng ta có thể trở thành phương tiện phục vụ cho những giá trị mới, những giá trị của Bản thể. Nhưng trong trường hợp này chúng ta cần một phương pháp mới, nếu như ta muốn loại bỏ tất cả các giá trị hiện có để tạo ra một sự thay đổi.

Phân Tâm Học

[Đoạn 201-300]

Phân tâm học nội tại là phương pháp giúp ta biết và loại bỏ những giá trị tích cực và tiêu cực ở bên trong.

Chúng ta cần phải dùng đến phân tâm học nội tại. Khi một người dùng đến phân tâm học nội tại để biết về những khiếm khuyết tâm lý thì sẽ có một cản trở lớn xuất hiện; tôi muốn nhấn mạnh đến lực chuyển di ngược [16].

[16] Ở bối cảnh này “sự chuyển di ngược” là ảo tưởng về bản thân. Tham khảo bài viết chi tiết về khái niệm này tại đây.

Một người có thể tìm hiểu bản thân, có thể quay vào bên trong, nhưng khi cố gắng làm điều này thì khó khăn từ sự chuyển di ngược sẽ nảy sinh. Giải pháp nằm ở việc hướng sự chú ý vào bên trong với mục đích khám phá bản thân, để biết chính mình và loại bỏ những giá trị tiêu cực làm tổn thương tâm lý chúng ta trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và thậm chí là cả trong lĩnh vực tâm linh.

Tôi muốn nhắc lại là khi một người cố gắng hướng vào bên trong để khám phá bản thân và để biết chính mình thì thật không may là sự chuyển di ngược lập tức nảy sinh. Chuyển di ngược là một phản lực làm cho việc hướng vào bên trong trở nên khó khăn. Nếu không có sự chuyển di ngược thì việc hướng nội sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Chúng ta cần phân tâm học nội tại; chúng ta cần tự khám phá nội tâm để thực sự biết chính mình. Homo Nosce Te ipsum“Hỡi con người, hãy biết chính mình, ngươi sẽ biết cả vũ trụ và các vị thần” [17].

[17] Đây là câu châm ngôn được khắc trên ngưỡng cửa bí ẩn của đền Delphi.

Khi áp dụng phương pháp phân tích cấu trúc, một người sẽ biết được những cấu trúc tâm lý cản trở và gây khó khăn cho việc quan sát bản thể. Bằng cách biết những cấu trúc này, chúng ta sẽ thấu hiểu chúng. Và qua việc thấu hiểu, chúng ta có thể vượt qua được các trở ngại.

Khi biết chính mình thì một người có thể thay đổi. Chừng nào còn chưa biết chính mình thì bất kỳ sự thay đổi nào cũng chỉ mang tính chủ quan mà thôi. Nhưng trước hết, chúng ta cần phân tích bản thân. Làm thế nào để vượt qua được lực chuyển di ngược bởi lực này làm cho phân tâm học nội tại hoặc phân tích bản thân trở nên khó khăn? Việc này chỉ có thể được thực hiện bằng cách phân tích cấu trúc [18].

[18] Học thuyết phân tích cấu trúc (Structural Analysis) và học thuyết phân tích giao dịch (Transactional Analysis) là nền tảng của trường phái tâm lý học của bác sĩ Eric Berne. Tham khảo thêm tại đây.

Nhưng chúng ta cần một cái gì đó hơn thế nữa, chúng ta cũng cần phân tích giao dịch. Có giao dịch ngân hàng, giao dịch thương mại, v.v. Tương tự như vậy thì cũng có giao dịch tâm lý.

Các yếu tố tâm lý ở bên trong đều có thể mang ra để giao dịch, trao đổi, đấu tranh, hoán đổi vị trí v.v. Những yếu tố này không phải là một cái gì đó bất động, chúng luôn ở trong trạng thái chuyển động.

Khi một người đã khám phá được toàn diện một khiếm khuyết nào đó, như tức giận, tham lam, dục vọng, lười biếng, háu ăn, v.v., thì người đó có thể đạt được những tiến bộ ghê gớm về mặt tâm lý.

Khi một người hiểu được các quá trình tâm lý và các cấu trúc thông qua phương pháp phân tích giao dịch thì những khó khăn trong việc tự xem xét tâm lý nội tại sẽ chấm dứt. Sau đó, việc tự khám phá bản thân sẽ thành công mỹ mãn.

Để đạt được sự tự khám phá toàn diện, trước tiên chúng ta phải bắt đầu bằng cách tách mình ra khỏi khiếm khuyết muốn loại bỏ và sau đó làm tan rã khiếm khuyết đó.

Một khiếm khuyết đã bị tan rã sẽ giải phóng một vài phần trăm Tinh chất tâm hồn. Khi chúng ta làm tan rã từng giá trị sai lầm hay nói cách khác là những khiếm khuyết của mình, thì Tinh chất tâm hồn vốn bị mắc kẹt bên trong sẽ được giải phóng. Cuối cùng thì Tinh chất được giải phóng hoàn toàn đó sẽ chuyển hóa triệt để chúng ta. Trong chính khoảnh khắc này, những giá trị vĩnh cửu của Bản thể sẽ được bộc lộ qua chúng ta. Đây chắc chắn là một điều kỳ diệu không chỉ đối với chúng ta mà còn đối với cả nhân loại.

Khi các giá trị tiêu cực bị tan rã hay tan biến thì chúng ta sẽ tôn trọng bản thân và những người khác, và có thể nói là chúng ta sẽ trở thành suối nguồn của lòng nhân hậu cho toàn thế giới, một sinh vật hoàn hảo, tỉnh thức và kỳ diệu.

Như một kết quả hay hệ quả tất yếu, hình ảnh tự thân huyền bí của một người tỉnh thức sẽ là khởi đầu cho hình ảnh hoàn hảo của một công dân cao quý. Hoàn cảnh của họ cũng sẽ hữu ích về mọi mặt, họ sẽ là một mắt xích vàng trong chuỗi cuộc sống phổ quát vĩ đại. Họ sẽ là một tấm gương cho toàn thế giới, một suối nguồn phúc lạc cho nhiều chúng sinh, một đấng khai sáng theo nghĩa siêu việt nhất của từ này, họ sẽ luôn tận hưởng được phúc lạc.

Trong Động lực học Tâm trí, chúng ta cần hiểu được cách thức và lý do tại sao tâm trí hoạt động.

ĐỘNG LỰC HỌC TÂM TRÍ

Tâm trí chắc chắn là một công cụ mà chúng ta cần học cách sử dụng một cách có ý thức. Nếu chúng ta chưa biết cách thức và lý do hoạt động của tâm trí thì việc mong chờ công cụ này hoạt động một cách hiệu quả là hết sức vô lý.

Khi biết được cách thức và lý do hoạt động của tâm trí, khi biết được các chức năng của tâm trí thì một người có thể kiểm soát tâm trí. Sau đó, tâm trí sẽ trở thành một công cụ hữu ích và hoàn hảo, một phương tiện kỳ diệu giúp chúng ta nỗ lực cống hiến vì lợi ích của nhân loại.

Quả thật, chúng ta cần một hệ thống thực tế nếu chúng ta thực sự muốn biết về tiềm năng của tâm trí con người.

Trong thời đại này có rất nhiều hệ thống để kiểm soát tâm trí. Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần thực hành một số bài tập giả tạo nhất định thì đã có thể kiểm soát tâm trí một cách kỳ diệu rồi. Có nhiều trường học, nhiều hệ thống, nhiều lý thuyết về tâm trí nhưng làm thế nào để có thể sử dụng tâm trí một cách hữu ích? Nếu chưa hiểu được cách thức và lý do hoạt động của tâm trí thì chúng ta chưa thể có được một tâm trí hoàn hảo. Hãy suy ngẫm về điều này.

Để có một tâm trí hoàn hảo, chúng ta cần phải biết về các chức năng của tâm trí. Tâm trí hoạt động như thế nào? Tại sao tâm trí lại hoạt động? Đây là hai câu hỏi mà chúng ta chắc chắn phải trả lời.

Ví dụ, khi ném một hòn đá vào một cái hồ thì sẽ tạo nên các gợn sóng. Đây là phản ứng của hồ, của nước khi viên đá được ném xuống. Tương tự, nếu ai đó mỉa mai chúng ta thì những lời này sẽ chạm đến tâm trí và nó sẽ phản ứng lại, tiếp theo đó những xung đột sẽ xảy ra.

Toàn bộ thế giới đang có vấn đề, toàn bộ thế giới sống trong xung đột. Tôi đã quan sát rất kỹ các ban tranh luận của nhiều tổ chức, trường học, v.v. Họ đều không tôn trọng lẫn nhau. Tại sao? Bởi vì họ không tôn trọng chính mình.

Hãy quan sát một Thượng nghị viện, một Hạ viện hoặc đơn giản là ban giám hiệu của một trường học. Chỉ cần ai nói một điều gì đó là những người khác cảm thấy bị động chạm và trở nên tức giận rồi đáp trả bằng những lời thậm tệ hơn. Kết cục là các thành viên của hội đồng quản trị cãi vã nhau trong một cuộc hỗn loạn lớn. Phản ứng tâm trí của mỗi một người trước các tác động của ngoại cảnh đều rất gay gắt.

Người ta thực sự cần phân tâm học nội tại để khám phá tâm trí của chính mình. Chúng ta cần hiểu bản thân mình rõ hơn một chút, về mặt lý luận. Ví dụ, tại sao mình lại phản ứng trước lời nói của một người anh em như vậy? Trong những tình huống như thế này hay thế nọ, chúng ta luôn là nạn nhân. Nếu ai đó muốn ta bằng lòng, họ chỉ cần vỗ vai và nói vài câu hòa nhã. Nếu ai đó muốn ta buồn bã, họ chỉ cần nói một vài lời khó chịu.

Vậy thì lý trí tự do thực sự của chúng ta ở đâu? Là gì? Chúng ta phụ thuộc rõ rệt vào người khác, là nô lệ. Các quá trình tâm lý của chúng ta phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Chúng ta không thể kiểm soát các quá trình tâm lý của mình và điều này thật khủng khiếp.

Mọi người thống trị chúng ta cùng các quá trình nội tâm của ta. Một người bạn đột nhiên đến mời chúng ta đi dự tiệc. Chúng ta đến nhà bạn, anh ấy mời ta một ly rượu. Vì ngại từ chối nên ta nhận ly rượu ấy, cạn ly, rồi lại thêm một ly nữa, cứ thế chúng ta uống cho đến say. Người bạn này là chúa tể và là người cai trị các quá trình tâm lý của chúng ta.

Một tâm trí như vậy thì làm được gì? Nếu ai đó thống trị chúng ta, nếu cả thế giới có quyền thống trị chúng ta, thì lý trí tự do của chúng ta nằm ở đâu? Lý trí tự do của chúng ta là gì?

Đột nhiên, chúng ta đứng trước một người khác giới, chúng ta đồng nhất với họ và rồi cuối cùng thì kết thúc bằng việc tà dâm và ngoại tình. Điều này có nghĩa là người khác giới đó đã lấn lướt và chiến thắng quá trình tâm lý của chúng ta, người đó đã điều khiển chúng ta, bắt chúng ta phải theo ý họ. Đây có phải là tự do hay không?

Thú vật trí năng được nhầm gọi là con người trong thực tế đã được dạy để phủ nhận danh tính, giá trị và hình ảnh đích thực của mình. Danh tính đích thực, giá trị đích thực và hình ảnh bản thể sâu thẳm của mỗi chúng ta là gì? Có lẽ đó là cái Tôi hay là tính cách? Không! Chúng ta có thể vượt ra khỏi cái Tôi và khám phá Bản thể bằng phương pháp phân tâm học nội tại.

Không nghi ngờ gì nữa, chính Bản thể mới là danh tính, giá trị và hình ảnh đích thực của chúng ta. Bản thể là K – N, Kosmos-Người hay Người Kosmos [19]. Thật không may, như tôi đã nói thì thú vật trí năng bị gọi nhầm là con người đã tự dạy mình cách phủ nhận những giá trị nội tại của chính mình, họ đã rơi vào chủ nghĩa duy vật của thời đại suy tàn này, đã quỳ gối đầu hàng trước mọi tệ nạn trên trái đất và vẫn đang bước đi trên con đường lầm lỗi.

[19] Kosmos (tiếng Hy lạp cổ: κόσμος) là “trật tự” hay là “vũ trụ”

Thật là vô lý khi chấp nhận một nền văn hóa tiêu cực đã được hấp thụ vào bên trong chúng ta một cách chủ quan chỉ để tránh phải đối phó với lực kháng cự [của thế giới bên ngoài]. Thật không may là con người ngày nay thích đi theo con đường ít kháng cự nhất và chấp nhận nền văn hóa chủ nghĩa duy vật sai lầm của thời đại. Họ để cho nền văn hóa này ăn sâu vào tâm lý của mình. Đây chính là cách dẫn họ đến việc phủ nhận những giá trị đích thực của Bản thể.

HÀNH ĐỘNG SÚC TÍCH CỦA BẢN THỂ

Hành động súc tích của Bản thể là biểu hiện chính xác, hành động ngắn gọn mà Bản thể đích thực của mỗi chúng ta thực hiện theo cách tổng hợp, toán học và chính xác như bảng tính Pitago.

Tôi muốn các bạn suy ngẫm sâu sắc về hành động súc tích của Bản thể. Hãy nhớ rằng ở thế giới phía trên, trong không gian vô hạn, trong không gian tinh tú, mọi hành động đều là kết quả của một phương trình và một công thức chính xác. Tương tự như vậy thì chúng ta có thể khẳng định một cách dứt khoát bằng suy luận logic đơn thuần rằng hình ảnh thực sự của chúng ta, Kosmos-Người nội tại, là hoàn hảo và vượt ra khỏi mọi giá trị giả tạo.

Nhưng đáng tiếc là trường hợp của những người đã phụng sự như một phương tiện của Bản thể nhưng thực tế thì họ lại chưa hiểu được các ý định của đấng thiêng liêng.

Không nghi ngờ gì là mỗi hành động của Bản thể là kết quả của một phương trình và công thức chính xác. Cũng có những trường hợp Bản thể đã thành công trong việc thể hiện bản thân thông qua một người đã thay đổi được hình ảnh, giá trị và danh tính của mình. Những người như thế đã trở thành nhà tiên tri đích thực, người được khai sáng thực sự.

Khi một người phụng sự như là một phương tiện của Bản thể nhưng lại chưa cống hiến phi vụ lợi cho nhân loại, thì người đó vẫn chưa hiểu được bản chất của công thức chính xác của mọi hành động súc tích của Bản thể. Một người chỉ có thể thấu hiểu được Hành động súc tích của Bản thể khi họ không còn bám chấp vào kết quả của hành động, khi họ không mong đợi bất kỳ phần thưởng nào và khi họ lấy tình yêu làm động cơ thúc đẩy trong công việc cống hiến cho nhân loại.

Tôi nhắc lại, chúng ta cần phải trải qua một sự thay đổi toàn diện về bản thân. Hình ảnh, giá trị và danh tính phải thay đổi. Hình ảnh trẻ trung của con người hạ giới thật đẹp biết bao, nhưng chúng ta vẫn nên thay đổi. Tốt hơn nên có hình ảnh tâm linh và thiên giới ngay bây giờ và ở đây, trong thân thể bằng xương bằng thịt.

Thay vì sở hữu những giá trị sai lầm của cái Tôi thì ta nên đặt những giá trị tích cực của Bản thể ở trong trái tim và trong tâm trí của chúng ta. Thay vì có một danh tính thô thiển, chúng ta nên có một danh tính để phụng sự Bản thể.

Chúng ta hãy suy ngẫm về sự cần thiết của việc trở thành biểu hiện sống động của Bản thể. Bản thể là Bản thể và lý do tồn tại của Bản Thể chính là Bản Thể.

Chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa biểu hiện và tự biểu hiện. Cái Tôi có thể biểu hiện nhưng cái Tôi sẽ không bao giờ có thể tự biểu hiện. Cái Tôi được biểu hiện qua tính cách và những biểu hiện này là chủ quan; cái Tôi nói những gì người khác đã nói, thuật lại những gì người khác đã kể, giải thích những gì người khác đã giải thích nhưng không thể có sự tự biểu hiện rõ ràng của Bản thể.

Sự tự biểu hiện khách quan đích thực của Bản thể mới là điều quan trọng. Khi Bản thể biểu hiện qua chúng ta, sự biểu hiện này là hoàn hảo và súc tích.

Chúng ta phải làm tan rã cái Tôi dựa trên phân tâm học nội tại để cho Ngôi lời, lời nói của Bản thể được biểu hiện qua chúng ta.

LÒNG TỰ ÁI

Người ta nói nhiều về việc phụ nữ chạy theo hư danh. Thực sự đây là biểu hiện sống động của lòng tự ái.

Phụ nữ đứng trước gương hoàn toàn là một kẻ cuồng ái ngưỡng mộ bản thân, tự tôn sùng chính mình đến mức điên cuồng. Người phụ nữ trang điểm lồng lộn, tô vẽ khuôn mặt và uốn tóc chỉ với mục đích duy nhất là khiến cho người khác thốt lên: “Bạn thật lộng lẫy, bạn thật xinh đẹp, bạn trông như một nữ thần vậy!”, v.v.

Cái Tôi luôn cảm thấy thích thú khi mọi người chiêm ngưỡng nó. Cái Tôi tô điểm bản thân để được người khác ngưỡng mộ. Cái Tôi tin rằng mình đẹp đẽ, trong sáng, thánh thiện, đức hạnh, đặc biệt không tả xiết, v.v. Không ai tin rằng mình ác độc, tất cả mọi người đều cho rằng bản thân mình tốt đẹp và công bằng.

Lòng tự ái thật khủng khiếp. Ví dụ, những người cuồng tín của chủ nghĩa duy vật do tự ái mà không chấp nhận các chiều cao cấp của không gian. Họ yêu bản thân quá mức và tất nhiên là họ muốn các chiều cao cấp của không gian, của vũ trụ và của sự sống siêu cảm phải tuân theo ý thích tùy hứng của cá nhân họ. Họ không có khả năng vượt ra khỏi những tiêu chuẩn và lý thuyết thiển cận của chính mình, vượt ra ngoài cái Tôi yêu quý và những nguyên tắc lý trí của họ.

Cái chết không giải quyết được vấn đề trí mạng của cái Tôi. Chỉ khi cái Tôi chết đi thì những khổ đau của con người mới được giải quyết. Nhưng cái Tôi lại yêu bản thân quá mức và không bao giờ nó lại muốn chết. Chừng nào cái Tôi còn tồn tại thì bánh xe Luân hồi, bánh xe trí mạng của bi kịch con người vẫn sẽ xoay chuyển.

Khi thật sự yêu thì chúng ta từ bỏ được cái Tôi. Trong cuộc sống, để tìm được một người thực sự đang yêu là rất hiếm. Mọi người đều say mê nhưng đó không phải là tình yêu. Người ta say mê khi gặp người mình thích. Nhưng khi nhìn thấy những sai sót, khiếm khuyết của mình ở người kia thì người kia sẽ trở thành một tấm gương để họ có thể chiêm nghiệm toàn diện về bản thân. Thực sự là họ đang không yêu “người yêu”, họ chỉ yêu bản thân mình và thích thú khi nhìn thấy bản thân mình trong tấm gương này, đây là nơi họ gặp gỡ bản thân và lầm tưởng rằng mình đang yêu một người khác. Cái Tôi thích thú khi đứng trước gương và cảm thấy hạnh phúc khi nhìn thấy chính mình trong những người có những phẩm chất, đức tính và khuyết điểm tương tự.

Chỉ bằng cách chấm dứt lòng tự ái, chỉ khi tâm trí thoát khỏi mọi giả định, chỉ khi cái Tôi vắng bóng, thì chúng ta mới có thể trải nghiệm được Sự thật.

Những người thuyết giáo nói nhiều về sự thật, nhưng liệu có thể biết được sự thật khi sự tự ái vẫn còn tồn tại trong chúng ta?

Nhiều người sẽ chỉ trích tác phẩm “Biện chứng Tâm thức” này. Như mọi khi, những người giả uyên bác sẽ cười nhạo những tuyên bố khác thường vì những lời dạy này không trùng khớp với “những giả định trong lý trí” và những lý thuyết phức tạp trong ký ức của họ.

Các học giả không có khả năng lắng nghe “Tâm lý học cho sự chuyển hóa triệt để” với tinh thần cởi mở, không vướng mắc vào các giả định, lý thuyết và định kiến trong tâm trí. Họ không có khả năng mở lòng đón nhận những điều mới mẻ với một tâm trí hợp nhất, một tâm trí không bị phân chia bởi cuộc chiến giữa chính đề và phản đề.

Các học giả chỉ nghe để đối chiếu với các giả định trong trí nhớ của họ. Các học giả chỉ nghe để dịch lại theo ngôn ngữ của những thành kiến và định kiến của họ, rồi đi đến kết luận rằng những lời dạy của Biện chứng Tâm thức chỉ là huyễn tưởng. Các học giả luôn làm như vậy, tâm trí của họ đã bị thoái hóa đến mức họ không còn khả năng khám phá những điều mới mẻ nữa.

Cái Tôi ngạo mạn muốn mọi thứ phải trùng khớp với những lý thuyết và giả định lý trí của nó. Cái Tôi muốn tất cả những ý thích tùy hứng của nó phải được thỏa mãn. Nó muốn toàn thể Vũ trụ phải tuân theo các thí nghiệm của mình.

Cái Tôi khinh miệt tất cả những ai làm tổn thương lòng tự ái của nó. Cái Tôi tôn thờ các lý thuyết và định kiến của mình.

Nhiều khi chúng ta khinh miệt người khác một cách vô cớ. Tại sao? Đơn giản vì người đó là hiện thân cho những lỗi lầm mà chúng ta đang giấu kín ở bên trong và chúng ta không thích họ phô bày những lỗi lầm đó. Thực sự là chúng ta đang khiển trách người khác vì những lỗi lầm ở bên trong sâu thẳm của chính mình.

Trên đời này không ai là hoàn hảo cả, tất cả chúng ta đều giống nhau. Mỗi chúng ta đều là một cái vỏ xấu xí trong lòng của thực tế vĩ đại.

Khi một người không có khuyết điểm ở chỗ này, thì họ sẽ có khuyết điểm ở chỗ khác. Một số người không thèm muốn tiền bạc nhưng họ lại thèm muốn danh vọng, danh dự, bạn tình, v.v. Có những người không ngoại tình với vợ của người khác nhưng họ lại nhân danh tình anh em toàn cầu để “ngoại tình” với các giáo lý. (Tức là họ và pha trộn các tín ngưỡng.)

Có người không ghen tuông với vợ của mình nhưng họ lại “ghen tuông” (văn bản gốc: celan [20]) với mối quan hệ bạn bè, tín ngưỡng, giáo phái, tài sản, v.v. Đây chính là bản chất con người, chúng ta đều giống nhau như đúc.

[20] Trong tiếng Tây Ban Nha từ “celan” có nghĩa là “ghen tuông”, “bủn xỉn”, “ngại chia sẻ vì sợ thiếu”

Không có ai lại không yêu bản thân mình. Ta đã nhiều lần phải nghe người khác thao thao bất tuyệt hàng giờ về bản thân họ, về những kỳ tích, tài năng, đức hạnh của họ, v.v.

Cái Tôi yêu bản thân đến mức ghen tị với hạnh phúc của người khác. Phụ nữ tô điểm cho mình bằng nhiều phụ kiện, một phần là để thu hút sự chú ý của đàn ông và một phần là để đánh thức lòng đố kỵ ở những người phụ nữ khác. Tất cả mọi người đều ghen tị với nhau. Tất cả mọi người đều ghen tị với chiếc váy, chiếc vòng cổ đẹp của người khác, v.v. Họ đều ngưỡng mộ bản thân và không muốn thấy mình kém cỏi hơn người khác; họ là những kẻ hoàn toàn cuồng ái bản thân.

Một số người theo các trường phái giả huyền học hoặc các tín đồ của nhiều giáo phái yêu bản thân đến mức họ đã tin rằng mình là suối nguồn của lòng khiêm tốn và sự thiêng liêng. Họ cảm thấy tự hào về lòng khiêm tốn của chính mình. Họ tự hào ghê gớm.

Không có một anh chị em nào theo giả huyền học mà trong sâu thẳm lại không tự mãn về sự thiêng liêng, lộng lẫy và vẻ đẹp tinh thần của chính mình.

Cái Tôi yêu bản thân quá mức đến nỗi nó cho rằng mình tốt và hoàn hảo, ngay cả khi nó không nói ra ngoài.

Không một anh chị em nào theo trường phái giả huyền học lại tin rằng mình ác độc hay cố chấp. Tất cả bọn họ đều cho rằng mình là thánh và hoàn hảo ngay cả khi họ thực sự không chỉ ác độc, mà còn cố chấp.

AHIMSA (Phi bạo lực)

Ahimsa là tư tưởng thuần túy của Ấn Độ, tư tưởng phi bạo lực. Ahimsa thực sự được truyền cảm hứng từ tình yêu phổ quát. Himsa có nghĩa là muốn giết, muốn hãm hại người khác. Do đó, Ahimsa có nghĩa là từ bỏ mọi ý định về việc dùng bạo lực để giết hoặc hãm hại người khác.

Ahimsa trái ngược với tâm kiêu ngạo. Ahimsa là lòng vị tha và tình yêu thương tuyệt đối. Ahimsa là hành động cương trực.

Mahatma Gandhi 

Mahatma Gandhi đã lấy Ahimsa làm nền tảng cho giáo lý chính trị của mình. Gandhi định nghĩa biểu hiện của Ahimsa như sau:

“[Phi bạo lực] không phải là từ bỏ mọi đấu tranh đích thực chống lại cái ác. Ngược lại, phi bạo lực theo quan niệm của tôi thiết lập một chiến dịch chống lại cái ác một cách tích cực hơn sự trả đũa bởi bản chất của sự trả đũa làm tăng tính cố chấp. Tôi đề nghị chống lại sự vô đạo đức bằng sự phản kháng về mặt lý trí và theo sau đó là sự phản kháng về mặt đạo đức. Tôi cố gắng làm cùn thanh gươm của một bạo chúa, không phải bằng cách dùng một thanh gươm sắc hơn để đánh lại nó, mà bằng cách làm cho ông ta thất vọng, bằng cách không thể hiện bất kỳ sự kháng cự nào về mặt vật chất. Tôi sẽ để sức kháng cự của tâm hồn thay thế [cho sức kháng cự vật chất] và sẽ thoát khỏi sự tấn công của ông ta. Sức kháng cự này trước hết sẽ làm ông ta bị chói mắt và sau đó sẽ buộc ông ta phải công nhận. Và hành động công nhận đó sẽ không làm bẽ mặt kẻ tấn công mà sẽ đề cao phẩm giá của hắn…” [21].

Không có vũ khí nào mạnh mẽ hơn một tâm hướng thiện!

[21] Chỉ trích “Non-violence in Peace and War” bởi M. K. Gandhi, ấn bản 1942, trang 48.

Cái Tôi là thứ gây ra sự mất đoàn kết, phản bội và hỗn loạn cho nhân loại đau khổ đáng thương. Tâm kiêu ngạo, sự phản bội và thiếu tình anh em đã chia rẽ nhân loại.

Cái Tôi đã không được tạo ra bởi Đức Cha, Tâm Linh hay Vật chất. Cái Tôi được tạo ra bởi tâm trí và nó sẽ chỉ ngừng tồn tại khi chúng ta thấu hiểu nó hoàn toàn trong tất cả các cấp độ của tâm trí. Chỉ bằng hành động đúng đắn, nhập định đúng đắn, ý chí đúng đắn, lối sống đúng đắn, nỗ lực đúng đắn và trí nhớ đúng đắn thì chúng ta mới có thể làm tan rã cái Tôi [22]. Điều cấp bách là phải thấu hiểu tất cả những điều này một cách sâu sắc nếu chúng ta thực sự muốn đạt được sự thay đổi triệt để của Biện chứng Tâm thức.

[22] Đoạn này đang để cập đến sáu phần trong Bát chánh đạo của Phật giáo:
hành động đúng đắn – chính nghiệp (pi. sammā-kammanta, sa. samyak-karmānta)
nhập định đúng đắn – chính định (pi. sammā-samādhi, sa. samyak-samādhi)
ý chí đúng đắn – chính tư duy (pi. sammā-saṅkappa, sa. samyak-saṃkalpa)
lối sống đúng đắn – chính mệnh (pi. sammā-ājīva, sa. samyag-ājīva)
nỗ lực đúng đắn – chính tinh tiến (pi. sammā-vāyāma, sa. samyag-vyāyāma)
trí nhớ đúng đắn – chính kiến (pi. sammā-diṭṭhi, sa. samyag-dṛṣṭi)

Bản chất của tính cách là năng lượng. Nó được hình thành từ thời thơ ấu qua những thói quen, phong tục, ý tưởng, v.v. Tính cách được củng cố bởi những trải nghiệm của cuộc sống. Cả tính cách và cái Tôi cần phải được tan rã. Về khía cạnh tâm lý, giáo lý của chúng ta triệt để hơn giáo lý của Gurdjieff và Ouspensky.

Chúng ta không nên nhầm lẫn tính cách với cái Tôi. Sự thật là tính cách được hình thành trong bảy năm đầu đời còn cái Tôi là lỗi lầm kéo dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác và mỗi lần đầu thai thì sự vô thức của nó càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Cái Tôi sử dụng tính cách như một công cụ để hành động. Chủ nghĩa personalismo [23] là kết quả của sự pha trộn giữa cái Tôi và tính cách. Chính cái Tôi đã sáng lập ra chủ nghĩa tôn thờ cá nhân. Thực sự, chủ nghĩa personalismo sinh ra sự tự cao tự đại, lòng thù hận, bạo lực, v.v. Ahimsa bác bỏ tất cả những thứ này.

[23] Chủ nghĩa personalismo chỉ việc tôn thờ vào một người lãnh đạo và hoạt động theo các tư tưởng và xu hướng cá nhân của người đó thay cho những nguyên tắc và tư tưởng phổ quát, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị. Tham khảo thêm về Chủ nghĩa Cá nhân tại đây.

Chủ nghĩa personalismo phá hoại hoàn toàn các tổ chức huyền học. Chủ nghĩa personalismo tạo ra tình trạng hỗn loạn và lộn xôn. Chủ nghĩa personalismo hoàn toàn có thể phá hủy bất kỳ tổ chức nào.

Trong mỗi lần đầu thai thì cái Tôi tạo ra một tính cách mới. Mỗi người đều khác nhau trong mỗi đời kiếp.

Ta cần phải biết cách sống. Khi cái Tôi tan rã thì Thực tại vĩ đại, Hạnh phúc đích thực, thực tế không tên [24] sẽ đến với chúng ta.

[24] Thực tế không tên – hãy tham khảo ghi chú về Đấng Tự hữu Hằng Hữu tại đây.

Ta hãy phân biệt giữa Bản thể và cái Tôi. Con người hiện nay chỉ có cái Tôi. Con người chưa đạt được Bản thể. Việc đạt được Bản thể là cấp bách bởi ta cần biết rằng Bản thể là hạnh phúc vô hạn.

Thật vô lý khi nói rằng Bản thể là “cái Tôi cao cấp”, “cái Tôi thần thánh”, v.v. Vì Bản thể là phổ quát và thuộc về toàn bộ vũ trụ và không thể có hương vị của cái Tôi. Chúng ta hãy đừng cố thần thánh hóa cái Tôi.

Ahimsa là phi bạo lực trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Ahimsa là tôn trọng ý tưởng của người khác, tôn trọng tất cả các tôn giáo, trường học, giáo phái, tổ chức, v.v.

Chúng ta đừng mong đợi cái Tôi tiến hóa bởi vì cái Tôi không bao giờ có thể tự hoàn thiện mình. Chúng ta cần một cuộc chuyển hóa triệt thể của Tâm thức. Công cuộc chuyển hóa Tâm thức là sự chuyển hóa duy nhất chúng ta chấp nhận.

Khi chúng ta chết đi trong từng khoảnh khắc thì sự hòa hợp giữa người với người sẽ dần dần phát triển. Khi chúng ta chết đi trong từng khoảnh khắc thì tinh thần hợp tác sẽ dần dần thay thế hoàn toàn cho sự cạnh tranh. Khi chúng ta chết đi trong từng khoảnh khắc thì thiện chí sẽ thay thế cho ác ý.

Giáo lý Ahimsa dựa trên Biện chứng Tâm thức, dựa trên chuyển hóa triệt để của của Tâm thức.

Những người thành ý sẽ chấp nhận Ahimsa. Không thể tạo ra một trật tự mới trong tâm lý mà lại bỏ qua giáo lý về phi bạo lực.

Ahimsa nên được nuôi dưỡng trong những tổ ấm bằng cách đi theo con đường Hôn nhân Hoàn hảo. Hạnh phúc chỉ có thể ngự trị trong những tổ ấm qua suy nghĩ và hành động phi bạo lực.

Ta nên coi Ahimsa là nền tảng của cuộc sống hàng ngày, tại văn phòng, tại công xưởng, ở vùng nông thôn, ở nhà, trên đường phố, v.v. Chúng ta nên sống theo giáo lý phi bạo lực.

HÀNH VI BẦY ĐÀN

Hành vi bầy đàn là xu hướng của bộ máy con người để hòa nhập với người khác mà không có bất kỳ sự phân biệt hay kiểm soát nào.

Hãy quan sát hành vi của một người khi ở cùng một nhóm người hoặc một đám đông. Tôi chắc chắn rằng rất ít người dám đi ra đường và ném đá vào người khác. Tuy nhiên, họ lại có thể làm thế khi ở cùng một nhóm. Một người có thể bị cuốn vào một cuộc biểu tình công cộng và khi hăng máu lên thì họ có thể hùa theo đám đông để ném đá người khác, mặc dù sau đó người này sẽ tự hỏi sao mình lại làm điều đó?

Khi ở trong một đám đông, con người cư xử rất khác. Họ làm những điều không bao giờ làm khi ở một mình. Điều này là vì sao? Đó là do họ đã mở cửa tiếp nhận những ấn tượng tiêu cực và cuối cùng làm những việc mà họ sẽ không bao giờ làm khi ở một mình.

Khi một người mở cửa tiếp nhận những ấn tượng tiêu cực thì họ không chỉ thay đổi trật tự của trung tâm cảm xúc trong trái tim mà còn làm cho nó trở nên tiêu cực. Ví dụ, chúng ta mở cửa tiếp nhận cảm xúc tiêu cực từ một người đang rất tức giận vì ai đó làm tổn thương họ. Và rồi cuối cùng chúng ta kết bè phái với người kia chống lại những người mà đã làm tổn thương họ. Rồi chúng ta cũng đầy tức giận trong khi không hề liên quan đến vấn đề của người kia.

Giả sử rằng một người mở cửa tiếp nhận những ấn tượng tiêu cực về một người say rượu, rồi cuối cùng người ấy cạn một ly, sau đó là hai, ba,… và đến tận mười ly. Cuối cùng thì người ấy cũng trở thành một con sâu rượu.

Giả sử rằng khi một người mở cửa tiếp nhận những ấn tượng tiêu cực về một người khác giới thì cuối cùng khả năng cao là người đó cũng sẽ tà dâm và phạm đủ các loại tội khác [25].

[25] 7 đại tội – Tham khảo thêm bài viết chi tiết tại đây.

Nếu chúng ta mở cửa tiếp nhận những ấn tượng tiêu cực của một kẻ nghiện thì cuối cùng chúng ta có thể cũng sẽ hút cần sa hoặc sử dụng một số chất kích thần khác. Kết cục là thảm họa sẽ đến.

Đây là cách mà con người tiêm nhiễm cho nhau trong bầu không khí tiêu cực. Kẻ trộm biến người khác thành kẻ trộm. Kẻ giết người tiêm nhiễm cho người khác. Kẻ nghiện tiêm nhiễm cho người khác. Và những kẻ nghiện ngập, trộm cắp, lợi dụng, giết người, v.v, sẽ nhân lên. Tại sao? Chúng ta phạm phải lỗi lầm là luôn mở rộng cửa cho những cảm xúc tiêu cực và điều này không bao giờ là đúng cả. Chúng ta hãy biết chọn lọc cảm xúc.

Nếu ai đó mang đến cho chúng ta những cảm xúc tích cực về ánh sáng, về vẻ đẹp, về sự hài hòa, về hạnh phúc, về tình yêu, về sự hoàn hảo, thì chúng ta hãy mở rộng cánh cửa của trái tim mình cho người ấy. Nhưng nếu ai đó mang đến cho chúng ta những cảm xúc tiêu cực như căm ghét, bạo lực, ghen tuông, nghiện ma túy, nghiện bia rượu, tà dâm và ngoại tình, thì tại sao chúng ta lại phải mở rộng cửa trái tim mình? Chúng ta hãy đóng cửa lại! Hãy đóng cửa trước những cảm xúc tiêu cực.

Khi một người suy ngẫm về những hành xử bầy đàn thì họ có thể hành động một cách hoàn hảo hơn và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

SỰ BIẾN DẠNG CỦA NGÔN TỪ

Tiếng nổ của một khẩu đại bác có thể phá hủy kính cửa sổ. Mặt khác, một lời nói nhẹ nhàng có thể xoa dịu một cơn tức giận hay thịnh nộ; nhưng một ngôn từ xúc phạm, chói tai lại có thể tạo ra sự sân hận, u uất, buồn bã, hận thù, v.v.

Người ta nói rằng “im lặng là vàng” nhưng nói đúng hơn là: lên tiếng khi cần im lặng hay im lặng khi cần lên tiếng đều không đúng.

Có những tội ác không lời; cũng có những lời vu khống. Một người nên suy tính với lòng cao thượng về kết quả của những lời mình nói, bởi đôi khi chúng ta có thể làm tổn thương người khác chỉ bằng những lời nói trong vô thức.

Những ngôn từ đầy ác ý dẫn đến sự tà dâm trong tâm trí. Và những ngôn từ loạn nhịp tạo ra bạo lực trong cõi lý trí của vũ trụ.

Đừng bao giờ lên án người khác bằng ngôn từ bởi vì chúng ta không bao giờ được phán xét bất kỳ ai. Những lời vu khống, những lời đàm tiếu và những lời phỉ báng đã khiến thế giới tràn ngập khổ đau và cay đắng.

Khi rèn luyện Siêu Động Lực Tình Dục thì chúng ta phải hiểu rằng năng lượng sáng tạo có thể được biến đổi theo nhiều kiểu. Năng lượng Libido [26] này có thể được biến đổi thành sức mạnh của ánh sáng hoặc bóng tối. Tất cả phụ thuộc vào chất lượng của ngôn từ.

[26] Libido: Trong bối cảnh không chuyên môn từ Libido được hiểu là nguồn gốc tinh thần của lực hấp dẫn tình dục hay chỉ đơn giản là bản năng sinh sản. Vì thế, từ này thường được dịch là dục năng. Tuy nhiên, trong bối cảnh của Gnosis, chúng ta cần một định nghĩa tinh tế hơn.
Khái niệm về Libido xuất phát từ các tác phẩm và công trình nghiên cứu của bác sĩ tâm lý Sigmund Freud và được phát triển thêm bởi bác sĩ Carl Jung. Ở đây chúng tôi chia sẻ một số định nghĩa của từ Libido và phân tích về mối quan hệ giữa Libido khi được hiểu như là năng lượng tinh thần nói chung và Libido khi được hiểu như là nguồn gốc của bản năng tình dục.

Tham khảo chi tiết tại đây.

Con người hoàn hảo luôn nói những lời hoàn hảo. Học trò Gnosis muốn đi theo con đường Biện chứng Tâm thức phải làm quen với việc kiểm soát lời nói của mình. Họ cần học cách sử dụng từ ngữ.

“Chẳng phải những gì đi vào miệng làm hại con người; nhưng những gì từ miệng ra, mới có hại! Tất cả những lời lăng mạ, mưu đồ, phỉ báng, tức giận, tranh luận được nói ra từ miệng đều làm tổn thương đến người khác” [27].

[27] Câu này trích từ Ma-thi-ơ 15, Kinh Thánh.

Hãy tránh xa tất cả các loại cuồng tín vì khi cuồng tín, chúng ta gây tổn hại nghiêm trọng cho người khác và cho đồng loại của mình.

Một người có thể làm tổn thương người khác không chỉ bằng những lời xúc phạm hoặc bằng những lời châm biếm bóng gió mỹ miều, mà còn bằng cả giọng điệu, bằng âm sắc chói tai và loạn nhịp.

BIẾT CÁCH LẮNG NGHE

Chúng ta phải học cách lắng nghe. Và để học cách lắng nghe thì chúng ta phải đánh thức tâm thức.

Để học cách lắng nghe, chúng ta phải biết cách sống trong hiện tại. Người biết lắng nghe luôn thoát được ra khỏi quốc gia và thành phố tâm lý của mình [28].

[28] Quốc gia Tâm lý – Tham khảo chi tiết tại đây.

Tính cách không biết cách lắng nghe, cơ thể vật chất cũng không biết cách lắng nghe vì cơ thể chỉ là phương tiện của tính cách.

Con người luôn đầy rẫy sự kiêu hãnh, sự tự mãn về những khả năng và triết lý của mình.

“Ngửa cái bát của mình lên, giống như Đức Phật”

Không có một góc nhỏ hay chỗ trống nào cho tri thức, cho ngôn từ [29]. Chúng ta nên ngửa cái bát của mình lên, giống như Đức Phật, để tiếp nhận ngôn từ Kitô.

[29] Ngôn từ: Ngôi Lời, tham khảo chi tiết tại đây.

Lắng nghe bằng tâm rất khó. Chúng ta phải học cách chú tâm để biết cách lắng nghe. Chúng ta phải mở rộng hơn để đón nhận ngôn từ.

Mọi người không nhớ được các kiếp trước của mình là bởi vì họ không có mặt ở trong ngôi nhà tâm lý của mình, bởi vì họ đi vắng.

Chúng ta phải nhớ đến chính mình. Trong ngày, chúng ta phải thư giãn càng nhiều càng tốt.

Mọi người phạm nhiều lỗi lầm bởi vì quên mất Bản thể. Nhiều điều tuyệt vời xảy ra khi một người nhớ đến bản thân mình.

Thảo luận, bàn bạc là cần thiết, nhưng điều quan trọng là phải biết cách lắng nghe. Để biết cách lắng nghe, một người cần phải đặt các trung tâm cảm xúc, vận động và lý trí ở trong trạng thái chú tâm cao nhất.

Nền giáo dục sai lầm cản trở khả năng lắng nghe. Nền giáo dục sai lầm gây hại cho năm trung tâm của cỗ máy con người: trung tâm lý trí, vận động, cảm xúc, bản năng và tình dục.

Chúng ta phải lắng nghe với một tâm trí tự nhiên, không bị chi phối bởi những giả định, lý thuyết và định kiến của lý trí. Chúng ta phải mở lòng đón nhận những điều mới mẻ với một tâm trí hợp nhất, một tâm trí không bị chia rẽ bởi trận chiến giữa chính đề và phản đề.

TÍNH CHÍNH XÁC CỦA THUẬT NGỮ

Triết gia Socrates đòi hỏi sự chính xác của thuật ngữ làm cơ sở cho phép biện chứng của mình. Chúng ta đòi hỏi sự chính xác của ngôn từ làm cơ sở cho phép Biện chứng Tâm thức.

Ngôn từ là đặc điểm nổi bật của con người, là công cụ biểu đạt quan niệm cá nhân và giao tiếp giữa con người với nhau. Ngôn từ là phương tiện của ngôn ngữ bên ngoài và là sự biểu hiện ra bên ngoài của ngôn ngữ nội tại. Cả hai đều có thể được sử dụng bởi Bản thể hoặc bởi cái Tôi.

Trong tác phẩm đối thoại “Phaedo”, Plato đã giảng giải cho một môn đệ của mình về một khái niệm nổi tiếng bởi sự sâu sắc và tinh tế về mặt đạo đức của nó. Ông đã nói về khái niệm này như một nguyên tắc sống của con người trong kho tàng thành ngữ như sau: “Crito thân yêu của tôi, hãy biết rằng khi nói không đúng cách, ta không những đang phạm lỗi bởi những gì đã nói mà còn làm tổn thương cho tâm hồn”.

Nếu muốn giải quyết vấn đề, chúng ta nên tránh bày tỏ ý kiến của mình. Bất kỳ ý kiến nào đều có thể bị mang ra tranh cãi. Khi có một vấn đề chúng ta nên sử dụng thiền để tìm hiểu về cách giải quyết nó. Ta cần phải giải quyết vấn đề bằng tâm trí và trái tim. Chúng ta nên học cách tự suy nghĩ cho bản thân. Thật vô lý khi chỉ biết nhắc lại ý kiến của người khác như một con vẹt.

Khi cái Tôi bị tiêu diệt, các tiến trình lựa chọn của tâm trí sẽ biến mất. Ý kiến là khái niệm chúng ta phát ra bên ngoài vì sợ rằng một khái niệm khác có thể đúng. Điều này thể hiện sự vô minh.

Việc học cách để không đồng nhất [bản thân] với các vấn đề là điều cấp bách. Cần phải khám phá bản thân một cách chân thành và sau đó giữ im lặng cả trong tâm trí và trong lời nói.

ROBOT TÂM LÝ

Thú vật trí năng giống như một con robot được lập trình bởi các bánh xe máy móc, và cũng giống như một chiếc đồng hồ bởi nó liên tục lặp đi lặp lại những hành động đã xảy ra trong những kiếp trước.

Thú vật dáng người bị nhầm gọi là con người, chỉ là một con robot tâm lý không có khả năng tự chủ, nó bị chi phối bởi hoàn cảnh. Bản thể mới là thứ duy nhất có thể tự chủ. Bản thể có thể làm dấy lên những mong muốn của mình bởi vì Bản thể không phải là một thực thể máy móc.

Chúng ta phải chấm dứt việc là một con robot thuần lý trí, bởi vì một con robot luôn lặp đi lặp lại cùng một thứ và không có tính tự chủ.

Robot tâm lý bị chi phối bởi các định luật của Mặt Trăng: luật tái diễn, sinh, tử, hận thù, ích kỷ, bạo lực, tự phụ, kiêu ngạo, tự cao, lòng tham vô đáy, v.v.

Chúng ta phải rèn luyện Siêu Động Lực Tình Dục để có thể tạo ra một trọng tâm cố định và thoát khỏi sự chi phối của Mặt Trăng.

Để không còn là một robot tâm lý, điều cần thiết là phải thống trị bản thân. Faust đã đạt được điều này, nhưng Cornelius Agrippa [30] đã không làm được vì ông đã dành hết thời gian của mình cho lý thuyết.

[30] Heinrich Cornelius Agrippa (1486-1535) và Johann Georg Faust (1480-1541) là hai tác giả huyền học.

Con người quan tâm đến việc khai phá thế giới nhưng điều quan trọng hơn là khai phá chính mình, bởi vì người có thể khai phá được chính mình là người có thể thống trị cả thế giới.

Để trở thành một con người và sau đó là một siêu nhân thì con robot tâm lý nên phát triển khả năng duy trì các nốt [trong quãng tám] [31]. Khi một người thực sự muốn chấm dứt việc là một cỗ máy, người đó phải trải qua cuộc khủng hoảng đầu tiên: Mi – Fa, và sau đó trải qua cuộc khủng hoảng thứ hai: La – Si [32].

[31] [32] Duy trì các nốt nhạc trong quãng tám – Tham khảo chi tiết tại hai bài viết sau: Chương 7 – Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳDòng âm thanh.

Bí quyết của những người chiến thắng để vượt qua khủng hoảng và chấm dứt việc trở thành một con robot tâm lý nằm ở sự lựa chọn, thay đổi và quyết định. Toàn bộ công việc này được thực hiện trong bảy cấp bậc và một người sẽ đạt được âm thanh Nirionissian [33] của Vũ trụ.

[33] Nirionissian – ý nghĩa của từ này không rõ.

SỰ TỨC GIẬN

Sự tức giận hủy hoại khả năng suy nghĩ và giải quyết các vấn đề mà chính nó tạo ra. Rõ ràng tức giận là một cảm xúc tiêu cực.

Khi hai cảm xúc tiêu cực của sự tức giận đối đầu với nhau thì bình yên cũng như sự lĩnh hội sáng tạo sẽ không thể có được.

Hiển nhiên là khi trút giận lên người khác, hình ảnh của chúng ta sẽ bị sụp đổ và điều này không có ích gì cho những mối quan hệ tương quan.

Các quá trình khác nhau của sự tức giận dẫn con người đến những thất bại nặng nề về mặt xã hội, kinh tế và tâm lý. Rõ ràng là sức khỏe của một người cũng bị ảnh hưởng bởi sự tức giận.

Có một số người ngu ngốc lại thích tức giận vì nó đem lại cho họ cảm giác siêu đẳng. Trong những trường hợp này, sự tức giận được kết hợp với lòng kiêu ngạo.

Tức giận thường được kết hợp với tính tự phụ và thậm chí là cả sự tự mãn. Lòng nhân hậu là một năng lực mạnh mẽ lớn lao hơn nhiều so với sự tức giận.

Một cuộc tranh cãi trong sân hận thì không khác gì một sự kích động vô cớ. Khi đối mặt với cơn giận, chúng ta phải chọn lọc loại cảm xúc phù hợp nhất cho bản thân.

Những ai bị điều khiển bởi cơn giận là đang tự hủy hoại hình ảnh của chính mình. Một người hoàn toàn tự chủ sẽ luôn ở trên đỉnh cao.

Nỗi thất vọng, sợ hãi, nghi ngờ và cảm giác tội lỗi khơi nguồn những cơn giận. Nỗi thất vọng, sợ hãi, nghi ngờ và cảm giác tội lỗi gây ra sự tức giận. Những người giải phóng được bản thân mình khỏi bốn cảm xúc tiêu cực này sẽ thống trị thế giới. Việc chấp nhận những cảm xúc tiêu cực là một cái gì đó đi ngược lại với lòng tự trọng.

Giận dữ là điên rồ, nó không phục vụ mục đích gì mà chỉ dẫn chúng ta đến bạo lực. Mục tiêu của bạo lực là dẫn chúng ta đến bạo lực và bạo lực thì lại sản sinh ra nhiều bạo lực hơn nữa.

TÍNH CÁCH

Tính cách có bao gồm nhiều yếu tố độc lập và có nhiều tầng lớp ẩn giấu. Trong đó có nghiệp từ những kiếp trước và nghiệp đang ở trong quá tình kết tinh, đang chuẩn bị ra kết quả.

Những ấn tượng tâm lý không được chuyển hóa sẽ trở thành những cấu trúc tâm lý mới, và nghiêm trọng hơn cả là trở thành những tính cách mới. Tính cách không đồng nhất mà hỗn tạp và đa nguyên.

Chúng ta nên lựa chọn những ấn tượng tâm lý giống như cách mà ta lựa chọn những thứ khác trong cuộc sống.

Nếu chúng ta không nhớ đến bản thân tại một thời điểm thì khi đối mặt với một sự kiện mới, một cái Tôi mới sẽ được hình thành. Nếu đủ mạnh thì những cái Tôi này sẽ trở thành những cá nhân mới trong tính cách [34]. Đây là nguyên nhân của nhiều sang chấn, mặc cảm và xung đột tâm lý.

[34] Tính cách bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, giống như bên trong chúng ta có nhiều người khác nhau. Khi chúng ta lặp đi lặp lại một lối suy nghĩ hoặc một cơ chế tâm lý cho đến khi nó trở thành một thói quen thì chúng ta đã thêm một khía cạnh mới vào tính cách. Ví dụ: Một người hút thuốc lần đầu tiên khi đi bắt đầu nhập ngũ. Mười năm sau thì họ đã nghiện thuốc được hơn một phần ba cuộc đời rồi. Khi đó thì thói quen hút thuốc đã trở thành một khía cạnh chủ yếu trong tính cách của họ. Họ thể hiện tính cách qua cách cầm điếu thuốc và bật lửa; họ hút thuốc để xử lý cảm xúc và bị căng thẳng khi không được hút. Lúc này thì một “cá nhân” mới đã được thêm vào tính cách của họ: đó là “người hút thuốc”. Sau này, nếu muốn bỏ thuốc thì “người hút thuốc” trong tính cách của họ sẽ phải chết đi.

Không phải tất cả các cá nhân trong tính cách đều được chấp nhận, điều này dẫn đến nhiều sang chấn tâm lý, mặc cảm, ám ảnh, v.v.

Một ấn tượng tâm lý không được chuyển hóa sẽ trở thành một cá nhân bên trong tính cách, và nếu không được chấp nhận thì cá nhân này sẽ trở thành nguồn gốc của nhiều xung đột khủng khiếp.

Trước hết chúng ta phải hiểu về tính đa nguyên của tính cách có nghĩa là bên trong tính cách lại bao gồm nhiều cá nhân khác nhau.

Do đó, có thể một người đã làm tan rã hoàn toàn các cấu trúc tâm lý, nhưng nếu người đó chưa làm tan rã tính cách thì họ vẫn sẽ chưa thể đạt được sự khai sáng đích thực và chưa có được sự phúc lạc trong cuộc sống.

Khi càng biết chính mình, chúng ta càng biết người khác rõ hơn. Khi vẫn còn cái Tôi, chúng ta không nhìn được mọi thứ một cách rõ ràng và mắc sai lầm. Những người vẫn còn cái Tôi thất bại vì họ thiếu khả năng phán đoán, ngay cả khi phân tích của họ vô cùng lôgic.

Nếu những ấn tượng tâm lý không được chuyển hóa thì cái Tôi mới sẽ được tạo ra. Chúng ta phải học cách chọn lọc các ấn tượng.

Vấn đề không phải là “trở nên tốt hơn”! Cái chúng ta cần quan tâm là sự thay đổi. Bản thể chỉ hiện sinh khi một người đã thay đổi và không còn tồn tại.

Những yếu tố không mong muốn ở bên trong kiểm soát tri giác của chúng ta, không cho ta có được một ý thức hợp nhất mang lại an lạc và hạnh phúc.

CATHEXIS

Khi Cathexis [35] vận hành dưới dạng năng lực thực thi thì nó là một sức mạnh kinh khủng. Các nguồn dự trữ trí tuệ là các phần khác nhau của Bản thể và được gọi là Cathexis liên kết hay năng lượng tinh thần tiềm năng tĩnh. Cathexis liên kết hướng dẫn chúng ta trong công việc làm tan rã cái Tôi và giải phóng tâm trí.

[35] Cathexis: Trong Phân tâm học, thuật ngữ Cathexis, còn gọi là đầu tư xung năng hay tích lũy năng lượng tinh thần, được dùng để chỉ một quá trình tập trung năng lượng tinh thần hoặc cảm xúc vào một người, một đối thể (có thể là vật vô sinh hoặc sinh vật) hoặc một ý niệm.

Tham khảo chi tiết về Cathexis tại đây.

Các giá trị của Bản thể chính là Cathexis liên kết.

Cathexis liên kết bên trong tâm trí hướng dẫn chúng ta trong công cuộc chuyển hóa tâm lý triệt để và toàn vẹn.

Chỉ Cathexis liên kết mới có khả năng giải phóng tâm trí thông qua việc làm tan rã các yếu tố tâm lý không mong muốn đã được phân tách bằng các phương pháp phân tích cấu trúc và phân tích giao dịch.

Cathexis liên kết khác với Cathexis lỏng lẻo, vì Cathexis lỏng lẻo là năng lượng tinh thần mà cái Tôi sử dụng để biểu hiện thông qua việc chi phối tâm trí và cơ thể.

Cathexis liên kết chính là năng lượng tinh thần động. Chúng ta phải cho phép năng lượng này định hướng cho cuộc sống của mình.

Cathexis tự do chính là năng lượng của cơ thể và thật đáng tiếc là năng lượng này luôn bị chi phối bởi Cathexis lỏng lẻo hay chính là cái Tôi. Chúng ta phải rèn luyện về mặt tâm lý để Cathexis liên kết có thể thâm nhập vào các hoạt động và chi phối, điều khiển Cathexis tự do.

CÁI CHẾT HUYỀN HỌC

Chúng tôi đã rất khổ với các thành viên của phong trào Gnosis. Nhiều người đã thề sẽ trung thành trước bàn thờ ở những Lumisial [36], đã long trọng hứa sẽ rèn luyện với Công việc Vĩ đại này cho đến khi đạt được sự khai ngộ hoàn toàn của Bản thể, nhiều người đã khóc lóc và thề thốt rằng họ sẽ không bao giờ rời bỏ phong trào Gnosis nhưng đau đớn thay, mọi thứ đều chỉ là hão huyền. Hầu hết tất cả mọi người đều trốn chạy, họ trở thành kẻ thù, họ chửi rủa, tà dâm, ngoại tình và đi vào con đường tà đạo. Sự thật là những mâu thuẫn khủng khiếp này nảy sinh là do nền tảng tồi tệ và bi thảm của con người. Nền tảng đó chính là tính đa nguyên của cái Tôi, của Cathexis lỏng lẻo ở bên trong chúng ta.

[36] Lumisial là tên gọi của các thánh đường nhỏ thuộc trường phái Gnosis.

Cần phải biết rằng cái Tôi là một tổng thể của năng lượng tinh thần, Cathexis lỏng lẻo. Chúng sinh sôi nảy nở ở các tầng thú tính hạ cấp của con người. Mỗi Cathexis lỏng lẻo là một cái Tôi nhỏ với sự tự-lập ở một mức độ nhất định.

Những cái Tôi này hay những Cathexis lỏng lẻo này tranh đấu với nhau. Cái Tôi lý trí nói rằng “tôi phải đọc báo”. Cái Tôi vận động thì tranh cãi rằng “tôi sẽ đạp xe”. Cái Tôi của quá trình tiêu hóa lại nói rằng “tôi thấy đói”. Cái Tôi của quá trình trao đổi chất thì nói “tôi thấy lạnh”. Còn để bảo vệ bất kỳ Cathexis lỏng lẻo nào thì cái Tôi giận dữ thốt lên rằng “không ai có thể cản trở tôi được”.

Kết luận là cái Tôi chính là một quân đoàn của những Cathexis lỏng lẻo. Những Cathexis lỏng lẻo này đã được Franz Hartmann nghiên cứu. Chúng sống ở tầng thú tính hạ cấp của con người; chúng ăn, ngủ, sinh sản và sống bằng năng lượng của chúng ta, hay là Cathexis tự do – động năng của cơ bắp và hệ thần kinh. Cathexis lỏng lẻo chính là tổng thể các cái Tôi. Các cái Tôi tự phóng chiếu lên những cấp độ khác nhau của tâm trí và du hành khắp mọi nơi, khao khát được thỏa mãn những ham muốn của nó. Cái Tôi, Cathexis lỏng lẻo, không bao giờ có thể tự hoàn thiện bản thân.

Con người là một thành phố với chín cánh cổng. Nhiều công dân sống trong thành phố này nhưng họ thậm chí không biết nhau. Mỗi công dân này, mỗi cái Tôi nhỏ bé này, đều có những kế hoạch riêng và tâm trí riêng; đó là những thương nhân mà Chúa Giê-su đã phải đuổi ra khỏi Đền thờ bằng đòn roi của ý chí [37]. Những thương nhân đó phải bị giết chết.

[37] Chúa Giê-su đuổi các thương nhân ra khỏi đền thờ – Kinh Thánh, Giăng 2:13-21.

Bây giờ chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao lại có rất nhiều mâu thuẫn nội tại trong mỗi cá nhân. Chừng nào Cathexis lỏng lẻo còn tồn tại, thì chừng đó ta vẫn không có bình yên. Cái Tôi là hậu quả tất yếu của tất cả những mâu thuẫn nội tâm. Cái Tôi mà thề trung thành với Gnosis sẽ lại bị thay thế bằng cái Tôi khác căm ghét Gnosis. Tóm lại, con người là một sinh vật vô trách nhiệm không có trọng tâm cố định. Con người là một sinh vật chưa hoàn thiện!

Con người chưa phải là một con người đích thực mà chỉ là một thú vật trí năng. Việc gọi đội quân của cái Tôi là “linh hồn” là một sai lầm nghiêm trọng. Thực sự thì con người có vật liệu tâm lý trong Phật tính của mình, có vật liệu cho linh hồn nhưng chưa có linh hồn.

Các sách Phúc âm nói rằng: “Có ích gì khi bạn chinh phục được cả thế giới nhưng lại đánh mất đi linh hồn của chính mình?” Chúa Giê-su đã nói với Ni-cô-đem rằng một người cần phải được sinh ra từ nước và thánh linh để có được một linh hồn đích thực. Chúng ta không thể tạo nên một linh hồn nếu không trải qua cái chết huyền học.

Chỉ với cái chết của cái Tôi, chúng ta mới có thể thiết lập một trung tâm ý thức cố định bên trong Phật tính của mình. Trung tâm này chính là linh hồn [tiếng Anh: soul]. Chỉ một người có linh hồn mới có thể có được mục đích liên tục thực sự. Chỉ một người có linh hồn mới có thể loại bỏ được những mâu thuẫn nội tâm và đạt được sự bình an thực sự ở bên trong.

Cái Tôi lãng phí chất liệu tâm lý và Cathexis một cách ngu ngốc vào các cơn sân hận, lòng tham, dục vọng, lòng đố kỵ, sự tự mãn, thói lười biếng, tính háu ăn, v.v. Tất nhiên là chừng nào chất liệu tâm lý và Cathexis không được tích lũy thì chừng đó linh hồn vẫn không được tạo ra. Để tạo ra một thứ gì đó, người ta cần có chất liệu thô. Không có chất liệu thô thì không thể tạo ra được cái gì cả, bởi vì không thể tạo nên bất cứ cái gì từ con số không.

Khi cái Tôi bắt đầu chết đi thì chất liệu thô bắt đầu được tích lũy. Khi chất liệu thô bắt đầu được tích lũy thì trung tâm ý thức cố định sẽ bắt đầu được hình thành. Khi cái Tôi hoàn toàn chết đi thì trung tâm ý thức cố định sẽ hoàn toàn được thiết lập.

Chất liệu tâm lý được tích lũy khi cái Tôi chết đi bởi khi đó không còn ai để phung phí năng lượng nữa. Theo cách này, trung tâm ý thức cố định sẽ được thiết lập. Trung tâm kỳ diệu đó chính là linh hồn.

Chỉ những người đã có trung tâm ý thức cố định thì mới có thể trung thành với Gnosis và duy trì mục tiêu liên tục. Những người không có trung tâm này có thể ủng hộ Gnosis hôm nay nhưng chống lại Gnosis ngày mai, hôm nay đi theo trường phái này, ngày mai lại đi theo trường phái khác. Loại người này không thực sự tồn tại.

Cái chết huyền học là một khía cạnh gian khổ và khó khăn của Biện chứng Tâm thức.

Cathexis lỏng lẻo bị tan rã trên cơ sở thấu hiểu một cách kỹ càng. Tương tác của chúng ta với những người xung quanh hay cách chúng ta đối nhân xử thế chính là tấm gương để chúng ta có thể nhìn nhận chính mình một cách toàn diện. Khi đối xử với người khác, những khuyết điểm tiềm ẩn của chúng ta sẽ lộ ra và phát tác mạnh mẽ. Nếu cảnh giác chúng ta sẽ thấy được những khuyết điểm đó.

Mọi khiếm khuyết trước tiên cần được phân tích bằng lý trí và sau đó tìm hiểu thông qua thiền.

Nhiều người đạt được sự khiết tịnh hoàn hảo và sự thánh thiện tuyệt đối trong thế giới vật chất nhưng khi bị thử thách trong các cõi siêu việt thì hóa ra họ là những kẻ tà dâm khủng khiếp và những tội nhân đáng sợ. Mặc dù đã loại bỏ được những khiếm khuyết của mình trong thế giới vật chất nhưng họ vẫn tiếp tục duy trì Cathexis lỏng lẻo ở những cấp độ khác của tâm trí.

Khi một khiếm khuyết được thấu hiểu trong tất cả các cấp độ của tâm trí, Cathexis lỏng lẻo của nó sẽ tan rã, hay nói một các khác là một cái Tôi nhỏ sẽ chết.

Ta cần phải chết đi trong từng khoảnh khắc. Tâm hồn được sinh ra khi cái Tôi chết đi. Chúng ta cần cái Tôi đa nguyên chết đi hoàn toàn để Cathexis liên kết, Bản thể, có thể hiển hiện.

LÀM TAN RÃ CATHEXIS LỎNG LẺO

Chỉ bằng cách nghiên cứu tỉ mỉ Cathexis lỏng lẻo, cái Tôi, chúng ta mới có thể làm tan rã nó một cách toàn diện.

Chúng ta phải tỉ mỉ quan sát các quá trình suy nghĩ, các chức năng của ham muốn, những thói quen định hình nên tính cách, những ngụy biện gây phân tâm, sự lừa dối của cái Tôi và những bản năng tình dục của chúng ta. Chúng ta phải nghiên cứu phản ứng của chúng trước những tác động bên ngoài và quan sát cách chúng liên kết với nhau.

Bằng cách thấu hiểu tất cả các quá trình của Cathexis lỏng lẻo, của cái Tôi đa nguyên, chúng ta có thể làm tan rã nó. Sau đó, chỉ còn lại là phần thiêng liêng, sẽ được thể hiện thông qua và ở bên trong chúng ta.

SỰ CẨU THẢ

Sự cẩu thả và bất cẩn dẫn con người ta đến thất bại.

Sự cẩu thả trong tiếng Latin là “nec legere” [38]. Tức là không chọn lựa, là đầu hàng trước thất bại.

[38] “nec legere” là từ gốc cửa “neglegence” trong tiếng Anh, dịch sang tiếng Việt là “sự cẩu thả”.

Cẩu thả là đặc tính của cái Tôi và trái ngược với nó là trực giác, đặc tính của Bản thể. Cái Tôi không có khả năng chọn lựa hay phân biệt, nhưng Bản thể thì có.

Chỉ bằng cách trở thành sự hiện thân sống của Biện chứng Tâm thức thì chúng ta mới có thể học được cách “chọn lựa” để không còn bị thất bại trong cuộc sống.

[Đoạn 401-500]

GIAO DỊCH

99% suy nghĩ của con người là tiêu cực và có hại. Tình trạng chúng ta hiện giờ là kết quả của các quá trình trong tâm trí chúng ta.

Nếu muốn hiểu đúng về danh tính, giá trị và hình ảnh của bản thân thì chúng ta nên tự khám phá tâm trí của chính mình.

Cái khó của việc phân tích nội tâm sâu sắc nằm ở “sự chuyển di ngược”. Khó khăn này có thể được loại bỏ thông qua phân tích cấu trúc và phân tích giao dịch.

Điều quan trọng là phải tách biệt và làm tan rã những cấu trúc tâm lý không mong muốn đã hằn sâu trong tâm trí chúng ta qua những chấn thương tâm lý.

Phân tích cấu trúc và phân tích giao dịch nên được kết hợp một cách khôn khéo trong việc khám phá cái Tôi.

Một cấu trúc tâm lý cần được phân tách trước khi nó có thể hoàn toàn tan rã.

ĐẶC TÍNH TÂM LÝ CHÍNH

Tất cả mọi người đều hoạt động một cách hoàn toàn máy móc. Những kẻ vô thức, họ hoạt động với ý thức đang ngủ mê, họ sống trong trạng thái say ngủ mà không biết mình đến từ đâu hay đang đi đến đâu; họ đều đang bị thôi miên rất sâu.

Đây là một trạng thái thôi miên tập thể và len lỏi vào mọi ngõ ngách của tự nhiên. Nó bắt nguồn từ cơ quan Kundabuffer ghê tởm. Chủng tộc này [39] đang bị thôi miên, vô thức và đắm chìm trong giấc ngủ sâu nhất.

[39] Chủng tộc này – mỗi thời đại trên lịch sử phát triển của Trái Đất có một chủng tộc khác nhau. Từ “chủng tộc” ở đây chỉ tất cả, hoặc hầu như tất cả còn người trên Trái Đất tại thời điểm đó, chứ không phải là các dân tộc nhỏ ở từng địa phương riêng lẻ. Ở đây tác giả đang nói về chủng tộc Aryan. Vào thời Chiến tranh thế giới thứ hai, đảng Nazi ở Đức đã nói rằng chủng tộc Aryan là những hậu duệ của người Tây Tạng, hiện đang sống ở Bắc Âu. Đây chỉ là một ý tưởng viển vông và không có liên quan gì đến thực tế.

Ta chỉ có thể thức tỉnh bằng cách tiêu diệt cái Tôi. Chúng ta phải nhận biết hết sức rõ ràng những điều chúng ta đã nói nhiều lần về Đặc tính Tâm lý Chính (ĐTTLC) của mỗi người.

Chắc chắn rằng mỗi người có một đặc tính tâm lý chính riêng, thật vậy. Một số người có đặc tính chính là dục vọng, một số người khác là lòng hận thù, những người khác nữa thì là lòng tham, v.v. Đặc tính này là tổng hợp của một số yếu tố tâm lý đặc trưng cụ thể.

Mỗi Đặc tính Tâm lý Chính luôn gắn với một sự kiện nhất định hay một tình huống cụ thể nào đó. Giả sử có một người đầy dục vọng. Cuộc sống của người đó sẽ luôn có những hoàn cảnh mang tính dục vọng đi kèm với những vấn đề cụ thể. Những tình huống này sẽ luôn lặp đi lặp lại.

Chúng ta cần biết Đặc tính Tâm lý Chính của mình nếu muốn chuyển sang một cấp độ cao hơn của Bản thể và loại bỏ khỏi bản thân những yếu tố không mong muốn đã tạo nên đặc tính tâm lý này.

Sự gián đoạn của tự nhiên [40] là một thực tế cụ thể trong cuộc sống và điều này là hiển nhiên. Mọi hiện tượng đều không liên tục, và điều này có nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ đạt đến sự hoàn hảo nhờ vào quá trình tiến hóa được. Chúng ta cần phải trở thành những Con người Thái Dương [41] đúng nghĩa của nó.

[40] Tính gián đoạn của tự nhiên – hãy tham khảo hai bài viết này về định luật của quãng tám: Chương 7 – Hành trình tìm kiếm điều diệu kỳDòng âm thanh.
[41] Con người Thái Dương: Xem định nghĩa về Dương thân.

Một người phụ nữ tử tế và khiêm tốn thì ở cấp độ [Bản thể] khác với một người phụ nữ phóng đãng và khiếm nhã. Có nhiều cấp độ khác nhau của Bản thể.

Chúng ta đã nhận ra cấp độ tâm thức của chính mình chưa? Tâm thức chúng ta hiện đang ở cấp độ nào? Chúng ta có ý thức được rằng mình đang bị thôi miên và đang ngủ mê không?

Loài động vật trí năng không chỉ đồng hóa bản thân với những thứ bên ngoài mà còn đồng hóa với chính mình, với những suy nghĩ đầy dục vọng của mình, với cơn say xỉn, với sự tức giận, với lòng tham lam, với sự tự cao, với lòng tham chạy theo hư danh, với sự tự mãn về trình độ huyền học, với công đức của bản thân, v.v.

Liệu chúng ta đã bao giờ suy ngẫm rằng mình không chỉ đồng hóa bản thân với thế giới bên ngoài mà còn cả với lòng tham chạy theo hư danh và sự tự mãn chưa? Ví dụ: Hôm nay chúng ta đã chiến thắng! Nhưng liệu ta đã chiến thắng ngày nay hay ngày nay đã chiến thắng chúng ta vậy? Ta có chắc rằng ta đã không đồng hóa bản thân với một suy nghĩ bệnh hoạn, tham lam, tự mãn nào, hay với một lời xúc phạm, một mối bận tâm, hoặc một món nợ nào đó v.v. hay không? Ta có chắc rằng mình đã đánh bại ngày nay hay sự thật là ngày nay đã đánh bại chúng ta?

The Ladder of Divine AscentSaint Catherine’s Monastery

Hôm nay chúng ta đã làm gì? Chúng ta đã nhận thấy mình đang ở cấp độ Bản thể nào chưa? Chúng ta đã chuyển sang một cấp độ Bản thể cao hơn hay chúng ta vẫn đang ở nguyên vị trí cũ?

Có lẽ nào chúng ta lại tin rằng mình có thể tiến lên một cấp độ Bản thể cao hơn mà không loại bỏ những khiếm khuyết tâm lý cụ thể? Lẽ nào chúng ta hài lòng với cấp độ Bản thể hiện tại của mình? Nếu chúng ta định chỉ ở trong một cấp độ Bản thể suốt cả cuộc đời thì chúng ta đang làm cái gì vậy?

Mỗi cấp độ của Bản thể đều có những nỗi đắng cay đau khổ khác nhau. Đây là điều hiển nhiên. Mọi người đều phàn nàn rằng họ đang đau khổ, rằng họ có vấn đề, mọi người than phiền về hiện trạng và về những khó khăn của họ. Do vậy, tôi muốn hỏi một điều, liệu động vật trí năng đây có quan tâm đến việc tiến lên một cấp độ Bản thể cao hơn hay không?

Chúng ta có muốn thay đổi không? Chúng ta có muốn hết mọi phiền muộn về những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, tâm linh, gia đình, dục vọng, v.v., hay không? Chúng ta có muốn tránh những khó khăn không? Nếu muốn vậy thì chúng ta không có cách nào khác ngoài việc phải chuyển sang một cấp độ Bản thể cao hơn.

Rõ ràng là chừng nào chúng ta còn ở cấp độ Bản thể hiện tại thì tất cả những hoàn cảnh bất lợi mà chúng ta đã trải qua và tất cả những cay đắng mà chúng ta đang chịu chắc chắn sẽ còn lặp lại. Những khó khăn giống hệt nhau sẽ lặp đi lặp lại.

Mỗi bước tiến lên một cấp độ cao hơn của Bản thể, chúng ta càng được tự do khỏi các sức mạnh điều khiển của cathexis lỏng lẻo.

Loài vật trí năng muốn thoát khỏi khổ đau nhưng lại không làm gì để thay đổi; nó không đấu tranh để tiến lên một cấp độ cao hơn của Bản thể, vậy thì làm sao nó có thể thay đổi được?

Do đó, nếu không biết được đặc tính tâm lý chính của mình thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều vấn đề. Chúng ta cần biết đặc tính này nếu muốn tiến đến một cấp độ cao hơn của Bản thể và loại bỏ khỏi bản thân mình những yếu tố không mong muốn đã tạo nên đặc tính tâm lý chính này. Nếu không thì làm sao ta có thể tiến đến một cấp độ cao hơn của Bản thể được?

Mọi hiện tượng đều không liên tục; học thuyết Tiến hóa không mang lại lợi ích gì ngoại trừ việc làm chúng ta trở nên trì trệ. Tôi biết nhiều người theo thuyết giả huyền học, những người chân thành và có trái tim nhân hậu, họ bị mắc kẹt trong học thuyết Tiến hóa, họ đợi chờ thời gian làm họ trở nên hoàn hảo, và hàng triệu năm đã trôi qua nhưng họ chưa bao giờ hoàn thiện được chính mình. Tại sao lại thế? Bởi vì những người như vậy không làm gì để thay đổi cấp độ của Bản thể, họ mãi đứng im trên một nấc thang.

Vì thế nên chúng ta cần phải vượt ra khỏi thuyết Tiến hóa và đi vào con đường của chuyển hóa, con đường Chuyển hóa Ý thức hay Biện chứng Tâm thức.

Tiến hóa và Thoái hóa là hai quy luật diễn ra đồng thời trong tất cả tạo hóa, hai quy luật này tạo thành trục cơ học của tự nhiên nhưng sẽ không bao giờ dẫn chúng ta đến được sự giải thoát.

Các luật Tiến hóa và Thoái hóa đều mang tính vật chất và không liên quan gì đến sự khai ngộ nội tâm của Bản thể. Chúng ta không phủ nhận sự tồn tại của hai quy luật này nhưng chúng không có tác dụng cho việc chuyển hóa tâm lý. Chúng ta cần chuyển hóa, chúng ta cần phải đi vào con đường chuyển hóa ý thức.

Làm sao có thể tiến lên một mức độ cao hơn của Bản thể nếu chúng ta không chuyển hóa [tâm thức]? Hãy để ý các bậc của một cái thang, chúng hoàn toàn rời rạc, các mức độ tỉnh thức của Bản thể cũng tương tự như vậy.

Mỗi cấp độ của Bản thể có một số hoạt động cụ thể. Để tiến lên một mức độ tỉnh thức cao hơn thì chúng ta phải có một cú nhảy vọt và từ bỏ tất cả các hoạt động ở cấp độ tỉnh thức thấp hơn.

Tôi vẫn còn nhớ những quãng thời gian đã qua trong đời mình, từ hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm trước. Tại sao? Bởi vì tôi đã đạt được những cấp độ tỉnh thức cao hơn. Đó là điều quan trọng nhất đối với tôi.

Các hoạt động của tôi trong thời kì đó đã bị đình chỉ, bị cắt đứt, bởi vì ở những nấc thang cao hơn của Bản thể có những hoạt động hoàn toàn khác.

Để tiến tới một cấp độ tỉnh thức cao hơn, một người phải bỏ lại phía sau nhiều thứ ở cấp độ tỉnh thức hiện tại, những thứ mà chúng ta hiện đang coi trọng.

Do đó, việc chuyển sang một cấp độ tỉnh thức khác phải có một bước nhảy vọt. Đây là một bước nhảy bội nghịch. Nó không bao giờ là bước tiến triển từ từ mà luôn mang tính cách mạng, biện chứng.

Có những người vô tích sự lại cảm thấy mình như một vị thần; đây là loại người mê muội điên cuồng tồi tệ nhất. Những người tự nhận mình là một nhà hiền triết chỉ vì trong đầu họ có một số giáo lý giả huyền học, những người nghĩ rằng mình là một điểm đạo đồ vĩ đại, là những kẻ đã rơi vào cơn mê muội điên cuồng và tự cao tự đại.

Mỗi người chúng ta chẳng qua chỉ là một con sâu hèn hạ trong bùn đất; khi nói về điều này thì tôi đang bắt đầu từ chính mình. Khi chỉ nghĩ về bản thân, khi huyễn tưởng hay ảo tưởng về bản thân, thì có nghĩa là chúng ta vẫn đang ở trong những tầng hạ cấp của Bản thể.

Người ta đồng nhất với bản thân khi nghĩ rằng mình sắp sửa có nhiều tiền, có xe đời mới, hoặc rằng người yêu đang yêu mình say đắm, khi tự cho rằng mình là một người vĩ đại hoặc một nhà hiền triết. Có nhiều cách mà một người có thể bị đồng nhất với bản thân. Chúng ta phải bắt đầu bằng việc không đồng nhất với bản thân, và sau đó là không đồng nhất với những thứ bên ngoài.

Ví dụ, khi một người không đồng nhất [bản thân] với kẻ đã xúc phạm mình, khi họ tha thứ và yêu thương người đó, thì kẻ xúc phạm đó không thể làm tổn thương họ; và nếu ai đó làm tổn thương lòng tự ái của một người khác, nhưng nếu người đó không đồng nhất bản thân với lòng tự ái thì rõ ràng là họ sẽ không hề cảm thấy đau đớn vì điều này không thể làm tổn thương họ.

Nếu một người không đồng nhất bản thân với hư danh thì người đó sẽ không ngại mặc quần vá khi đi ra ngoài đường. Tại sao? Bởi vì họ không đồng nhất bản thân mình với hư danh.

Nếu chúng ta đồng nhất với chính bản thân mình và sau đó đồng nhất mình với sự phù phiếm của thế giới bên ngoài, thì chúng ta không thể biết tha thứ. Hãy nhớ lại Kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con”. Nhưng tôi phải nói thêm là, nếu chúng ta chỉ tha thứ thôi thì vẫn chưa đủ. Chúng ta còn phải xóa bỏ những món nợ. Có người có thể tha thứ cho kẻ thù nhưng lại không bao giờ xóa bỏ những món nợ. Chúng ta cần phải chân thành, chúng ta cần phải xóa nợ.

Phúc Âm của Đức Chúa cũng nói: “Phước cho những ai nhu mì [42], vì họ sẽ thừa hưởng đất” [43]. Đây là một câu nói mà chưa ai hiểu được. Chúng ta có thể nói là phước cho những người không oán hận. Nếu một người oán hận thì làm sao họ có thể nhu mì được? Một người oán hận luôn luôn tính toán: “Chính tôi đã ban cho anh ta rất nhiều ân huệ. Tôi đã bảo vệ anh ta, tôi đã cứu tế anh ta với nhiều nghĩa cử nhân ái và hãy nhìn xem người này đã trả ơn tôi như thế nào. Tôi đã giúp đỡ anh ta nhiều như vậy mà hiện giờ anh ta không giúp tôi!”. Đây là những “tính toán” của người đầy oán hận.

[42] nhu mì: Trong xã hội hiện đại, từ “nhu mì” hay bị hiểu lầm thành hiền lành, “nhu nhược” và thiếu quyết đoán. Cách dùng này thường kèm theo một cảm giác hơi tiêu cực đối với từ “nhu mì”. Tuy nhiên, từ “nhu mì” theo đúng nghĩa chỉ một tính cách hiền lành, ôn hòa, biết cảm thông, thương xót người khác, đón nhận những tổn thương mà người khác gây ra cho mình mà không cay đắng, oán hận. Một người nhu mì thường yêu hòa bình, công lý và có khả năng bày tỏ lẽ thật bằng tình yêu. Người nhu mì không nhu nhược.

[43] Phước cho… câu này trích từ Thuyết giảng Trên Núi.

Làm sao người ta có thể nhu mì được khi trong lòng họ chứa đầy oán hận? Người đầy lòng oán hận thì luôn luôn sống trong tính toán, vì vậy, họ không thể nhu mì. Làm sao họ có thể được ban phước đây?

Ta nên hiểu Phước là gì? Ta nên hiểu Hạnh phúc là gì? Chúng ta có chắc rằng mình đang hạnh phúc không? Ai đang hạnh phúc? Tôi đã nghe những người nói rằng: “Tôi hạnh phúc! Tôi bằng lòng với cuộc sống của mình! Tôi rất vui!” Nhưng tôi cũng đã nghe chính những người này nói: “Người này người kia đang làm tôi phiền lòng! Tôi không ưa kẻ đó! Tôi không biết tại sao tôi không thể có được những gì tôi hằng mong ước!”

Vì vậy, họ không hạnh phúc, thực ra họ là những kẻ đạo đức giả, thế thôi.

Đạt tới hạnh phúc là rất khó, để làm được vậy trước hết ta cần phải nhu mì.

Từ “Chân phúc” có nghĩa là hạnh phúc bên trong, không phải trong vòng một nghìn năm sau mà là ngay bây giờ, ngay tại đây, ngay trong từng thời khắc mà chúng ta đang sống.

Nếu thực sự trở nên nhu mì bằng cách không đồng nhất bản thân thì chúng ta sẽ có được hạnh phúc. Nhưng điều cần thiết không chỉ là không đồng nhất mình với những suy nghĩ về dục vọng, căm ghét, báo thù, ác ý, oán hận, mà chúng ta còn phải loại bỏ khỏi bản thân mình những con Quỷ đỏ của Seth, những cấu trúc tâm lý đã nhân cách hóa các khiếm khuyết tâm lý của chúng ta.

Ví dụ, chúng ta phải hiểu rõ quá trình oán hận xảy ra như thế nào, chúng ta phải mổ xẻ nỗi oán hận. Khi đi đến kết luận rằng oán hận xuất phát từ lòng tự ái bên trong thì chúng ta sẽ đấu tranh để loại bỏ cái Tôi của lòng tự ái. Nhưng chúng ta phải hiểu về lòng tự ái để có thể loại bỏ nó. Chúng ta không thể loại bỏ được lòng tự ái nếu chưa thấu hiểu nó.

Để có thể loại bỏ [lòng tự ái], chúng cần có Devi Kundalini Shakti, chỉ Người mới có thể làm tan rã mọi khiếm khuyết tâm lý bao gồm cả cái Tôi của lòng tự ái.

Chúng ta có chắc rằng mình không hề oán hận một ai không? Ai trong chúng ta có thể chắc chắn rằng mình đang không oán hận và không tính toán về một món nợ nào đó không? Ai?

Nếu muốn thoát khỏi sự máy móc của Mặt Trăng, chúng ta phải loại bỏ khỏi bản thân mình cái Tôi của lòng oán hận và sự tự ái. Khi hiểu được điều này thì ta sẽ tiến bước trên con đường dẫn đến sự giải thoát cuối cùng.

Chỉ bằng cách dùng ngọn lửa của Thần Bạch Dương, Con Chiên, con Cừu hiện thể, của Đức Kitô nội tâm, chúng ta mới có thể thực sự đốt cháy được những yếu tố phi nhân tính ở bên trong; và khi tâm thức được giải phóng thì chúng ta sẽ thức tỉnh.

Tổng thể của các cấu trúc tâm lý cấu thành nên “bản thân mình”, cái Tôi, cathexis lỏng lẻo. Chừng nào tâm thức vẫn tiếp tục bị giam hãm bởi các cấu trúc tâm lý này, thì chừng đó nó vẫn chưa thể thức tỉnh. Chúng ta cần phải trải qua Cái chết Huyền học ngay bây giờ và ở đây. Chúng ta cần phải chết đi trong từng khoảnh khắc; chỉ với cái chết thì những gì mới mẻ mới đến. Nếu mầm không chết đi thì cây sẽ không thể nảy nở. Chúng ta cần học cách sống, học cách giải phóng mình khỏi những gì đã kế thừa từ Mặt Trăng.

PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN

Trước khi biết và loại bỏ đặc tính tâm lý chính, chúng ta nên tăng cường rèn luyện một cách tổng thể trên tất cả các khiếm khuyết, vì đặc tính tâm lý chính có nguồn gốc sâu xa từ các kiếp trước. Để biết được gốc của nó, chúng ta cần rèn luyện không mệt mỏi với một phương pháp cụ thể trong vòng ít nhất năm năm.

Chúng ta cần rèn luyện một cách tuần tự và chính xác trong việc loại bỏ các khiếm khuyết. Ví dụ trong một ngày, các khiếm khuyết về dục vọng hiện lên vào buổi sáng, tự mãn vào buổi chiều, và tức giận vào buổi tối. Rõ ràng là chúng ta đang nhìn thấy một chuỗi các sự kiện và biểu hiện [của cái Tôi]. Thế nên ta tự đặt câu hỏi: “Mình nên làm việc với khiếm khuyết nào trong ngày, và làm như thế nào?

Thực ra câu trả lời rất đơn giản. Vào buổi tối hoặc vào giờ thiền, khi đã thả lỏng cơ thể, chúng ta bắt đầu thực hành bài tập hồi tưởng về các sự kiện và biểu hiện của cái Tôi trong ngày hôm đó. Sau khi đã tái hiện, sắp xếp và đánh thứ tự cho những sự kiện đó, chúng ta sẽ tiến hành quá trình thấu hiểu.

Trước tiên, ta có thể dành ra khoảng hai mươi phút làm việc với một sự kiện liên quan đến [cái Tôi] kiêu ngạo; sau đó dành ra mười phút cho một sự kiện tâm lý khác; rồi mười lăm phút cho một biểu hiện khác nữa. Tất cả phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và cường độ của các sự kiện của cái Tôi này.

Sau khi đã sắp xếp các sự kiện và biểu hiện của cathexis lỏng lẻo, của “bản thân mình”, ta có thể làm việc với chúng vào buổi tối hoặc trong giờ thiền, một cách điềm tĩnh và tuần tự theo phương pháp.

Mỗi khi làm việc với một khiếm khuyết, một sự kiện hay biểu hiện nào đó, hãy đi theo các yếu tố sau: khám phá, phán quyết, và hành hình. Ba yếu tố này được áp dụng vào mỗi cấu trúc tâm lý theo cách sau: Khám phá, là khi thấy khiếm khuyết đó trong hành động và biểu hiện. Phán quyết, hoặc thấu hiểu, là khi biết rõ mọi gốc rễ của nó. Hành hình, với sự giúp đỡ của Đức Mẹ Kundalini, thông qua việc thực hành Siêu Động Lực Tình Dục một cách sáng suốt.

NHỮNG NGỤY BIỆN PHÂN TÂM

Ngụy biện là những lý luận giả dối khiến chúng ta sai lầm, nó được nuôi dưỡng bởi cái Tôi trong bốn mươi chín cấp độ của tiềm thức.

Tiềm thức là hầm mộ của quá khứ, nơi ngọn lửa của những suy nghĩ khờ dại đang bùng cháy và những ngụy biện phân tâm đang được ấp ủ. Những thứ này mê hoặc động vật trí năng và đưa tâm thức vào giấc ngủ mê.

Bên trong hầm mộ [tiềm thức] là sự mục nát và những bộ xương người chết. Thế nhưng tấm bia mộ lại đẹp đẽ làm sao. Trên đó là ngọn lửa lý trí đang cháy với vẻ nguy hiểm chết người.

Nếu muốn làm tan rã cái Tôi thì chúng ta phải đào bới hầm mộ của tiềm thức và khai quật mọi bộ xương thối rữa của quá khứ. Hầm mộ đó bên ngoài thì rất đẹp, nhưng bên trong thì bẩn thỉu và gớm ghiếc; chúng ta cần trở thành những người đào mộ.

Hành động xúc phạm, làm tổn thương, làm nhục người khác, là việc rất dễ xảy ra khi một người cho rằng mình làm điều này để sửa người khác cho tốt hơn. Những người nóng tính hay nghĩ như vậy. Họ tin rằng mình không căm ghét ai, nhưng sự thật là họ đang căm ghét mà không biết.

Có nhiều người vật lộn trong cuộc sống để được giàu có. Họ làm việc, tiết kiệm, và cố gắng tỏa sáng trong mọi lĩnh vực, nhưng động lực thầm kín cho mọi hành động của họ lại là lòng đố kị. Tuy nhiên, lòng đố kị này lại được lờ đi, nó không bộc lộ ra ngoài, và vẫn ẩn náu trong hầm mộ của tiềm thức.

Trong cuộc sống, rất khó để tìm được một người không hề ghen tị với một căn nhà đẹp, một chiếc xe mới, với một người lãnh đạo thông minh, một bộ vest đẹp, một địa vị xã hội cao, một khối tài sản kếch xù, v.v.

Hieronymus Bosch
Bảy đại tội. Tranh: Hieronymus Bosch

Hầu như những nỗ lực lớn nhất của con người đều do lòng ghen tị ngấm ngầm thúc đẩy.

Nhiều người có khẩu vị lành mạnh và căm ghét thói háu ăn, nhưng lại luôn ăn nhiều hơn bình thường.

Nhiều người khinh miệt tính ghen tuông nhưng lại theo dõi vợ hoặc chồng của mình một cách quá mức.

Nhiều người căm ghét những lời tán dương xu nịnh, nhưng với “lòng khiêm tốn ấy”, họ lại không ngại nhục mạ một nhà thơ nghèo đang làm thơ cho họ để kiếm một vài xu mua bánh mì.

Nhiều học trò của một số trường phái giả huyền học và giả bí truyền khinh miệt mọi thứ trên đời này và không rèn luyện gì cả vì họ tin rằng mọi thứ đều chỉ là hư ảo. Thế nhưng họ lại khăng khăng bảo vệ các đức hạnh của mình và không bao giờ chấp nhận người khác coi họ là lười biếng.

Nhiều quan tòa biết cách làm tròn nhiệm vụ của mình, nhưng cũng không ít người đã sát hại người khác dưới cái mác nhiệm vụ. Nhiều người đã rơi đầu trên máy chém của cuộc Cách mạng Pháp.

Tất cả những tên đao phủ đều làm tròn nhiệm vụ của mình và hàng triệu người đã là nạn nhân vô tội của những tên đao phủ ấy. Không một tên đao phủ nào cảm thấy có lỗi, tất cả bọn họ đều đang làm tròn nhiệm vụ của mình mà thôi.

Trong nhà tù có rất nhiều người vô tội nhưng các thẩm phán không cảm thấy tội lỗi vì họ đang làm tròn nhiệm vụ của mình.

Có những bậc cha mẹ đánh đập con nhỏ trong cơn giận mà không hề cảm thấy hối hận vì họ cho rằng mình đang làm tròn bổn phận, và họ sẵn sàng chấp nhận toàn bộ miễn là không bị coi là tàn nhẫn.

Chỉ với một tâm trí yên tĩnh và im lặng chìm sâu trong thiền thì chúng ta mới có thể đi vào hầm mộ của tiềm thức và khai quật lên tất cả những thứ thối nát thầm kín ở bên trong. Thật không dễ chịu gì khi nhìn thấy một hầm mộ đen tối chứa đầy những bộ xương đã mục nát của quá khứ.

Mỗi khiếm khuyết ẩn giấu bên trong hầm mộ đều bốc mùi kinh khủng, nhưng một khi nhìn thấy được nó, ta sẽ có thể dễ dàng thiêu đốt nó và biến nó thành tro bụi.

Ngọn lửa của sự thấu hiểu tiêu biến quá khứ thối rữa thành tro bụi. Khi phân tích tiềm thức, nhiều người học tâm lý học mắc sai lầm khi phân chia bản thân mình ra thành người đi phân tích và người được phân tích, lý trí và tiềm thức, chủ thể và khách thể, cơ quan nhận thức và những thứ được nhận thức.

Những kiểu phân chia đó là những ngụy biện mà cái Tôi bày ra để làm chúng ta phân tâm. Những kiểu phân chia này tạo ra sự đối kháng và đấu tranh giữa lý trí và tiềm thức, và ở đâu có sự đấu tranh và những cuộc chiến thì ở đó sẽ không thể có sự yên tĩnh và im lặng của tâm trí.

Chỉ trong sự tĩnh lặng của tâm trí, chúng ta mới có thể khai quật tất cả những thứ thối nát của quá khứ trong hầm mộ tối tăm của tiềm thức.

Hãy đừng nói “Cái Tôi của mình có lòng đố kỵ, hận thù, ghen tuông, tức giận, dục vọng, v.v.”, tốt nhất là ta không nên phân chia bản thân mình.Thay vào đó nên nói: “Tôi có lòng đố kỵ, hận thù, ghen tuông, tức giận, dục vọng, v.v.”

SỰ DỐI TRÁ CỦA CÁI TÔI

Khi nghiên cứu kinh sách của Ấn Độ, chúng ta rất hào hứng khi nghĩ về Brahaman tối cao và về sự hợp nhất của Atman với Brahman; nhưng sự thật là chừng nào cái Tôi tâm lý vẫn còn tồn tại với những ngụy biện phân tâm, thì chừng đó chúng ta vẫn sẽ không thể đạt được niềm phúc lạc khi hợp nhất bản thân mình với tâm linh phổ quát của sự sống. Một khi cái Tôi chết đi thì tâm linh phổ quát của sự sống sẽ hiện diện trong chúng ta như ngọn lửa trong chiếc đèn.

Sự dối trá của cái Tôi là thói quen lừa dối vô chừng mực thông qua hàng loạt những cái Tôi.

Bất kỳ người nào cũng có thể mắc sai lầm tự bắn súng vào đầu mình như bất kỳ một kẻ tự sát hèn nhát và ngu ngốc nào, nhưng cái Tôi tâm lý khét tiếng sẽ không bao giờ có thể tự sát.

Những người thuộc tất cả các trường phái giả huyền học đều có những lý tưởng to tát và thậm chí những ý định cao siêu, nhưng tất cả những ý định và lý tưởng đó vẫn chỉ tồn tại trong tư duy chủ quan khốn khổ; tất cả chỉ đến từ cái Tôi mà thôi.

Cái Tôi luôn cố chấp. Đôi khi nó tự tô điểm cho mình bằng những đức hạnh cao đẹp và thậm chí còn khoác lên mình tấm áo choàng thánh thiện.

Khi cái Tôi muốn ngừng tồn tại, nó sẽ không chết đi một cách thờ ơ hay đơn giản. Nó muốn tiếp tục tồn tại dưới một hình thức khác, nó khao khát phần thưởng và hạnh phúc.

Trong thời kỳ cơ giới hóa xã hội, ô tô, máy bay, máy móc của thương hiệu này hay thương hiệu kia, v.v. đều được sản xuất hàng loạt. Mọi thứ đều được sản xuất hàng loạt và ngay cả bản thân cái Tôi cũng được sản xuất hàng loạt.

Chúng ta cần nắm bắt được những chuỗi cái Tôi hàng loạt. Cái Tôi vận hành theo kiểu hàng loạt và cùng với đó là hàng loạt suy nghĩ, tình cảm, mong muốn, thù hận, thói quen, v.v.

Chúng ta biết rất rõ rằng sự phân chia giữa cái Tôi cao cấp và cái Tôi hạ cấp là hoàn toàn sai lầm. Cao cấp và hạ cấp là hai phần của cùng một thứ. Cái Tôi cao cấp và cái Tôi hạ cấp là hai phần của Satan, của cái Tôi.

Hãy để những ai phân chia cái Tôi tiếp tục phân chia cái Tôi của họ thành cao cấp và hạ cấp, hãy để họ yên với lý thuyết của họ và để cái Tôi cao cấp khoác lác và siêu phàm điều khiển cái Tôi hạ cấp khốn khổ.

Liệu một phần của cái Tôi có thể biến phần khác của cái Tôi thành cát bụi hay không? Liệu một phần của “bản thân mình” có thể ra lệnh trục xuất một phần khác của “bản thân mình” hay không?

Điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là khéo léo che giấu những gì không tiện tiết lộ, che giấu sự cố chấp của mình và khoác lên nụ cười như một bậc thánh hiền, đây là sự dối trá của cái Tôi, là thói quen lừa dối. Một phần của “bản thân mình” có thể che giấu một phần khác của nó. Điều này có gì kì lạ không? Con mèo lại chẳng tự giấu đi móng vuốt ư? Đây là sự dối trá của cái Tôi. Bên trong mỗi chúng ta đều có một người Pha-ri-si; vẻ ngoài chúng ta trông rất đẹp nhưng ở bên trong thì mục rữa.

Người Pha-ri-si và người thu thuế

(Còn nữa).


Leave a Reply